MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Phần 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
1.1. Một số vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
5
đất nước và cách mạng công nghiệp lần thứ tư
1.2. Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
5
thời gian qua
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP
14
Phần 2
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRONG ĐIỀU
KIỆN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
2.1. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
2
2
3
4
CNH
CNH, HĐH
KHCN
KT - XH
KTCN
Công nghiệp hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Khoa học công nghệ
Kinh tế - xã hội
Kỹ thuật công nghệ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Kể từ khi Đảng ta đề ra đường lối CNH và lãnh đạo việc tiến hành công
vấn đề cần phải có những giải pháp phù hợp đối với quá trình CNH, HĐH đất
nước hiện nay. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm đề tài nghiên cứu
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3
2. Mục tiêu, nội dung nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
Luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNH, HĐH đất
nước, cách mạng công nghiệp lần thứ tư; trên cơ sở đó đề xuất một số giải
pháp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong điều kiện cách mạng công nghiệp
lần thứ tư.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về CNH, HĐH đất nước, cách
mạng công nghiệp lần thứ tư.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình CNH, HĐH đất nước thời
gian vừa qua.
- Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong điều
kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Quá trình CNH, HĐH đất nước.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: từ năm 2010 đến nay.
- Về không gian: trên phạm vi cả nước.
4. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, đề tài gồm 2 phần (7 tiết), kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo.
xã hội chủ nghĩa. Hội nghị một lần nữa khẳng định: “chúng ta tiến hành công
nghiệp hoá không theo kiểu cũ, không lặp lại sai lầm nóng vội, chủ quan mà
Đại hội VI đã phê phán. Công nghiệp hoá thực chất là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ
trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch
cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng
nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân” [7, tr. 27].
5
Ngày 30 tháng 7 năm 1994, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung
ương khoá VII đã ra NQ số 07-NQ/HNTW về phát triển công nghiệp, công nghệ
đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng
giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, trong đó chỉ rõ: “Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là
chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện,
phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ
KHCN, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [8, tr. 4].
1.1.1.2. Nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Một là, đổi mới, nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ của nền kinh tế
theo hướng hiện đại
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là cuộc cách mạng về lực lượng
sản xuất nhằm chuyển nền kinh tế dựa trên trình độ KTCN thủ công, năng suất
lao động thấp thành nền kinh tế công nghiệp dựa trên trình độ KTCN hiện đại,
năng suất lao động cao. Để thực hiện sự cải biến này phải đổi mới và nâng cao
trình độ KTCN của nền kinh tế theo hướng hiện đại; thực hiện cơ khí hoá, điện
khí hoá, tự động hoá sản xuất.
Đối tượng đổi mới KTCN là tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế
quốc dân. Trong đó, cần chú trọng các ngành sản xuất tư liệu sản xuất, các ngành
động và hợp tác quốc tế sâu rộng. Khi cơ cấu kinh tế này được được hình
thành, nước ta sẽ kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.2. Một số vấn đề lý luận về cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư bắt đầu xuất hiện từ thập niên đầu
tiên của thế kỷ XXI. Khác với các cuộc cách mạng trước kia, cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ tư là sự gắn quyện giữa các nền công nghệ làm xóa đi
ranh giới giữa thế giới vật thể, thế giới số hóa và thế giới sinh học. Đó là các
công nghệ internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, người máy, xe tự lái, in ba chiều,
máy tính siêu thông minh, công xưởng thông minh, công nghệ nano, công
nghệ sinh học...
7
Internet vạn vật (Internet of Things IoT) là hệ thống mạng điện tử mới
dựa trên công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông, không chỉ kết nối
con người với vật thể, con người với con người mà còn kết nối cả vật thể với
vật thể, làm cho máy móc có thể giao tiếp với máy móc trong môi trường
chung đa tầng nấc, đa chiều cạnh thông qua việc sử dụng các công cụ hiện
đại: website, email, điện thoại thông minh, mạng truyền thông xã hội, thiết bị
điện tử, thiết bị số hóa, thiết bị cảm biến siêu cao... Với internet vạn vật,
không gian thực (real sphere) và không gian ảo (virtual sphere); hệ thống vật
thể (physical system) và hệ thống số (digital system) giao hòa với nhau ngày
càng hữu cơ, làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức và vận hành đời sống
xã hội cũng như nền sản xuất - dịch vụ - kinh doanh.
Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) là công nghệ mô phỏng
các quá trình tư duy, nhận thức của con người, trong đó có các quá trình học
tập, phân tích, xử lý, lập luận, dịch thuật, sáng tác, dự báo, tự điều chỉnh...
Hơn nữa, trí tuệ nhân tạo còn mô phỏng được cả một số hành vi của con
người, trong đó chứa đựng trạng thái tinh thần, cảm xúc, khả năng ứng xử phù
thuật thực hiện trên axit nucleic nhằm nghiên cứu cấu trúc của gen; điều chỉnh
và biến đổi gen; tách, tổng hợp và chuyển các gen mong muốn vào các tế bào
sinh vật chủ mới tạo ra các cơ thể mới (thực vật, động vật, vi sinh vật) mang
đặc tính mới. Ngoài ra, công nghệ sinh học hiện đại còn bao gồm công nghệ
tế bào, công nghệ enzym và protein, công nghệ vi sinh vật, công nghệ lên
men, công nghệ môi trường...
1.1.3. Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra cơ hội phát cũng như thách
thức cho mọi quốc gia, nhất là các nước đang phát triển trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam có thể tận dụng được những thành tựu
khoa học - công nghệ mới, có thể “đi tắt, đón đầu”; đồng thời cũng có thể làm
sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn nếu không tận dụng được cơ hội này.
1.1.3.1. Về thời cơ
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang mở ra nhiều cơ hội cho các
9
nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Đây có thể coi là
một cơ hội vàng nhằm thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam, tiến tới thu hẹp
khoảng cách với các nước phát triển. Cụ thể là:
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể tạo ra lợi thế của những nước
đi sau như Việt Nam so với các nước phát triển do không bị hạn chế bởi quy
mô cồng kềnh; tạo điều kiện cho Việt Nam bứt phá nhanh chóng, vượt qua
các quốc gia khác cho dù xuất phát sau.
Việc đi sau và thừa hưởng những thành tựu từ cuộc cách mạng công
nghiệp 4.0 giúp Việt Nam tiết kiệm được thời gian nghiên cứu để phát huy tối
đa các tiềm năng và lợi thế sẵn có.
Việt Nam có cơ hội phát triển nhanh nền kinh tế tri thức, đi tắt, đón
Một là, thách thức trong lĩnh vực giải quyết việc làm: chuyển dịch cơ
cấu lao động trong gần 30 năm qua của Việt Nam rất chậm và chậm hơn nhiều
nếu so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn
dựa nhiều vào các ngành sử dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thiên
nhiên. Trình độ lạc hậu của người lao động và của cả nền kinh tế chính là trở
ngại lớn nhất để chúng ta bắt kịp với các thành tựu khoa học, công nghệ trong
thời đại cách mạng công nghiệp 4.0. Trong tương lai, nhiều lao động trong
các ngành nghề của Việt Nam có thể thất nghiệp, ví dụ như lao động ngành
dệt may, giày dép.
Hai là, chất lượng nguồn nhân lực của Việt nam còn rất nhiều hạn chế.
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo còn thấp. Theo số liệu thống kê
điều tra lao động việc làm quý 2 năm 2017 thì có tới 78.4% lao động không
có trình độ chuyên môn kỹ thuật; 9.48% lao động có trình độ đại học trở lên;
3.17% lao động có trình độ cao đẳng; 5.42% lao động có trình độ trung cấp;
3.53% lao động có trình độ sơ cấp. Thêm vào đó, những người lao động có
trình độ đại học trở lên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao
động. Vì vậy tỷ lệ thất nghiệp đang có xu hướng gia tăng trong số lao động có
trình độ cao. Theo Bản tin Thị trường lao động số 15, tại thời điểm quí 3 năm
2017 số người thất nghiệp có trình độ từ đại học trở lên tăng 53,9 nghìn người
so với quí 2 năm 2017 ở mức 237 nghìn người, tương đương 4,51%6 .
Ba là, năng suất lao động còn thấp so với khu vực. Theo số liệu của
11
Tổng cục Thống kê, năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành
năm 2017 ước tính đạt 93,2 triệu đồng/lao động (tương đương 4.166 USD/lao
động). Tính theo năng suất lao động theo sức mua tương đương năm 2011,
năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7,0%
mức năng suất của Xin-ga-po; 17,6% của Ma-lai-xi-a; 36,5% của Thái Lan;
động liên quan đến sáng tạo còn hạn chế, chưa tham gia sâu trong chuỗi cung
ứng toàn cầu nên chưa tận dụng được tính lan tỏa của tri thức, công nghệ và
năng suất lao động từ các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia vào doanh nghiệp
trong nước. Thêm vào đó mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất tương lai.
Sáu là, các nước công nghiệp mới nổi và nhiều nước đang phát triển đều
cạnh tranh quyết liệt, tìm cách thu hút, hợp tác để có đầu tư, chuyển giao công
nghệ, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu công nghệ từ cuộc Cách mạng
công nghiệp thứ tư đem lại để giành lợi thế phát triển. Đây cũng chính là áp lực
lớn cho Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việt
Nam cần tỉnh táo trong hội nhập, hợp tác quốc tế, phát triển nền kinh tế thị
trường nhất là thị trường khoa học công nghệ, cải thiện đổi mới môi trường đầu
tư kinh doanh, tích lũy đầu tư để thu hút chuyển giao, ứng dụng nhanh những
thành tựu khoa học công nghệ vào phát triển nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bảy là, quản trị nhà nước cũng là một trong những thách thức lớn nhất
đối với nước ta. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ gặp nhiều
khó khăn nếu công cuộc cải cách cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng
được Nhà nước đề ra trong thời gian qua thực hiện không thành công. Bên
cạnh đó, những thách thức về an ninh phi truyền thống sẽ tạo ra áp lực lớn nếu
Nhà nước không đủ trình độ về công nghệ và kỹ năng quản lý để ứng phó.
1.2. Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thời gian qua
1.2.1. Một số thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thời gian qua
1.2.1.1. Về khoa học công nghệ
* Tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường và phát triển
Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập kỷ
13
Hoạt động của các tổ chức KHCN đã mở rộng từ nghiên cứu - phát
triển đến sản xuất và dịch vụ KHCN . Quyền tự chủ của các tổ chức, cá nhân
trong hoạt động KHCN bước đầu được tăng cường. Quyền tự chủ về hợp tác
quốc tế của tổ chức, cá nhân hoạt động KHCN được mở rộng.
Vốn huy động cho KHCN từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản xuất
- kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồn khác, tăng đáng
kể nhờ chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho KHCN. Đã cải tiến một
bước việc cấp phát kinh phí đến nhà khoa học theo hướng giảm bớt các khâu
trung gian.
Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về KHCN từng bước
được hoàn thiện thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ và trách
nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương.
* Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân dân
ngày càng được nâng cao
Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt động
tích cực của các tổ chức KHCN, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư và công tác
phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác động của KHCN đến sản xuất và đời sống,
nhận thức và khả năng tiếp thu, ứng dụng tri thức KHCN của người dân trong
thời gian qua đã tăng lên rõ rệt. Hoạt động KHCN ngày càng được xã hội hoá
trên phạm vi cả nước.
1.2.1.2. Về cơ cấu kinh tế
* Về cơ cấu thành phần kinh tế:
Cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch khá rõ. Trước hết là
trong cơ cấu GDP, tỷ trọng khu vực Nhà nước đã giảm xuống còn dưới 1/3; của
khu vực tập thể còn rất thấp (5,05%); của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã
chiếm gần 20%; còn khu vực kinh tế tư nhân chiếm trên dưới 11%... Vốn đầu
tư đã có sự chuyển dịch theo hướng khai thác các nguồn lực của các thành phần
GDP tăng lên 38,5% năm 2014. Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng lên
16
42,88% năm 2010 và khoảng 43,38% năm 2014. Quá trình chuyển dịch cơ cấu
trong từng ngành cũng đã gắn nhiều hơn với các yêu cầu về CNH, HĐH. Trong
cơ cấu ngành công nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất của công nghiệp khai khoáng
giảm dần, trong khi tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến tăng. Các ngành
dịch vụ phát triển đa dạng, từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và
đời sống. Trong đó, các ngành dịch vụ gắn với CNH, HĐH như dịch vụ tài
chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý, bưu chính viễn thông... phát triển nhanh,
chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GDP.
* Về cơ cấu lao động:
Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực. Gắn liền với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phục vụ tốt hơn các mục tiêu CNH, HĐH. Tỷ
trọng lao động ngành nông nghiệp đã giảm mạnh xuống khoảng 47% năm
2014. Tỷ trọng lao động ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng liên
tục, trong đó, ngành công nghiệp, xây dựng tăng lên 20,8% năm 2014; ngành
dịch vụ tăng lên 32,2% năm 2014. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên khoảng
40% năm 2010 và đến năm 2014 là 49%.
1.2.2. Một số hạn chế của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước thời gian qua
1.2.2.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lao động diễn ra
chậm
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu lao động
đã “chững lại” trong nhiều năm nhưng chậm có sự điều chỉnh phù hợp. Các
ngành dịch vụ sử dụng tri thức, KHCN phát triển còn chậm. Nếu như trong
giai đoạn đầu của quá trình CNH, HĐH, cơ cấu kinh tế có tốc độ chuyển dịch
khá, cơ cấu ngành nông nghiệp trong GDP giảm mạnh xuống 19,3% năm
trong thực hiện.
Chuỗi giá trị sản phẩm liên kết vùng là yếu tố quan trọng đặc biệt để
bảo đảm cho liên kết vùng có hiệu quả nhưng lại là khâu yếu nhất trong quá
trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch liên kết vùng hiện nay. Cách phân vùng
KT-XH còn nhiều mặt hạn chế, chưa phát huy được lợi thế so sánh từng vùng
18
theo chuỗi giá trị sản phẩm, các chuỗi giá trị liên kết kinh tế nội vùng và liên
vùng vẫn còn bị bỏ ngỏ.
Đây là yêu cầu bức thiết bởi cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và
đang đặt ra những thách thức lớn đối với tất cả các doanh nghiệp sẽ tham gia
vào chuỗi sản xuất toàn cầu về những thay đổi liên quan đến chi phí, quản trị
rủi ro, giảm thiểu tính linh hoạt và sự độc lập trong chiến lược kinh doanh.
1.2.2.3. Một số hạn chế về khoa học công nghệ
Thứ nhất, tổng chi quốc gia cho nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ còn thấp trong tương quan so sánh với các quốc gia khác trong khu vực
và trên thế giới. Theo Điều tra nghiên cứu và phát triển 2014, tỷ trọng tổng
chi quốc gia cho KHCN/GDP năm 2013 là 0,87%, trong đó chi cho nghiên
cứu và phát triển chiếm 43%. Như vậy, năm 2013, tỷ lệ chi quốc gia cho
nghiên cứu và phát triển/GDP đạt 0,37%. Tỷ lệ chi cho nghiên cứu và phát
triển/GDP của Việt Nam so với các nước là rất thấp. Điều đáng nói là trong
tổng chi quốc gia cho nghiên cứu và phát triển, ngân sách Nhà nước chiếm
hơn một nửa (56,7%), nguồn đầu tư từ doanh nghiệp đạt 41,8%, còn lại chỉ có
1,5% là từ nguồn vốn nước ngoài.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ KHCN của Việt Nam tuy tăng về số lượng
nhưng so với tổng dân số thì tỷ lệ này còn thấp so với các nước trong khu vực.
Bình quân cán bộ nghiên cứu trên vạn dân năm 2013 tính theo đầu người của
Việt Nam là 14,3 người. Tỷ lệ này thấp hơn của Trung Quốc năm 2012 (15,3);
ra giữa các doanh nghiệp trong nước. Việc thiếu học hỏi giữa các doanh
nghiệp nước ngoài và trong nước cho thấy rằng cần có những nỗ lực chính
sách bổ sung trong việc thu hút và quản lý FDI để có được hiệu ứng lan tỏa.
Phần 2
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN
ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN CÁCH MẠNG CÔNG
NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
20
2.1. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo
hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả
Đây là nội dung cốt lõi của chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế quốc
dân. Phải xác định định hướng của việc chuyển dịch, trong đó xác định rõ đặc
trưng phát triển và vị trí của mỗi ngành trong tổng thể kinh tế, trên cơ sở đó
xác định các chính sách phát triển. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải
dựa trên sự đánh giá chính xác những lợi thế của đất nước, phải xuất phát từ
nhu cầu của thị trường trên cơ sở khai thác có hiệu quả khả năng (chứ không
phải xuất phát từ khả năng), phải có dự báo triển vọng cạnh tranh của sản
phẩm, của ngành kinh tế trên thị trường trong nước và quốc tế. Chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế phải bảo đảm khả năng thích nghi nhanh với sự biến đổi
của môi trường trong nước và quốc tế, trước hết và chủ yếu là tiến bộ khoa
học và công nghệ dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư,
chi phí cho điều chỉnh cơ cấu kinh tế thấp. Cụ thể là:
Ngành công nghiệp, tập trung nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh
của các sản phẩm; phát triển các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh,
có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, ưu tiên phát
triển những sản phẩm có chất lượng, giá trị gia tăng cao, áp dụng công nghệ
mới, công nghệ sạch, sử dụng tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.
dụng công nghệ sinh học làm gia tăng giá trị các mặt hàng nông-lâm-thủy sản.
Gắn bó chặt chẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hợp lý, hiệu quả, bảo
đảm cơ sở cho thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.
Ngành dịch vụ cần được đẩy mạnh phát triển, nhất là các dịch vụ có giá
trị, hàm lượng tri thức cao, tiềm năng lớn, có lợi thế và có sức cạnh tranh, như
du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế; hình
thành một số trung tâm dịch vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế.
Hiện đại hóa và mở rộng các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, như tài
chính, ngân hàng, bảo hiểm, logistics, dịch vụ phát triển phần mềm công nghệ
thông tin và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác. Đẩy mạnh tham gia mạng
22
phân phối toàn cầu, phát triển nhanh hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi
thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước; xây dựng thương hiệu hàng hóa và
dịch vụ Việt Nam.
2.2. Đẩy mạnh hoạt động liên kết vùng kinh tế
Vùng kinh tế được xác định là một bộ phận lớn của lãnh thổ quốc gia
có các hoạt động kinh tế xã hội tiêu biểu, thực hiện sự phân công lao động xã
hội trên phạm vi cả nước. Đây là loại vùng có qui mô diện tích, dân số ở cấp
lớn nhất, phục vụ việc hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển theo
lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi
vùng của đất nước. Hiện nay, cơ cấu kinh tế vùng ở nước ta được xác định
bao gồm 6 vùng kinh tế lớn và 4 vùng kinh tế trọng điểm. Ngoài ra, việc xác
định cơ cấu kinh tế vùng ở nước ta còn dựa trên vị trí lãnh thổ theo chiều dọc
đất nước và theo đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn. Tuy mỗi vùng kinh tế
có đặc điểm riêng, nhưng chúng đều là những bộ phận cấu thành nền kinh tế
quốc dân thống nhất.
mọi thành phần kinh tế tham gia hình thành và phát triển kinh tế vùng.
Thứ ba, đối với các vùng kinh tế trọng điểm, cần cân nhắc để ban hành
chính sách cạnh tranh với các trung tâm kinh tế khu vực và trên thế giới; quy
định rõ liên kết vùng phải theo hướng kinh tế tri thức và tiếp cận với cuộc
Cách mạng công nghiệp 4.0, phát triển các ngành hàng có hàm lượng công
nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn... Nghiên cứu để sớm hình thành một số khu
liên kết kinh tế xuyên biên giới quốc gia với một số nước láng giềng; Hình
thành các cặp cửa khẩu để gia tăng hợp tác kinh tế có hiệu quả.
Đối với các vùng điều kiện KT-XH còn khó khăn, cần có chính sách
nhằm hướng việc thu hút đầu tư vào các ngành khai thác lợi thế so sánh, phù
hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội; Làm rõ chức năng bảo tồn sinh thái, gìn
giữ văn hóa, bảo đảm an ninh chính trị, để từ đó có những chính sách tích hợp
tổng thể đặc thù cho vùng đảm bảo các chức năng trên.
Thứ tư, các nhà khoa học, chuyên gia cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất
các giải pháp thúc đẩy phân vùng hợp lý, khoa học, phù hợp với thực tiễn;
24
hoàn thiện quy hoạch phát triển vùng trên cơ sở lợi thế so sánh của từng địa
phương. Tận dụng lợi thế của sự kết nối trên “không gian ảo” để liên kết vùng
toàn diện.
Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân, cần kết hợp chặt
chẽ và đồng bộ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành với chuyển dịch cơ cấu
vùng, cơ cấu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu thành phần
kinh tế theo hướng phát huy cao độ, có hiệu quả các nguồn lực cho sự phát
triển kinh tế nhanh và bền vững.
2.3. Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo, nâng cao
năng lực sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực
Đây là những yếu tố then chốt, tạo ra sự phát triển đột phá, là đặc trưng