Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 - Pdf 57

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ XUÂN
TRƯỜNG TIỂU HỌC CÁT TÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 1

Người thực hiện: Vi Thị Thu
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Cát Tân
huyện Như Xuân - Thanh Hóa
SKKN thuộc môn: Toán

NHƯ XUÂN NĂM 2017
1


MỤC LỤC
NỘI DUNG

1. MỞ ĐẦU
- Lý do chọn đề tài.
- Mục đích nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của giải Toán có lời văn ở Lớp 1
2.2. Thực trạng của việc dạy và học dạng Toán có lời văn ở Lớp
1 trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để nang cao chất lượng giải Toán

một thời đại mới, một thế kỷ mới. Thế kỷ XXI, thế kỷ của khoa học công nghệ
thông tin với mục tiêu xây dựng đất nước ta: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh. Để theo kịp với các nước tiên tiến trên thế giới, ngành giáo dục đã
có đổi mới trong việc dạy và học.
Chương trình dạy học ở Tiểu học rất quan tâm rèn luyện cho học sinh phát
triển toàn diện các mặt: Đức, trí, thể, mỹ ... trong đó trọng tâm là giáo dục đạo đức,
phát triển trí tuệ học sinh. Có thể nói, Toán học là một trong những bộ môn có vai
trò chủ đạo trong việc giúp học sinh phát triển trí tuệ của mình. Bởi vì, dạy học
Toán và nhất là giải Toán, đòi hỏi học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh
hoạt, huy động thích hợp các kiến thức và kỹ năng đã có vào các tình huống khác
nhau. Học giải Toán học sinh phải biết suy nghĩ năng động, sáng tạo để phát hiện
những dữ kiện, điều kiện chưa được đưa ra môt cách tường minh. Vì vậy, có thể nói
giải Toán là một trong những biểu hiện năng động nhất của trí tuệ học sinh.
Qua học giải Toán, giáo viên từng bước giúp học sinh phát triển tư duy, đồng
thời rèn luyện những đức tính và phong cách làm việc của con người lao động thế
kỷ XXI tính nhanh nhẹn, hoạt bát, tính làm việc có kế hoạch, tính chăm chỉ cận
thận, thói quen làm việc xét đoán có căn cứ khoa học, có kiểm tra kết quả cuối
cùng, từng bước hình thành phát triển và rèn luyện thói quen suy nghĩ làm việc học
độc lập, linh hoạt sáng tạo …
Trong quá trình học tập, giải Toán giúp học sinh tạo thói quen không thoả mãn
với kết quả tìm ra để học sinh say mê tìm tòi hơn nữa.
Quá trình dạy học giải Toán giúp học sinh biết trình bày bài làm rõ ràng, mạch
lạc, khoa học, đúng quy cách; biết sử dụng câu lời giải phù hợp ... Từ đó giúp học
sinh hiểu cái hay, cái đẹp trong Toán học.
Vì ý nghĩa giáo dục nhiều mặt của dạy học Toán nói chung, giải Toán nói
riêng, mà trong quá trình dạy học giải Toán phải làm sao cho các em thành thạo các
bài toán có lời văn trong chương trình Lớp 1 là một việc làm cần thiết mà chúng ta
phải bồi dưỡng cho học sinh để làm nền tảng, tạo đà cho các lớp trên. Thực tế giảng
dạy Toán Lớp 1 cho thấy, việc dạy học sinh giải toán có lời văn là việc làm khó
khăn, đòi hỏi giáo viên phải giải quyết tốt các vấn đề liên quan để khắc phục khó

đọc được tương đối nhiều từ ngữ. Nhưng trước đó (từ bài phép cộng trong phạm vi
4 ở tuần 7) học sinh đã được làm quen với dạng Toán giải ở mức độ quan sát tranh,
nêu miệng bài toán rồi mới viết phép tính thích hợp vào các ô trống; và đến tuần
thứ 16 học sinh tiếp tục được làm quen dạng toán này dựa vào tóm tắt bài toán để
viết phép tính. Như vậy có thể nói, mạch Toán có lời văn xuyên suốt và chiếm lĩnh
thời lượng tương đối lớn ở sách Toán 1. Vì vậy, để nâng cao chất lượng giải Toán
có lời văn cho học sinh Lớp 1 cần có những giải pháp hữu hiệu nhất.
Môn Toán, đặc biệt là giải Toán có lời văn còn góp phần giáo dục ý thức tìm
tòi sáng tạo và nhiều kỹ năng tính toán cần thiết để con người phát triển toàn diện,
hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong thời đại mới. Bậc Tiểu
học, một yêu cầu quan trọng là dạy cho trẻ cách học nhằm xây dựng cho học sinh
những kỹ năng cơ sở giao tiếp; đặc biệt, giải Toán có lời văn giúp học sinh phát
triển về nhân cách, óc sáng tạo một cách nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn và chất
lượng hơn.
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học phải thiết thực, góp phần thực hiện
mục tiêu giáo dục Tiểu học, tạo điều kiện để cá thể hoá dạy học và khuyến khích
dạy học phát triển ra nội dung của bài học.
4


2.2. Thực trạng của việc dạy và học về dạng Toán có lời văn Lớp 1 trước
khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Trong những năm trước, khi dạy các dạng Toán có lời văn cho học sinh Lớp
1, tôi rút ra những nhận xét sau đây:
2.2.1. Về phía giáo viên:
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên đã chú ý đến việc phát huy tính tích cực
của học sinh, học sinh tự tìm ra tri thức mới dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Hình
thức dạy học đa dạng, phong phú, các trò chơi đã được đưa vào dạy học một cách
có hiệu quả nhằm giúp học sinh "học mà chơi, chơi mà học”, từ đó giúp học sinh
nắm chắc bài một cách nhẹ nhàng, thoải mái.


HỌC KÌ I
MỨC ĐỘ

HỌC KÌ II

Số lượng

Tỉ lệ %

Số lượng

Tỉ lệ %

Hoàn thành Tốt

6

25

7

29,1

Hoàn thành

16

66,5


+ Biết trình bày bài giải.
- Tìm hiểu đối tượng học sinh.
+ Tâm lý học sinh:
Với đối tượng là học sinh Lớp 1, các em bắt đầu bước vào môi trường mới, có
quá nhiều điều lạ lẫm với các em, tâm lý lo âu, sợ sệt, rụt rè, ảnh hưởng nhiều đến
kết quả học tập.
Theo Tâm lý học thì nhận thức của các em chủ yếu thông qua con đường từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Dưới tác động của việc học tập tư duy
của trẻ đang phát triển.
+ Trình độ học sinh:
Có thể nói học sinh Lớp 1 như một tờ giấy trắng. Giờ đây các em mới bắt tay
vào học tập, lĩnh hội trí thức và hầu như các hoạt động học tập của các em chưa
được làm quen. Về kinh nghiệm và vốn sống quá ít ỏi. Do vậy, đối tượng này giáo
viên phải thật bình tĩnh, không được nôn nóng, mà phải tác động dần dần trong quá
trình học tập mới mong đạt kết quả cao.
6


Để bước đầu học sinh Lớp 1 thực hiện giải Toán có lời văn, yêu cầu học sinh
biết cách tìm hiểu đề, học sinh cần nhận thức đúng đắn về việc tìm hiểu đề, tóm tắt
và phân tích đề, thực hiện lời giải và giải bài toán.
- Nghiên cứu phương pháp giảng dạy về dạng giải Toán có lời văn.
Để giúp các em giải Toán có lời văn đạt kết quả cao, trước hết người giáo viên
cần nghiên cứu bài dạy ở Sách giáo viên và Sách giáo khoa. Ngoài ra, còn tìm hiểu
thêm ở các tài liệu có liên quan như: Tập san, sách nâng cao, tài liệu dạy lớp 1 theo
chương trình Tiểu học mới... Hơn nữa, giáo viên cần chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học
như: Bộ đồ dùng biểu diễn, tranh minh hoạ, vật thật và tự học tự bồi dưỡng để nâng
cao trình độ cho bản thân.
Giáo viên là người định hướng, dẫn dắt học sinh lĩnh hội kiến thức. Do đó giáo
viên phải nhận rõ vai trò và nhiệm vụ mới của mình, tránh làm thay việc của các


Bài giải:
§o¹n th¼ng AC dài số cm là:
3 + 6 = 9 (cm)
Đáp số: 9 cm.
Ví dụ 2: Một hộp bút có 12 bút xanh và 3 bút đỏ. Hỏi hộp đó có tất cả bao
nhiêu cái bút?
Bước 1 : Tóm tắt bài toán.
Có : 12 bút xanh.
Có :
3 bút đỏ.
Có tất cả: … cái bút ?
Bíc 2:
Bài giải
Có tất cả số bút là :
12 + 3 = 15 (cái bút)
Đáp số : 15 cái bút
Trêng hîp 2 : " Tìm hiệu khi biết số bị trừ và số trừ ".
Ví dụ : Bài tập 2 – trang 149 - Toán 1
An có 8 quả bóng, An thả 3 quả bay đi. Hỏi An còn lại mấy quả bóng?
Bước 1: Tóm tắt bài toán.
An có : 8 quả bóng.
Thả đi : 3 quả bóng.
Còn lại … quả bóng ?
Bước 2:
Bài giải:
Số bóng An còn lại là:
8 – 3 = 5 (quả bóng)
Đáp số: 5 quả bóng.
Nhận xét: Trong chương trình học Toán của Lớp 1 hiện nay, chỉ có hai loại

xong hoặc chưa hiểu kỹ bài đã vội vàng giải toán. Như vậy là không tránh khỏi sự
bế tắc khi giải toán hoặc làm lạc đề toán.
Để giúp học sinh hiểu rõ đề hoặc tránh việc học sinh bỏ qua việc tìm hiểu đề,
giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi để giúp học sinh hiểu đề hơn.
Ví dụ:
+ Bài toán cho biết những gì?
Hay: Bài toán yêu cầu ta tìm gì?
Cũng có thể yêu cầu học sinh nhắc lại đề toán mà không cần phải nhìn sách
vở. Nếu các em nhớ đề, đọc lại được cũng có nghĩa là các em đã hiểu đề.
Bước 2: Tóm tắt bài toán.
Đây là bước rất quan trọng nó là kết quả ban đầu của bước 1; lúc này bài toán
được tóm gọn lại, chủ yếu bằng lược đồ đơn giản. Nhờ đó mà mối quan hệ giữa các
số đã cho và số phải tìm hiện rõ hơn, dễ hiểu hơn.
Học sinh cần tóm tắt được bài toán, biết phân tích tổng hợp, xác định được yêu
cầu của bài ra, tìm ra cách giải thích hợp.
Ở chương trình Lớp 1, giáo viên dạy cho học sinh những cách tóm tắt như sau:
+ Tóm tắt bằng chữ:
Ví dụ: Mai gấp được 6 cái thuyền, Hà gấp được 3 cái thuyền. Hỏi 2 bạn gấp
được mấy cái thuyền?

9


Tóm tắt:

Mai gấp : 6 cái thuyền.
Hà gấp : 3 cái thuyền.
Có tất cả … cái thuyền ?
+ Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Ví dụ:

ăn mất, còn lại,…” (Có thể quan sát tranh vẽ để hỗ trợ).
10


Trong thời kỳ đầu (Tiết 81, 82) giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt bằng cách
đàm thoại: “Bài toán cho biết gì?,Bài toán hỏi gì?” và dựa vào câu trả lời của học
sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm tắt để nêu lại đề toán. Đây là
cách rất tốt để học sinh ngầm phân tích đề toán.
Ví dụ: Nhà Lan có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà Lan có tất cả mấy
con gà?
Qua ví dụ trên, ta phân tích như sau:
+ Bài toán cho biết gì? (nhà Lan có 5 con gà)
+ Còn cho biết gì nữa? (mẹ mua thêm 4 con gà).
+ Bài toán hỏi gì? (nhà Lan có tất cả mấy con gà?).
+ Giáo viên nêu tiếp: “Muốn biết nhà Lan có tất cả mấy con gà, em làm tính
gì ?” (tính cộng).
- Mấy cộng mấy? (4 + 5); 4 + 5 bằng mấy? (4 + 5 = 9).
Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp: “9 này là 9 con gà”, nên ta viết
“con gà” vào trong dấu ngoặc đơn:
4 + 5 = 9 (con gà).
Trong các bước phân tích bài toán, giáo viên cần hướng dẫn học sinh qua các
câu hỏi cụ thể để đi đến yêu cầu được giải quyết tránh tình trạng lan man thiếu
trọng tâm và hướng học sinh đi lệch vấn đề.
Bước 4: Trình bày bài giải:
Đây là bước cụ thể hóa của vấn đề tư duy trên, nó được thể hiện rõ nét kỹ
năng, kỹ xảo giải bài tập của học sinh. Học sinh dựa vào sơ đồ phân tích trên để
viết bài toán, nó được chuyển dịch tư duy ngược lại khi phân tích.
Nhìn vào bảng tóm tắt phân tích ví dụ trên, ta đi đến trình bày bài giải như sau:
Bài giải:
Nhà Lan có tất cả số gà là :

Đối với Lớp 1, bài toán có lời văn chỉ đơn thuần là bài toán đơn, các em chủ
yếu làm quen với hai loại bài (như đã nói ở trên), và trong chương trình này yêu
cầu học sinh khi giải phải viết thêm lời giải. Đối với bài toán đơn thì các em sẽ dựa
vào yêu cầu của bài toán để viết câu lời giải:
Ví dụ: Tóm tắt đề toán (Bài tập 2 - trang 149 - Toán 1)
Lan có : 8 quả bóng
Lan thả : 5 quả bóng
Còn lại: … quả bóng?
Sau khi tính xong: 8 - 3 = 5 (quả bóng), giáo viên chỉ vào 5 và hỏi : "5 quả
bóng" ở đây là số bóng của ai "còn lại"? (Là số bóng của Lan còn lại). Từ câu trả
lời của các em ta giúp học sinh chỉnh sửa thành câu lời giải: " Số bóng của Lan
còn lại là ".
Ở đây, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh nêu nhiều câu lời giải khác
nhau, sau đó cùng bàn bạc, thảo luận để tìm câu trả lời thích hợp nhất. Không nên
bắt buộc học sinh nhất thiết phải tuân theo một kiểu nhất định. Ngoài ra, từ tuần
học thứ 7 (ở học kỳ I) ta đã ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải bài toán
có lời văn sau này, ở đây có sự chuẩn bị từ xa cho việc viết câu lời giải.
Ví dụ : Từ bức tranh "3 con chim trên cành, 1 con chim bay tới" ở trang 47
Toán Lớp 1, sau khi học sinh quan sát tranh và điền phép tính vào dãy ô trống:
3

+

1

=

4

12

Lan còn lại số quả bóng là:
8 – 3 = 5 (quả bóng)
Đáp số: 5 quả bóng.
Như vậy, để học sinh ttrình bày bài giải được đúng, đủ, giáo viên phải luôn
nhắc nhở học sinh cách trình bày, hoặc yêu cầu học sinh nhắc lại việc cần làm khi
giải một bài toán.
Lưu ý: học sinh khi viết phép tính không viết dài dòng như:
8 quả bóng - 3 quả bóng = 5 quả bóng.
Mà viết: 8 – 3 = 5 (quả bóng).
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
2.4.1.Tổ chức thực nghiệm
13


Từ những lý luận phân tích, nghiên cứu về “ Giải Toán có lời văn” trong
chương trình Toán 1, để kiểm tra kết quả học tập của học sinh tôi, đã trực tiếp khảo sát
chất lượng học sinh ở 2 lớp 1B và 1C (Lớp 1B tôi trực tiếp giảng dạy; Lớp 1C do giáo
viên khác giảng dạy) bằng các bài tập trong tiết "Luyện tập" (Trang 121 – Sách
giáo khoa Toán 1). Cụ thể như sau:
I. Đề bài (Thời gian 40 phút).
Bài 1: Trong vườn có 12 cây chuối, bố trồng them 3 cây chuối. Hỏi trong
vườn có tất cả bao nhiêu cây chuối?
Tóm tắt:

: ... cây
Thêm : ... cây
Có tất cả: ... cây?
Bài 2: Trên tường có 14 bức tranh, người ta treo thêm 2 bức tranh nữa. Hỏi
trên tường có tất cả bao nhiêu bức tranh?

Chưa hoàn thành

SL (em)

TL (%)

SL (em)

TL (%)

1B

15

8

53,33

7

46,67

0

0

1C

15


thức một cách linh hoạt, sáng tạo và làm bài một cách tự tin, câu lời giải chặt chẽ,
trình bày bài khoa học, lí luận chặt chẽ, lôgíc hơn.
Vậy, qua nghiên cứu giảng dạy ta cần chú ý đến các bước sau:
Bước 1: Đọc hiểu đề bài toán;
Bước 2: Tóm tắt đề toán;
Bước 3: Phân tích đề toán tìm ra phép tính giải toán;
Bước 4: Trình bày bài giải.
Và điều không kém phần quan trọng là: “Tính đúng kết quả”.
Kiểm tra vấn đáp học sinh ở một bài toán cụ thể cho đến nay, khi được hỏi
các em trả lời:
Khi giải bài Toán có lời văn phải thực hiện theo 4 bước:
+ Học sinh trả lời được các bước cụ thể (trước đây học sinh còn lúng túng
khi giải bài toán có lời văn).
+ Học sinh có hướng giải nhanh nhẹn, kết quả chính xác.
+ Học sinh thuộc bảng cộng, trừ cao hơn (Tỉ lệ trước đây còn thấp).
+ Học sinh vận dụng thành thạo vào các bài tập toán.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
- Kết luận
Qua quá trình áp dụng những phương pháp, những kinh nghiệm của bản thân
vào quá trình dạy học môn Toán nói chung và dạy giải Toán có lời văn ở Lớp 1 nói
riêng, trước hết học sinh phải đọc thông, viết thạo, phải phân biệt rõ bài toán thuộc
dạng nào, nhất là với những bài toán không có từ "chìa khoá" đặc trưng. Đồng thời
phải có óc phân tích, suy luận, phải biết tổng hợp các dữ kiện để giải Toán. Mặt
khác, phải vận dụng linh hoạt sự hiểu biết thực tế của bản thân với các bài toán
15


tương tự để giải Toán. Cùng với sự nỗ lực cố gắng của bản thân học sinh, giáo viên
phải thật sự tâm huyết, luôn tìm tòi đổi mới phương pháp, linh hoạt, mềm dẻo trong
dạy học. Có như vậy mới mong muốn đạt chất lượng cao.

ý hoặc lập hệ thống câu hỏi. Do đó yêu cầu giáo viên phải nắm vững được từng đối
tượng học sinh để từ đó giúp các đối tượng học sinh nắm bài tốt hơn.
- Kiến nghị
Qua một thời gian nghiên cứu, với vốn kiến thức ít ỏi của bản thân nhưng với
sự giúp đỡ tận tình của đồng nghiệp và lòng ham mê nghiên cứu nhằm nâng cao
chất lượng dạy học ở Tiểu học; tôi đã nghiên cứu, phân tích và cho rằng: Dạy học
tốt bài Toán có lời văn có ý nghĩa quan trọng, làm nền tảng học tốt các môn khác.
16


Bài Toán có lời văn còn giúp cho học sinh Lớp 1 phát huy cao độ tính logic, tư duy
trừu tượng. Cho nên, nó có vai trò, ý nghĩa quan trọng làm nền tảng cho học sinh
học tốt các môn học khác.
Chính vì vậy, giúp các em khắc phục khó khăn khi giải các bài Toán có lời
văn là một vấn đề không thể thiếu được đối với người giáo viên.
* Đối với nhà trường:
+ Tăng cường dự giờ rút kinh nghiệm cho giáo viên khi dạy giải Toán có lời
văn.
+ Kiểm tra kế hoạch bài học của giáo viên một cách chặt chẽ, yêu cầu kế
hoạch phải cận thận, thể hiện đầy đủ bài học.
* Đối với giáo viên:
Nắm vững vị trí của môn Toán đối với học sinh Tiểu học nói chung và học
sinh Lớp 1 nói riêng, có thái độ đúng đắn với bộ môn. Nắm vững các nguyên tắc và
phương pháp trong dạy Toán.
Khi hướng dẫn học sinh làm bài cần hướng dẫn tỉ mỉ, cẩn thận. Không “Đốt
cháy giai đoạn” dễ gây cho học sinh tính cẩu thả khi giải Toán sau này …
Trong kế hoạch bài học, giáo viên phải thể hiện đầy đủ chi tiết bài dạy để khi
lên lớp thực hiện tiết dạy có hiệu quả.
* Đối với học sinh:
+ Không bỏ qua một bước nào.



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa toán 1 Nhà xuất bản giáo dục 2005.
2. Sách giáo viên toán 1. Nhà xuất bản giáo dục 2005.
3. Thông tư 30, Thông tư 22.
4. Phương pháp dạy học môn toán ở Tiểu học Trường ĐHSP Hà Nội 1.
5. Các tạp chí, chuyên đề, tài liệu có liên quan.

19


DANH MUC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Vi Thị Thu
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Tiểu học Cát Tân
Như Xuân - Thanh Hóa
Cấp đánh
Kết quả
TT
Tên đề tài SKKN
giá xếp loại đánh giá xếp Năm học đánh
(Phòng, Sở, loại (A, B
giá xếp loại
Tỉnh…)
hoặc C)
Một số biện pháp rèn đọc
Phòng

Lớp 2
huyện

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status