Một số phương pháp rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ địa lí cho học sinh lớp 9 trường THCS ái thượng - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

“MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VẼ BIỂU

ĐỒ ĐỊA LÍ CHO HỌC SINH LỚP 9 TRƯỜNG THCS ÁI
THƯỢNG”

Người thực hiện: Nguyễn Thị Tảo
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Ái Thượng
SKKN thuộc môn: Địa

THANH HOÁ NĂM 2018


MỤC LỤC
STT

NỘI DUNG

TRANG

1.

MỞ ĐẦU

1


2.

NỘI DUNG

3

2.1

Cơ sở lý luận của một số phương pháp rèn luyện kỹ năng
về biểu đồ Địa lý lớp 9 ở trường THCS Ái Thượng.

3

1.1
1.2

3
Biểu đồ.
Khi rèn luyện kỹ năng về biểu đồ cần nắm được các dạng 4
biểu đồ sau:

1.3

Các kĩ năng cơ bản khi vẽ biểu đồ.

2.

Thực trạng về việc rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ.



III.

KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:

1.

Kết luận.

2.

Kiến nghị.

24

TÀI LIỆU THAM KHẢO

26

23


I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Năm học 2017 - 2018 là năm học tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29NQ/TW của Trung ương Đảng lần thứ 8 - Khóa XI về “Đổi mới căn bản toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
Vì vậy, đổi mới phương pháp, đổi mới cách thức tổ chức dạy học là một
trong những nhiệm vụ bắt buộc đối với mỗi thầy, cô giáo hiện nay.
Trong những năm qua, chất lượng giáo dục toàn diện tuy được nâng lên

nhiều học sinh chưa coi trọng hoặc còn rất yếu kĩ năng vẽ biểu đồ. Đặc biệt đối
với học sinh dân tộc thiểu số thì việc rèn luyện kỹ năng địa lí cho các em còn
gặp nhiều khó khăn như các em còn hạn chế trong việc tính toán để xử lí số liệu,
có em vẽ biểu đồ một cách tùy tiện không theo một quy ước nào, có em vẽ biểu
đồ của đối tượng này lại nhầm vào biểu đồ của đối tượng khác.Thông qua đề tài
này, tôi cũng muốn giúp một số giáo viên mới ra trường còn lúng túng trong việc
rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh sẽ biết cách đọc, vẽ, nhận xét và giải
thích biểu đồ nhất là các học sinh lớp 9, để giúp các em học tập có hiệu quả hơn.
Đặc biệt là các em tham gia đội tuyển học sinh giỏi địa lí và qua đó nhằm khắc
sâu kiến thức cho học sinh, giúp các em tự tin, có niềm ham mê trong việc học
môn Địa lí. Đồng thời rèn luyện tư duy sáng tạo, biết tính toán, gắn lý thuyết với
thực tiễn đời sống.
Từ kinh nghiệm bản thân qua nhiều năm giảng dạy địa lí và qua thực tế dự
giờ đồng nghiệp, kết hợp với việc nghiên cứu các tài liệu tôi muốn viết lên đề tài
“ Một số phương pháp rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ địa lí cho học sinh lớp 9
Trường THCS Ái Thượng”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài.
Tìm hiểu và rèn luyện kĩ năng về biểu đồ cho học sinh lớp 9. Giúp cho giáo
viên và học sinh có những biện pháp rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ cho học sinh
lớp 9 nói riêng. Đồng thời nâng cao chất lượng giảng dạy môn địa lí nói chung.
3. Đối tượng nghiên cứu đề tài.
Rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ địa lí cho học sinh lớp 9 - Trường THCS Ái
Thượng
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Đối với đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp để nghiên cứu đó là:
- Phương pháp nghiên cứu li thuyết: Nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề
tài
- Phương pháp quan sát: Nhằm tìm hiểu việc rèn luyện kĩ năng về vẽ biểu
đồ của học sinh trong giờ học.
- Phương pháp điều tra; Nhằm đánh giá thực trạng có bao nhiêu học sinh

phong phú, đa dạng. Mỗi loại biểu đồ lại có thể được dùng để biểu hiện nhiều
chủ đề khác nhau. Vì vậy, khi vẽ biểu đồ, việc đầu tiên là phải đọc kĩ đề bài để
tìm hiểu chủ đề định thể hiện trên biểu đồ (Thể hiện động thái phát triển, so sánh
tương quan độ lớn hay thể hiện cơ cấu). Sau đó, căn cứ vào chủ đề đã được xác
định lựa chọn loại biểu đồ thích hợp nhất.
1.2. Khi rèn luyện kỹ năng về biểu đồ cần nắm được các dạng biểu đồ
sau:
3


- Biểu đồ cột
- Biểu đồ thanh ngang
- Biểu đồ kết hợp
- Biểu đồ hình tròn
- Biểu đồ miền
- Biểu đồ cột chồng
- Biểu đồ đường biểu diễn.
1.3. Các kĩ năng cơ bản khi vẽ biểu đồ.
Rèn luyện kỹ năng vẽ, phân tích biểu đồ có ý nghĩa rất lớn trong việc
giảng dạy bộ môn Địa Lí. Vì nó góp phần quyết định nên kết quả học tập của
các em, vậy nên giáo viên phải rèn luyện cho các em những kỹ năng chủ yếu
sau:
- Kỹ năng xác định dạng biểu đồ thích hợp.
- Kỹ năng tính toán, xử lí các số liệu.
+ Tính tỉ lệ giá trị cơ cấu( %)
+ Tính chỉ số phát triển( %)
+ Quy đổi tỉ lệ % ra góc ở tâm
+ Tính bán kính của đường tròn của các đại lượng có giá trị tuyệt đối khác
nhau.
- Kĩ năng vẽ biểu đồ sao cho đảm bảo tính chính xác, tính thẩm mĩ, tính

thẩm mĩ; chia tỉ lệ năm trên trục ngang không chính xác; thiếu đơn vị trên hai
đầu trục…+ Một số học sinh thường quên ghi đơn vị, hoặc tên biểu đồ thể hiện
cái gì? lỗi này cũng làm mất đi một phần điểm của học sinh.
+ Có một số bài tập yêu cầu học sinh sau khi vẽ biểu đồ phải rút ra nhận
xét sự thay đổi của các đại lượng hoặc sự vật, hiện tượng địa lí đã vẽ, song một
số em vẫn chưa coi trọng, hoặc chỉ nhận xét sơ sài thì cũng sẽ mất điểm hoặc
không được điểm tối đa vì thế bước nhận xét sau khi vẽ biểu đồ cũng rất quan
trọng, giáo viên bộ môn cũng cần quan tâm, hướng dẫn cho học sinh thấy được
vai trò quan trọng của các công việc này.
- Nếu người giáo viên bộ môn nào thực hiện được tốt các công việc dẫn
dắt, chỉ đạo các bước tiến hành cho học sinh và học sinh thực hiện tốt thì bài
thực hành rèn kỹ năng vẽ biểu đồ sẽ đạt kết quả cao.
* Nguyên nhân :
- Một số hạn chế của giáo viên:

5


+ Một số giáo viên ít quan tâm đến rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ cho học
sinh như: làm thay học sinh trong các tiết thực hành, không đánh giá kết quả của
học sinh sau mỗi bài thực hành, dặn học sinh làm bài tập biểu đồ nhưng thiếu
thời gian hướng dẫn, không có biểu đồ mẫu cho học sinh quan sát…
+ Một số giáo viên còn hạn chế về kĩ năng biểu đồ nên hướng dẫn học
sinh còn rất khó khăn nhất là những giáo viên không chuyên, dạy chéo môn.
- Một số học sinh có xu hướng đề cao các môn tự nhiên, xem nhẹ môn địa
lí và cho rằng đây là môn thuộc lòng nên không phải đầu tư suy nghĩ, thờ ơ với
môn học, học mang tính đối phó. Chính vì vậy một số học sinh đã chưa biết khai
thác bảng số liệu, kĩ năng nhận dạng biểu đồ và kĩ năng vẽ biểu đồ còn yếu,
chưa nắm được phương pháp vẽ biểu đồ trong bài tập địa lí 9.
- Một số học sinh thiếu cẩn thận, trong quá trình vẽ và phân tích số liệu,

40

100

12

30,0

28

70.0

Tổng

40

100

12

30,0

28

70.0

* Năm học 2017-2018 ( Kết quả đầu năm học)

Lớp



22

71.0

9B

31

100

6

18.8

25

81.2

Tổng

62

100

15

24.19

47



- Biểu đồ kết hợp cột đường: Thể hiện tình hình phát triển qua nhiều mốc
thời gian.
* Dựa vào lời dẫn của câu hỏi để xác định loại biểu đồ cần vẽ:
- Đối với các dạng câu hỏi yêu cầu vẽ biểu đồ thể hiện quy mô, cơ cấu và
sự thay đổi quy mô cơ cấu của tổng thể trong một, hai hoặc ba mốc thời gian
hoặc so sánh quy mô cơ cấu của một, hai hoặc ba đối tượng trong cùng một mốc
thời gian… thì dạng biểu đồ lựa chọn phù hợp nhất là hình tròn.
- Đối với các dạng câu hỏi yêu cầu vẽ biểu đồ thể hiện tình hình phát
triển hay so sánh giá trị của các đối tượng trong một hoặc nhiều mốc thời
gian… thì dạng biểu đồ lựa chọn phù hợp nhất là hình cột, ngoài ra có thể lựa
chọn biểu đồ đường hay biểu đồ kết hợp.
- Đối với các dạng câu hỏi yêu cầu vẽ biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng
hay động thái phát triển của các đối tượng trong nhiều mốc thời gian… thì dạng
biểu đồ lựa chọn phù hợp nhất là biểu đồ đường, ngoài ra trong một số trường
hợp ta có thể lựa chọn biểu đồ cột hay biểu đồ kết hợp.
- Đối với các dạng câu hỏi yêu cầu vẽ biểu đồ thể hiện cơ cấu và sự thay
đổi cơ cấu của tổng thể trong nhiều mốc thời gian (Từ bốn mốc trở lên) … thì
biểu đồ lựa chọn phù hợp nhất là biểu đồ miền.
* Tóm lại: Ở giải pháp 1, muốn cho học sinh xác định được dạng biểu đồ
chính xác, phù hơp thì giáo viên phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng biết dựa
vào lời dẫn của câu hỏi để xác định loại biểu đồ cần vẽ chính xác.
3.2 Giải pháp 2: Phương pháp hướng dẫn học sinh cách vẽ và nhận
xét các dạng biểu đồ.
a. Biểu đồ tròn
Dạng biểu đồ thể hiện cơ cấu, tỉ lệ các thành phần trong một tổng thể.
Để ý xem đề ra cho nhiều thành phần để thể hiện trong 1 hoặc 2 mốc năm
thì phải lựa chọn biểu đồ tròn. Luôn nhớ chọn biểu đồ tròn khi “ít năm, nhiều
thành phần”


Vùng

Cả nước

Miền núi, trung du

Đồng bằng

Diện tích (%)

100

75,0

25,0

Dân số (%)

100

26,5

73,5

Bước 1: Xử lí số liệu
- Đối với dạng biểu đồ hình tròn sau khâu xử lí số liệu ta phải thực hiện
khâu tính bán kính r cho hình tròn trong các trường hợp cần thiết.
9


- Sau đó mới nhận xét về nhất, nhì, ba … của các yếu tố trong từng năm,
nếu giống nhau thì ta gom chung lại cho các năm một lần thôi (không nhắc lại 2,
3 lần)
- Cuối cùng, cho kết luận về mối tương quan giữa các yếu tố.
- Giải thích về vấn đề
b. Biểu đồ hình cột
Dạng này sử dụng để chỉ sự khác biệt về qui mô khối lượng của 1 hay 1
số đối tượng địa lí hoặc sử dụng để thực hiện tương quan về độ lớn giữa các đại
lượng.
Ví dụ : Vẽ biểu đồ so sánh dân số , diện tích ...của 1 số tỉnh (vùng , nước)
hoặc vẽ biểu đồ so sánh sản lượng (lúa , ngô , điện , than...) của 1 số địa phương
qua 1 số năm.
Một số dạng biểu đồ hình cột thường gặp
- Biểu đồ cột đơn
- Biểu đồ cột chồng
- Biểu đồ cột đơn gộp nhóm (loại này gồm 2 loại cột ghép cùng đại lượng
và cột ghép khác đại lượng )
- Biểu đồ thanh ngang
Cách vẽ biểu đồ hình cột:
Các bước tiến hành khi vẽ biểu đồ hình cột
- Bước 1: Chọn tỉ lệ thích hợp
- Bước 2: Kẻ hệ trục vuông góc (trục đứng thể hiện đơn vị của các đại
lượng, trục ngang thể hiện các năm hoặc các đối tượng khác nhau)
- Bước 3: Tính độ cao của từng cột cho đúng tỉ lệ rồi thể hiện trên giấy
- Bước 4: Hoàn thiện bản đồ ( ghi các số liệu tương ứng vào các cột tiếp
theo vẽ kí hiệu vào cột và lập bản chú giải cuối cùng ta ghi tên biểu đồ)
Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ cột hoặc dựa vào một số dấu hiệu nhận biết;
trong đó biểu đồ cột được chia ra các loại như sau:

11


- Biểu đồ cột chồng:
+ Đối tượng thể hiện: 2 trở lên.
+ Thuật ngữ: Thể hiện mối quan hệ, tình hình, thể hiện … so với…\
+ Giá trị của đối tượng: Tuyệt đối nhưng phải cùng đơn vị.
- Vẽ chính xác, đẹp.
- Ghi tên biểu đồ và có chú giải (cột ghép, cột chồng…).
Lưu ý: Đọc kĩ đề xem yêu cầu đề ra vẽ loại biểu đồ nào cho hợp lí.
Kẻ hệ trục tọa độ với trục tung và trục hoành có mũi tên ở hai đầu trục với
kích thước sao cho phù hợp với khổ tờ giấy thi. Trục tung thể hiện đơn vị đo của
đối tượng địa lí đã cho và trục hoành thể hiện thời gian. Căn cứ vào bảng số liệu
cho trước, hãy chia trục tung và trục hoành thành các mốc tương ứng với số liệu
và số năm sao cho tương quan giữa chiều cao và chiều ngang của biểu đồ được
vẽ có tính mĩ thuật.
Các cột chỉ khác nhau về độ cao còn bề ngang của các cột phải bằng nhau.
Tùy theo yêu cầu cụ thể mà vẽ khoảng cách các cột bằng nhau hoặc cách nhau
theo đúng tỉ lệ thời gian .
Cần lưu ý là ở biểu đồ hình cột thì việc thể hiện độ cao của các cột là điều
quan trọng hơn cả bởi vì nó cho thấy rõ sự khác biệt vì qui mô số lượng giữa các
năm hoặc các đối tượng cần thể hiện .
Còn về khoảng cách các năm, nhìn chung cần theo đúng tỉ lệ. Tuy nhiên,
trong 1 số trường hợp có thể vẽ khoảng cách các cột bằng nhau để đảm bảo
tính trực quan và tính thẩm mĩ của biểu đồ.
* Biểu đồ hình cột thì việc thể hiện độ cao của các cột là điều quan trọng
hơn cả, các cột chỉ khác nhau về độ cao còn chiều ngang các cột phải bằng nhau
* Cách nhận xét
Trường hợp cột đơn (chỉ có một yếu tố)

13


mưa nhiều và hai tháng mưa ít).

14


- Đánh giá biểu đồ thể hiện vị trí địa điểm thuộc miền khi hậu nào? (căn
cứ vào mùa mưa tập trung; tháng mưa nhiều hay dàn trải, tháng mưa ít; kết hợp
cùng sự biến thiên nhiệt độ để xác định vị trí).
c. Biểu đồ đường (đồ thị)
Dạng biểu đồ thường dùng để vẽ sự thay đổi của các đại lượng địa lí khi
số năm nhiều và tương đối liên tục, hoặc thể hiện tốc độ tăng trưởng của một
hoặc nhiều đại lượng địa lí có đơn vị giống nhau hay đơn vị khác nhau.
Các loại biểu đồ dạng đường:
* Loại có một hoặc nhiều đường vẽ theo giá trị tuyệt đối.
* Loại có một hoặc nhiều đường vẽ theo giá trị tương đối.
Các bước vẽ biểu đồ đường
Bước1: Kẻ hệ trục tọa độ vuông góc (trục đứng thể hiện độ lớn của các
đối tượng như số người, sản lượng, tỉ lệ %.còn trục nằm ngang thể hiện thời
gian)
Bước 2: Xác định tỉ lệ thích hợp ở cả 2 trục ( chú ý tương quan giữa độ
cao của trục đứng và độ dài của trục nằm ngang sao cho biểu đồ đảm bảo được
tính trực quan và mĩ thuật )
Bước 3: Căn cứ vào các số liệu của đề bài và tỉ lệ đã xác định đẻ tính toán
và đánh giá dấu tọa độ của các điểm mốc trên 2 trục . Khi đánh dấu các năm trên
trục ngang cần chú ý đến tỉ lệ (cần đúng tỉ lệ cho trước) . Thời điểm năm đầu
tiên nằm trên trục đứng
Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ ( ghi số liệu vào biểu đồ , nếu sử dụng kí
hiệu thì cần có bản chú giải cuối cùng ta ghi tên biểu dồ )
Lưu ý :
+ Nếu vẽ 2 hoặc nhiều đường biểu diễn có chung 1 đơn vị thì mỗi đường


16


- Sau đó, chúng ta tiến hành so sánh, tìm mỗi liên hệ giữa các đường biểu
diễn.
- Kết luận và giải thích.
d. Biểu đồ miền
Dạng biểu đồ miền còn được gọi là biểu đồ diện. Loại biểu đồ này thể
hiện được cả cơ cấu và động thái phát triển của các đối tượng. Toàn bộ biểu đồ
là 1 hình chữ nhật (hoặc hình vuông ), trong đó được chia thành các miền khác
nhau
Chọn vẽ biểu đồ miền khi cần thể hiện cơ cấu tỉ lệ. Để xác định vẽ biểu
đồ miền, với số liệu được thể hiện trên 3 năm (nghĩa là việc vẽ tới 4 hình tròn
như thông thường thì ta lại chuyển sang biểu đồ miền). Vậy số liệu đã cho cứ
trên 3 năm mà thể hiện về cơ cấu thì vẽ biểu đồ miền.
Dấu hiệu: Nhiều năm, ít thành phần
Một số dạng biểu đồ miền thường gặp :
+ Biểu đồ miền chồng nối tiếp
+ Biểu đồ chồng từ gốc tọa độ
Cách vẽ biểu đồ miền:
Các bước tiến hành khi vẽ biểu đồ miền
Bước 1: Vẽ khung biểu đồ.
- Khung biểu đồ miễn vẽ theo giá trị tương đối thường là một hình chữ
nhật. Trong đó được chia làm các miền khác nhau, chồng lên nhau. Mỗi miền
thể hiện một đối tượng địa lí cụ thể.
- Các thời điểm năm đầu tiên và năm cuối cùng của biểu đồ phải được
năm trên 2 cạnh bên trái và phải của hình chữ nhật, là khung của biểu đồ.
- Chiều cao của hình chữ nhật thể hiện đơn vị của biểu đồ, chiều rộng của
biểu đồ thường thể hiện thời gian (năm).

18


e. Biểu đồ kết hợp (Cột và đường)
Dạng biểu đồ kết hợp thường một biểu đồ hình cột và một đường biểu
diễn để thể hiện động lực phát triển và tương quan về độ lớn giữa các đại lượng.
Khi vẽ cần chú ý thể hiện rõ nhất mối tương quan giữa hai biểu đồ được
vẽ kết hợp. với loại biểu đồ này mức độ phức tạp hơn các dạng biểu đò khác.
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh vẽ theo các bước sau:
- Bước 1; Nêu mục tiêu, yêu cầu bài tập.
- Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh tiến hành các thao tác, các bước
và các công việc cụ thể tùy thược vào nội dung bài tập.
- Bước 3: Học sinh thực hiện công việc theo sự hướng dẫn của giáo viên.
- Bước 4: Tổng kết, đánh giá.
Ví dụ:
Vẽ biểu đồ và nhận xét về tốc độ tăng trưởng diện tích và sản lượng cây
lạc nước ta trong thời gian từ 1985 đến 2001. Từ biểu đồ đã vẽ và bảng số liệu
hãy nhận xét sự phát triển của cây lạc trong thời gian nói trên.
Năm

Nghìn ha

Nghìn tấn

Năm

Nghìn ha

Nghìn tấn


1999

247,6

318,1

1988

224,0

231,0

2000

244,9

355,5

1990

204,0

259,0

2001*

241,4

352,5


100,0

100,0

9,0

1995

245,2

352,1

12,9

1983

134,0

133,3

8,9

1998

254,2

406,3

14,3


14,5

1990

192,5

272,6

12,7

2001*

227,7

371,1

14,6

- Vẽ biểu đồ kết hợp.
Cột thể hiện diện tích, đồ thị thể hiện sản lượng.
Có hai trục tung với đơn vị khác nhau, có một trục hoành chia đơn vị theo
năm. Chú ý là trục hoành phải chia đơn vị liên tục, nên vẽ cột trước khi vẽ
đường.

Biểu đồ diện tích và sản lượng cây lạc nước ta trong thời gian từ 1980 đến 2001.
Diện tích

Sản lượng

Cách nhận xét.

đồ địa lý cho học sinh lớp 9trường THCS Ái Thượng”
- Đối với giáo viên:
Với các bài thực hành, bài tập đã giúp cho giáo viên hệ thống các loại
biểu đồ, phân loại các dạng bài tập biểu đồ. Qua đó tạo điều kiện cho giáo viên
phát huy khả năng giảng dạy bài thực hành và hướng dẫn học sinh làm bài tập
Địa lý. Học sinh nhận thức được cách xác định biểu đồ: Các loại biểu đồ: dạng

21


cột, tròn, đường, miền… Xác định được kiểu biểu đồ khi đọc bất kì một bài tập,
bài thực hành nào.
Đối với học sinh:
- Đã từng bước tạo được sự hứng thú, khơi dậy lòng say mê học tập môn
Địa lí ở học sinh.
- Học sinh xác định được yêu cầu của đề bài.
- Học sinh xác định được cách chọn và vẽ biểu đồ phù hợp đúng với yêu
cầu của đề bài.
- Tỉ lệ học sinh tự rèn luyện được kĩ năng vẽ biểu đồ chiếm tỉ lệ cao
- Học sinh nắm được các bước khi tiến hành vẽ biểu đồ.
- Kĩ năng xác định, phân tích, xử lí số liệu, xác định cách vẽ biểu đồ được
thuần thục, chính xác. Qua đó hình thành và nâng cao kĩ năng xác lập mối quan
hệ quy luật, biện chứng, mối quan hệ nhân quả... ở học sinh.
Đồng thời học sinh vận dụng các kiến thức Địa lí vào cuộc sống thực tiễn
một cách dễ dàng và hiệu quả.
Chính vì vậy mà số học sinh biết phân tích bảng số liệu, lựa chọn biểu đồ
phù hợp, vẽ biểu đồ đảm bảo tính chính xác, tính khoa học và tính thẩm mĩ cao
hơn trước khi chưa áp dụng đề tài.
- Kết quả khảo sát chất lượng học sinh trường THCS Ái Thượng về kĩ
năng vẽ biểu đồ năm học 2016-2017 và cuối học kì I năm học 2017-2018 sau


100

20

50,0

20

50,0

- Kết quả khảo sát cuối học kì I năm học 2017 - 2018 như sau:
Lớp

Tổng số học sinh
Số lượng %

Đạt yêu cầu
Số lượng %

Chưa đạt yêu cầu
Số lượng %
22


9A

31

100


77.42

14

22.58

Với đề tài này tôi tin rằng sẽ góp phần thuận lợi cho việc dạy Địa lí ở bậc
trung học cơ sở trên địa bàn huyện Bá Thước nói chung và trường THCS Ái
Thượng nói riêng để chất lượng giáo dục của nhà trường đạt hiệu quả cao.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận.
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên bản thân tôi đã tự củng cố
thêm được kiến thức, áp dụng vào bài dạy thực hành, các bài tập trong sách giáo
khoa, các đề kiểm tra, đề thi học kì và thi học sinh giỏi.
Chương trình Địa lý lớp 9 có nhiều bài thực hành vẽ biểu đồ hoặc phân
tích số liệu. Giới thiệu cách vẽ biểu đồ, các loại biểu đồ đã giúp cho học sinh dễ
dàng đánh giá, nhận biết bài học, thực hành. Địa lý kinh tế - xã hội trong chương
trình Địa lý lớp 9 và tạo cơ sở tiền đề cho học sinh tiếp tục học lên sau này. Học
sinh biết vận dụng kết hợp lý thuyết, thực tiễn, phát huy tính sáng tạo, tích cực
chủ động trong quá trình học tập môn Địa lý.
Qua khảo sát thực tế và tiến hành dự giờ đồng nghiệp khi dạy các bài có
biểu đồ tôi thấy:
- Phần lớn giáo viên có quan niệm đúng về chức năng và vai trò của biểu
đồ, sơ đồ trong việc chuẩn bị chu đáo về giáo án, yêu cầu, mục đích của bài học
là gì. Đây là phần không những rèn luyện kĩ năng kiến thức đã học ở trong bài,
từ đó học sinh xây dựng được các mối liên hệ địa lý.
- Hầu hết giáo viên biết vận dụng sáng tạo, khoa học và các kĩ năng rèn
luyện cho học sinh theo phương pháp dạy học tích cực. Do đó đã phát huy được
tính tư duy độc lập cho học sinh, giúp học sinh nắm chắc nội dung của bài học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status