Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 trường tiểu học minh tiến 2, huyện ngọc lặc - Pdf 57

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong chương trình, nội dung giáo dục ở tiểu học cùng với các môn học khác,
môn Toán đóng vai trò quan trọng. Môn Toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát
triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú
học tập, phát triển hợp lí khả năng suy luận, phát triển phát triển trí thông minh, tư
duy độc lập, linh hoạt sáng tạo và khả năng phân tích tổng hợp cho HS. Trên cơ sở
cung cấp những tri thức ban đầu về số học, số tự nhiên, đại lượng cơ bản, giải toán có
lời văn có ứng dụng thiết thực trong đời sống. Giải toán là một hoạt động trí tuệ khó
khăn và phức tạp. Hình thành kĩ năng giải toán khó hơn nhiều so với kĩ năng tính vì
bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều khái niệm, quan hệ toán học. Giải toán không chỉ
là nhớ mẫu để rồi áp dụng mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, nắm chắc ý nghĩa của
phép tính, nắm vững mối quan hệ toán học. Giúp HS từng bước phát triển năng lực tư
duy, rèn luyện phương pháp và kĩ năng suy luận, tập dượt khả năng quan sát, phỏng
đoán, tìm tòi, rèn luyện cho HS, giúp các em rèn đức tính kiên trì, cẩn thận, chu đáo,
chịu khó, tự lực vượt khó... vì khi giải các em phải tự mình xem xét vấn đề, tự mình
giải quyết vấn đề và kiểm tra lại kết quả. Bên cạnh đó nhiều bài toán có nội dung thú
vị mà khi giải các em thấy hứng thú qua đó giúp các em ham thích môn toán và có
nhu cầu học toán. Do vậy, việc dạy toán có lời văn một cách hiệu quả sẽ giúp các em
trở thành những con người linh hoạt, sáng tạo, làm chủ trong mọi lĩnh vực cuộc sống
thực tế hàng ngày.
Trong chương trình môn toán ở bậc tiểu học, các dạng toán cơ bản chủ yếu nằm ở
lớp 4 và được sắp xếp xen kẽ với các kiến thức hạt nhân số học, hình học, góp phần
làm phong phú nội dung môn Toán ở tiểu học.
Ở lớp 4, kiến thức toán đối với các em không còn mới lạ, khả năng nhận thức của
các em đã hình thành và phát triển ở các lớp trước, tư duy đã bắt đầu có chiều hướng
bền vững và đang ở giai đoạn phát triển vốn sống, vốn hiểu biết thực tế, bước đầu có
những hiểu biết nhất định. Chương trình Toán 4 về giải toán có lời văn chiếm thời
lượng tương đối nhiều, nhiều dạng toán mới, các bài toán có kiến thức lời văn ở dạng
toán tổng hợp là tiền đề cho học sinh trong việc giải toán ở các lớp trên. Đặc biệt nó
là “nền tảng” cho học sinh học toán và giải toán lớp 5. Vì hầu như những kiến thức về

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích các yếu tố và tổng hợp kinh
nghiệm, đề xuất các biện pháp thực hiện đề tài.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận về giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4
Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở
bậc tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của
số học và số học tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và các yếu tố đại
số, hình học có trong chương trình.
Các khái niệm và các qui tắc về toán trong sách giáo khoa, nói chung đều được
giảng dạy thông qua việc giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố vận dụng các
kiến thức, rèn luyện các kĩ năng tính toán. đồng thời qua việc giải toán của HS mà
giáo viên có thể dễ dàng phát hiện ra những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về
kiến thức, kĩ năng và tư duy để giúp các em phát huy và khắc phục. Việc giải toán
góp phần quan trọng vào rèn luyện cho HS năng lực tư duy và những đức tính tốt của
con người lao động mới. Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục
cho các em ý trí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có hiệu quả, có kế
hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, có thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình
làm, có óc độc lập, suy nghĩ sáng tạo thông qua việc tìm ra những lời giải mới hay và
ngắn gọn.
Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống thực tiễn được thực
hiện thông qua việc cho HS giải toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách
thích hợp giúp các em biết vận dụng những kĩ năng đó trong cuộc sống.
Việc giải toán có thể giúp các em thấy được nhiều khái niệm toán học. Ví dụ: các
số, các phép tính, các đại lượng... đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong
thực tiễn hoạt động của con người, thấy được các mối quan hệ biện chứng giữa các
dữ kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm.
2


Vì vậy giải toán có lời văn là một hoạt động gồm các thao tác xác lập mối quan

huynh quan tâm nhưng họ gặp hạn chế trong việc hướng dẫn con cái học tập, đặc biệt
là việc hiểu biết để kèm cặp giải toán có lời văn cho con em mình là một vấn đề khó.
2.2.2. Đối với giáo viên
Giáo viên giảng dạy khối 4 của nhà trường là những giáo viên trẻ, khoẻ, nhiệt
tình, yêu nghề và có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn; có đầy đủ các tài
liệu và đồ dùng dạy học. Đồng thời sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường qua
việc dự giờ, góp ý cũng như chỉ đạo có hiệu quả về công tác chuyên môn.
Tuy vậy, một số GV vẫn còn lúng túng trong việc đổi mới phương pháp dạy học
môn Toán, cách dạy còn rập khuôn, máy móc, chưa linh hoạt, sáng tạo. Mặt khác có
những GV còn nhiều hạn chế trong xác định dạng toán trong dạy học.
2.2.3. Đối với học sinh

3


- Lớp 4, các bài toán hợp chiếm đa số, hầu như trong một bài của một tiết học, bài
học nào cũng có ít nhất là một bài toán giải. Dạng toán hợp là dạng toán mà học sinh
lớp 4 gặp khó khăn nhiều hơn trong quá trình học toán. Vì từ ở lớp 1, lớp 2, lớp 3, HS
đang chủ yếu học về các bài toán đơn với câu hỏi cụ thể, rõ ràng chỉ cần làm một đến
hai phép tính (hoặc ba phép tính). Đặc biệt ở những lớp học trước HS ít có thói quen
tìm hiểu, phân tích đề toán để tìm “cái đã cho” và “cái cần tìm”. Các câu hỏi ở bài
toán hợp có tính chất bắc cầu. Nghĩa là để trả lời được câu hỏi cuối cùng của bài toán
(tức là tìm đáp số) thì học sinh phải suy luận ra câu hỏi “ẩn” dựa vào những dự liệu
của bài toán đã cho. Và đặc biệt phải liên hệ được với những kiến thức đã học. Cách
suy luận này ở HS còn rất yếu và các em chưa có thói quen tóm tắt đề bằng sơ đồ.
- Các em thường gặp rất nhiều khó khăn trong khi giải toán có lời văn ở tất cả các
bước giải toán, các em thường phân tích đề toán một cách máy móc, thiếu linh hoạt,
tư duy, phán đoán chậm. Chủ yếu là phân tích theo hướng tư duy đã được gợi ý theo
mẫu hay trong từng bài cụ thể theo hướng dẫn của GV.
- Khi viết câu trả lời thường không chặt chẽ, nhiều khi thiếu hợp lý, thậm chí

SL
%
2015-2016 4A
25
0
0
6 24,0 12 48,0
7
28,0
2016-2017 4A
27
0
0
7 25,9 11 40,7
9
33,3
Từ thực trạng trên, tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu, đề xuất, áp dụng “Một số biện
pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4” ở trường Tiểu
học Minh Tiến II – Ngọc Lặc.
2.3. Một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh
lớp 4
Trước thực trạng trên tôi đã áp dụng một số biện pháp rèn kỹ năng Giải toán có
lời văn cho học sinh lớp 4 theo định hướng phát triển tư duy, phát triển trí thông
minh, linh hoạt sáng tạo và khả năng phân tích tổng hợp cho HS nhằm nâng cao hiệu
quả giờ dạy, nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh như sau:
2.3.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, xây dựng kế hoạch cụ thể cho
từng môn học và sự phối kết hợp với phụ huynh trong công tác giáo dục học sinh
4



phải xác định đúng hai bộ phận đó.
Chúng ta cần tập trung vào những từ quan trọng (từ khóa) của đề toán, từ nào
chưa hiểu thì phải tìm hiểu ý nghĩa của nó.
HS cũng cần phân biệt rõ những gì thuộc về bản chất của đề toán, những gì không
thuộc về bản chất của đề toán để hướng sự chú ý của mình vào những chỗ cần thiết.
+ Bước 2: Tóm tắt đề toán bằng sơ đồ, hình vẽ hoặc ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn.
Thông qua đó để thiết lập mối liên quan cái đã cho và cái cần phải tìm.
+ Bước 3: Phân tích các mối quan hệ giữa các “ dữ kiện” đã cho với “kết luận” để
tìm ra cách giải bài toán. Kết quả các bước này là xác định một trình tự để giải bài
toán.

5


Thực chất của việc giải toán là bắt những chiếc cầu từ cái đã cho và cái phải tìm.
Có nhiều phương pháp để bắc được những chiếc cầu đó, và đó chính là quá trình
phân tích bài toán. Thông thường ở tiểu học thường dùng các cách sau:
Suy nghĩ theo đường lối phân tích: Tập trung suy nghĩ vào câu hỏi của bài toán,
nghĩ xem muốn trả lời được câu hỏi của bài toán thì phải biết những gì và phải làm
những phép tính gì? Trong những điều cần biết đó cái nào đã cho sẵn trong đề toán,
cái nào phải tìm? Muốn tìm được cái này thì phải biết những gì và làm phép tính
gì?... Cứ như thế suy nghĩ từ câu trả lời của bài toán trở về các điều đã cho của bài
toán. Đây là cách hay dùng nhất.
Cũng có thể suy nghĩ xem từ các điều đã cho trong từng bài toán có thể suy ra
điều gì, tính ngay được cái gì? Từ những cái đó có thể suy ra hoặc tính được điều gì
giúp ích cho việc giải bài toán không?.... Như thế ta suy luận dần dần: Từ những điều
đã cho đến câu hỏi của bài toán.
Ngoài ra trong một số bài toán chúng ta phải kết hợp cả hai cách nói trên để giải
quyết bài toán.
+ Bước 4: Thực hiện các phép tính theo trình tự giải đã có để đi tới đáp số.

(lít)
Vòi thứ hai chảy được là:
26 x 16 = 416
(lít)
Đáp
số:
Vòi thứ nhất: 54 lít
Vòi thứ hai: 416 lít.
Giải bằng cách khác:
Mỗi giờ một vòi chảy được là :
962 : ( 21 + 16 ) = 26 (lít)
Vòi thứ nhất chảy được là :
Học sinh lớp 4A
26 x 21 = 546 (lít)
trình bày bài giải bằng 2 cách
Vòi thứ hai chảy được là:
26 x 16 = 416 (lít)
Đáp số: Vòi thứ nhất: 546 lít
Vòi thứ hai: 416 lít.
2.3.3. Biện pháp 3: Người giáo viên phải nắm vững nội dung giải toán có lời
văn ở lớp 4 và giúp học sinh nắm vững cách giải các dạng toán đó
Nội dung các bài toán có lời văn ở lớp 4 là:
- Tìm số trung bình cộng.
- Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.
- Tìm phân số của một số.
- Tìm hai số khi biết tổng hoặc hiệu và tỉ số của hai số đó.
- Tính chu vi, diện tích của một số hình đã học.
- Ngoài ra còn có dạng toán về ứng dụng tỷ lệ bản đồ.
Nhìn chung, các bài toán có lời văn dạng toán tổng hợp ở lớp 4 yêu cầu HS phải
biết trình bày lời giải đầy đủ đúng với phép tính tương ứng và có đáp số. Trong đó,

+ Mà ta phải tính được số sản phẩm của 5 ô tô đi đầu chuyển được và số sản
phẩm của 4 ô tô đi sau chuyển được rồi chia cho tổng số các ô tô ở đây là 9 (9 ô tô)
+ Cách giải như sau:
5 ô tô đi đầu chuyển được số sản phẩm là:
5 x 36 = 180 ( tạ)
4 ô tô đi sau chuyển được số sản phẩm là:
4 x 45 = 180 (tạ)
Trung bình mỗi ô tô chuyển được số sản phẩm là:
(180 + 180) : 9 = 40 (tạ)
Đổi 40 tạ = 4 tấn
Đáp số: 4 tấn.
+ Lưu ý HS cần phải đọc kỹ câu hỏi vì đơn vị cho là tạ, câu hỏi thì lại là tấn, nên
nếu học sinh cứ quen cách trả lời ở lớp 1, 2, 3 thì sẽ đẫn đến sai lời giải thứ 3 dẫn tới
bài toán thực hiện chưa hoàn chỉnh. Cụ thể như các ví dụ sau:
Bài 3 ( SGK – Trang 37): Một cửa hàng ngày đầu bán được 120m vải, ngày thứ 2
bán được bằng số mét vải bán trong ngày đầu, ngày thứ ba bán được gấp đôi ngày
đầu. Hỏi trung bình mỗi ngày cửa hàng bán được bao nhiêu mét vải? [1].
- Đây là dạng bài toán HS gặp rất nhiều lúng túng trong quá trình làm bài. Vì hầu
hết khi đọc xong đề bài HS không phân tích được đề bài. Vả lại vốn ngôn ngữ suy
luận của HS còn hạn chế, dẫn đến có rất ít HS tự làm được kiểu bài toán này.

8


- Cần định hướng cho HS giải như sau:
+ Ta thấy đề bài chỉ cho ta biết về số liệu cụ thể của ngày đầu. Vậy ta cần phải
tìm được số vải của ngày thứ hai và ngày thứ ba dựa vào số vải của ngày đầu.
+ Tóm tắt đề bài bằng sơ đồ đoạn thẳng một cách hợp lý nhất. Theo sơ đồ sau:
Ngày thứ hai :
120m

36 – 14 = 22 (tuổi)
? tuổi
(hoặc 14 + 8 = 22 (tuổi))
Đáp số: Em: 14 tuổi
Chị: 22 tuổi.
Thử lại: 14 + 22 = 36
22 – 14 = 8
Ví dụ: Bài toán: Mẹ hơn em 25 tuổi, sau đấy 5 năm tổng số tuổi của hai mẹ con
em là 53 tuổi. Tính số tuổi của mỗi người hiện nay?

9


- Đây là dạng bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu vẫn liên quan đến tính tuổi.
Nhưng khi đọc xong đề bài có rất ít HS hiểu được đề bài. Do đó GV cần định hướng
cho HS đọc kỹ đề bài và hiểu được từ “sau đấy 5 năm” có nghĩa là sau 5 năm nữa thì
tổng số tuổi của hai mẹ con mới là 53 tuổi.
- Vậy để tính được tuổi của mỗi người hiện nay ta phải dựa vào tuổi của hai mẹ
con sau 5 năm rồi lấy số tuổi đó trừ đi 5.
- Hướng dẫn vẽ sơ đồ:
Tuổi mẹ:
Tuổi con:

5tuổi

25 tuổi

53 tuổi

Bài giải

Chiều dài hình chữ nhật là:
(42 + 6) : 2 = 24 (cm)
Chiều rộng hình chữ nhật là:
24 – 6 = 18 (cm)
Diện tích hình chữ nhật là:
24 x 18 = 432(cm2)
Đáp số: 432 cm2
2.3.3.3. Dạng bài toán về tìm phân số của một số.
- Đối với dạng bài toán này, thực ra là dạng bài toán tìm 1 phần mấy của một số,
nhưng được phát triển ở mức độ cao hơn có liên quan đến phân số.
- Tuy vậy, trong khi giải toán vẫn có nhiều HS bị nhầm lẫn là lấy số đó để chia
cho phân số. Nếu vậy thì áp dụng vào quy tắc chia một số cho một phân số sẽ hoàn
toàn sai.
- Chính vì thế khi dạy dạng bài toán này, GV cần lưu ý HS phải luôn luôn nhớ lấy
số đó chia, nhân với phân số rồi thực hiện tính. Nhưng như thế thì vẫn còn có nhiều
HS bị nhầm lẫn nên để HS nhớ một cách đơn giản nhất là: Lấy số đó chia cho mẫu số
rồi nhân với tử số hoặc nhân tử số chia cho mẫu số.
Ví dụ: Bài toán: Một trưòng học có 432 học sinh nữ, số học sinh nam bằng số
học sinh nữ. Hỏi trường học đó có tất cả bao nhiêu học học sinh?
- Đối với dạng bài toán này không tóm tắt đề bài.
- Hướng dẫn HS tìm số HS nam bằng cách lấy số HS nữ là 432 chia cho tổng số
phần là 9, có nghĩa là 1 phần bằng nhau của HS nữ cũng chính là 1 phần bằng nhau
của HS nữ cũng chính là một phần bằng nhau của HS nam.
- Lấy một phần bằng nhau của HS nữ nhân với tổng số phần của HS nam.
- Lấy số HS nữ cộng với HS nam thì được số HS của cả trường.
Số học sinh nam của trường đó là:
(432: 9) x 8 = 384 (học sinh)
Trường học đó có tất cả số học sinh là:
432 + 334 = 816 (học sinh)
Đáp số: 816 học sinh


50 tuổi

Con:
? tuổi

Tổng số phần bằng nhau là:
4 + 1 = 5 (phần)
Tuổi bố hiện nay là:
(50: 5) x 4 = 40 (tuổi)
Tuổi con hiện nay là:
50 – 40 = 10 (tuổi)
Tuổi bố sau 5 năm là:
40 + 5 = 45 (tuổi)
Tuổi con sau 5 năm là:
10 + 5 = 15 (tuổi)
Đáp số: Bố: 45 tuổi
Con: 15 tuổi
2.3.3.5. Dạng bài toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó:
Mục tiêu cần làm cho HS xác định được dạng toán thông qua các thuật ngữ “hiệu,
tỉ số” các thuật ngữ này nhiều khi không tường minh nắm chắc các bước giải
như dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó. Cụ thể như sau:
Ví dụ: Bài toán: Một trang trại có số gà trống kém số gà mái là 1295 con gà.
Biết rằng 8 lần số gà trống thì bằng số gà mái. Tính số gà mái của trang trại đó?
- Khi dạy dạng bài toán này, sau khi tóm tắt bài toán này sau khi tóm tắt bằng sơ
đồ, HS thường nhầm lẫn với dạng bài toán về tổng hoặc không xác định được số lớn
bằng mấy phần, số bé là mấy phần.
12



Đối với bài toán trên học sinh có thể tóm tắt như sau :
Hình bình hành có:
a: 40dm, h: 25dm
S : … dm2 ?
Sau khi tóm tắt được bài toán nêu trên, HS sẽ tính được diện tích của hình bình
hành theo công thức: S = a x h
- GV phải rèn cho HS kỹ năng phân tích, suy luận trên sự tóm tắt bài toán để xác
lập các phép tính sao cho phù hợp, cụ thể người GV phải nêu ra hệ thống câu hỏi
như: tìm số đó bằng cách nào? làm phép tính gì? làm thé nào để tìm được?
- Lời giải trước mỗi phép tính thường là những câu ngắn gọn, sát với nội dung
phép tính sắp trình bày.
Ví dụ: Bài 3 (SGK – trang 85) [1].
Bài giải
Chiều dài mảnh đất hình chữ nhật là:
( 307 + 97 ) : 2 = 202 ( m )
Chiều rộng mảnh đất hình chữ nhật là:
13


202 – 97 = 105 ( m )
a. Chu vi mảnh đất đó là:
( 202 + 105 ) x 2 = 614 ( m )
b. Diện tích hình chữ nhật là:
202 x 105 = 21210 ( m2 )
Đáp số:
a. 614 m
b. 21210 m2
- GV cần hướng dẫn HS tự kiểm tra lại kết quả của bài toán bằng cách hướng dẫn
các em nhìn vào yêu cầu của bài toán và sự liên quan giữa các đại lượng, yếu tố, kết
quả đã phù hợp với các điều kiện mà bài toán đưa ra chưa ? các phép tính trong bài đã

Cách 2: Các nhóm hoạt động trong cả tiết học hoặc thay đổi trong từng phần của
tiết học (kiểm tra bài cũ, dạy kiến thức mới, luyện tập, củng cố)

14


Cách 3: Các nhóm được thảo luận cùng một nhiệm vụ hoặc những nhiệm vụ khác
nhau. Ví dụ:
- Nhóm cùng thảo luận một nhiệm vụ: Cùng làm một bài tập hoặc cùng tìm
hiểu một vấn đề.
- Nhóm thảo luận nhiều nhiệm vụ khác nhau. Ví dụ: mỗi nhóm thực hành đo một
đoạn thẳng.
Trong hoạt động nhóm, tôi cho HS phân công mỗi em thực hiện một phần việc,
mọi cá nhân trong nhóm đều phải làm việc để giúp đỡ nhau tìm hiểu và giải quyết
vấn đề. Sau đó đại diện nhóm trình bày kết quả trước lớp; các nhóm còn lại chất vấn,
bổ sung.
\\

Tổ chức hoạt động nhóm học tập trong giờ học môn Toán – Lớp 4A
Như vậy: Trong một tiết học Toán, hoạt động học tập theo nhóm cũng góp phần
quan trọng vào kết quả học tập. Dạy học theo nhóm chính là hình thức giảng dạy đặt
HS vào môi trường học tập tích cực, giúp HS mở rộng suy nghĩ và thực hành các kĩ
năng tư duy toán như: phân tích, tổng hợp, khái quát,... được tạo điều kiện để hoạt
dộng với các bạn làm cho các em có hứng thú, tích cực hơn nữa trong học tập môn
Toán. Đặc biệt trong hoạt động thảo luận nhóm tôi hướng dẫn HS hoàn toàn tuân thủ
theo các nguyên tắc tổ chức dạy học theo nhóm, đàm thoại và thảo luận đối với tất cả
các môn học và phải phù hợp với nội dung, kiến thức môn Toán.
2.3.5. Biện pháp 5: Xây dựng phong trào học Toán ngoài giờ
- Với các biện pháp trên, hàng tuần tôi thường kiểm tra một số học sinh trong lớp
(cụ thể những HS học chưa hoàn thành kiến thức, kỹ năng) ở tiết ôn luyện Toán, tôi

* Em thứ hai: Lập sơ đồ phân tích:
Hiệu số phần bằng nhau: 5 - 1 = 4 (phần))
Vịt = Hiệu(32) : hiệu số phần(4) số phần của vịt (1)
Gà = Hiệu + vịt
* Em thứ ba:
Bài giải:
Hiệu số phần bằng nhau là:
5 – 1 = 4 ( phần)
Khối lượng vịt người đó mua là:
32 : 4 x 1 = 8 (kg)
Khối lượng gà người đó mua là:
32 + 8 = 40 (kg)
Đáp số: Vịt: 8kg
Gà: 40 kg
- Ngoài ra tôi còn tổ chức cho HS học Toán ngoài giờ bằng các hình thức như: Tổ
chức trò chơi học tập Toán hay học Toán ngoài lớp học để tạo không khí thoải mái,
kích thích hứng thú học tập môn Toán cho HS, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
môn Toán.

16


Tổ chức trò chơi học tập Toán
Tổ chức học tập Toán
trong lớp học (buổi 2)- Lớp 4A
ngoài lớp học (buổi 2)- Lớp 4A
- Đối với HS có năng khiếu môn Toán: Để phát triển tư duy, tính tích cực, sáng
tạo của HS đồng thời để phát hiện nhiều HS có năng khiếu Toán, thỉnh thoảng tôi ra
đề toán và yêu cầu HS trả lời nhanh kết quả bài học trong 3-5 giây bằng miệng hoặc
làm nhanh trên vở nháp, bảng con. .....

giải Khuyến khích trong giao lưu câu lạc bộ “Em yêu Toán, Tiếng Việt” cấp huyện
Xây dựng và thực hiện tốt phong trào học Toán ngoài giờ cũng chính là một trong
những biện pháp tổ chức nâng cao chất lượng môn Toán cho HS.
2.3.6. Biện pháp 6: Đánh giá, nhận xét học sinh thường xuyên, phù hợp
Kết quả học Toán của HS phản ánh kết quả dạy của giáo viên. Căn cứ kết quả học
Toán của HS, tôi điều chỉnh cách dạy cho phù hợp. Do vậy, trong dạy học Toán việc
đánh giá kết quả học tập của HS vừa đóng vai trò “ bánh lái” vừa giữ vai trò “động
lực” dạy học. Nó định hướng, thúc đẩy mạnh mẽ động lực dạy học và là giai đoạn
cuối cùng của một hoạt động dạy học. Đặc biệt hiện nay đang thực hiện Thông tư số
22/2016/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của
Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TTBGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì việc
chấm chữa bài cho học sinh càng quan trọng, đòi hỏi GV sau mỗi đơn vị học tập
trong tiết Toán phải đánh giá nhận xét HS một cách cụ thể không chung chung mà
chỉ ra được biện pháp cho các em sửa sai. Việc làm này đã khuyến khích HS học tập
chủ động, tích cực, sáng tạo, theo năng lực cá nhân, tránh gây căng thẳng làm mất
tính tự tin của HS. Để khích lệ HS vươn lên trong học tập, tôi thường nhận xét ngắn
gọn bằng lời hay viết vào vở HS, chỉ rõ chỗ học sinh làm chưa đúng, đặc biệt thể hiện
tình cảm với HS trong nhận xét.
Ví dụ: Nếu khi chấm bài HS biết cách giải nhưng tính sai kết quả thì khi chấm bài
GV nhận xét: "Con hiểu bài, biết vận dụng nhưng nếu tính toán cẩn thận con sẽ đạt
kết quả cao", hay bài HS làm chưa đúng lời giải GV nhận xét: “Con lưu ý cách đặt lời
giải cho phù hợp nhé!”, hay HS làm bài tốt thì GV nhận xét: “Con làm bài tốt. Cô
khen!”...

18


Minh họa việc chấm, nhận xét bài làm trong vở Toán cho học sinh lớp 4A.
Ngoài việc đánh giá HS tôi còn cho học sinh tự đánh giá kết quả của bản thân và
của bạn bằng lời hay bằng chấm đúng, sai (ghi bằng bút chì) vào vở để tạo cơ hội cho


Điểm 5-6

Điểm dưới 5

SL
9
11

SL
10
12

SL %
6 24,0
4 14,8

SL
0
0

%
36,0
40,7

%
40,0
44,4

%

* Tìm ra những phương pháp dạy học tích cực, phù hợp với năng lực của HS:
- Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh HS, đặc biệt quan tâm nhiều đến HS chưa hoàn
thành môn Toán.
- Kết hợp chặt chẽ quá trình hoạt động giữa lên lớp và ngoài giờ, tổ chức trò chơi
học tập để thay đổi hình thức dạy học, tạo không khí học tập vui vẻ, thoải mái.
- Tận tụy với công việc, nhiệt tình với HS. Tìm hiểu HS để phát hiện ra nguyên
nhân khiến HS đạt được cũng như chưa đạt được kết quả trong học tập. Từ đó phát
huy điểm mạnh, khắc phục điểm ở HS chưa đạt được. Người GV không những phải
có kiến thức vững chắc phương pháp giảng dạy hay mà GV cần phải cho HS rèn
luyện, thực hành nhiều.
- GV phải tiếp tục học tập, tìm tòi, sáng tạo, trau dồi vốn sống kinh nghiệm để
dạy học tốt hơn .
- Ngoài ra, GV phải phân loại đối tượng HS trong lớp, đặc biệt quan tâm đến HS
chưa hoàn thành kiến thức, kỹ năng luôn thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học,
kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS để phù hợp với thực tiễn và đối tượng HS.
Cần phải gần gũi động viên HS, khích lệ các em hứng thú trong học tập. phải làm cho
mọi HS trong lớp đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản đồng thời chú ý đến đối tượng
HS hoàn thành kiến thức, kỹ năng ở mức độ hoàn thành tốt để các em không thấy
nhàm chán vì bài học quá dễ. GV chỉ là người hướng dẫn, giúp đỡ HS tự đi tìm kiến
thức và lĩnh hội kiến thức đó dưới những phương pháp tích cực nhất của mình, có
như thế giờ học toán mới đem lại hiệu quả như mong muốn.
Còn với HS thì phải:
- Có ý thứ tự học, tự tìm hiểu.
- Sau mỗi bài toán học sinh phải biết xem xét lại kết quả mình làm để giúp các em
tự tin hơn khi giải quyết một vấn đề.
- Trong khi giải phải tự đặt câu hỏi: " Làm phép tính đó để làm gì? " từ đó có
hướng giải đúng và chính xác.
- Phải có đủ các loại sách vở phục vụ cho môn học, chuẩn bị bài và đồ dùng đầy
đủ trước khi đến lớp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status