1. MỞ ĐẦU.
1.1. Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại ngày nay, nền kinh tế - xã hội đang phát triển mạnh mẽ. Sự
phát triển đó đặt ra nhu cầu về nguồn nhân lực phải có đủ năng lực, năng động,
sáng tạo để hoà nhập với sự phát triển. Thực tế đó đặt ra yêu cầu đối với ngành giáo
dục và đào tạo là: cần phải đổi mới giáo dục nhằm tạo ra những thế hệ học sinh có
những tố chất đáp ứng được “đơn đặt hàng ” của xã hội đang ngày càng “khắt khe”
hơn. Quá trình đổi mới cần thực hiện đối với tất cả các cấp học, các môn học và tác
động vào tất cả các thành tố của quá trình dạy học.
Ở nước ta hiện nay, việc đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục đang là vấn
đề được quan tâm của Đảng và Nhà nước. Điều đó được thể hiện trong các chủ
trương, chính sách cụ thể đã được ban hành. Một trong những việc thiết thực nhất
cần làm là đổi mới về phương pháp dạy học trong nhà trường. Tinh thần đổi mới
phương pháp dạy học là biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, tự khám
phá và xây dựng kiến thức của người học với vai trò dẫn dắt khéo léo không thể
thiếu được của người giáo viên. Học sinh hình thành được kiến thức, kỹ năng, thái
độ… một cách chủ động, tích cực. Qua đó, học sinh trang bị được cho mình những
kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất để ứng dụng vào cuộc sống sau này.
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm. Hầu hết các hiện tượng, khái niệm,
quy luật, quá trình trong Sinh học đều bắt nguồn từ thực tiễn. Biểu diễn bằng thí
nghiệm hay mẫu vật trực quan là một trong những phương pháp quan trọng để tổ
chức học sinh nghiên cứu các hiện tượng Sinh học. Nhất là học sinh lớp 6 muốn
hình thành kiến thức Sinh học thì việc quan sát mẫu vật là rất quan trọng và hữu
ích. Từ quan sát mẫu vật học sinh sẽ phát hiện kiến thức nhanh, nhớ lâu vận dụng
vào thực tiễn tốt.
Qua nhiều năm giảng dạy ở trường THCS Phượng Nghi nay là trường
THCS&THPT Như Thanh là một trường thuộc vùng có điều kiện kinh tế khó khăn
của huyện miền núi Như Thanh, tôi thấy rằng việc sử dụng mẫu vật của học sinh lớp
6 còn chưa được thành thục. Do đó việc rèn luyện kỹ năng sử dụng mẫu vật cho các
em là một việc làm hết sức cần thiết để nâng cao chất lượng học tập. Nhưng vấn đề
đặt ra là sử dụng vật mẫu như thế nào để giảng dạy có hiệu quả cao? Hiện nay qua
môn. Điều này là rất cần thết để tiếp tục tìm hiểu bộ môn ở các lớp trên (lớp
7,8,9…). Để có được những kiến thức cơ bản về thực vật thì thầy và trò phải có
những đổi mới trong cách học và cách tổ chức giờ học. Đặc biệt với nội dung
chương trình sách giáo khoa hiện nay thì sự đổi mới được thể hiện rõ trong phương
pháp dạy học, trong cách soạn bài, tổ chức giờ học,… Trong đó việc sử dụng đồ
dùng trực quan trong các tiết dạy là một yếu tố rất quan trọng và không thể thiếu.
Nhất là đối với môn sinh học trong đó có môn sinh học lớp 6 nói riêng, chủ yếu lấy
việc quan sát mẫu vật, làm các thí nghiệm trực tiếp trên các mẫu vật làm phương
pháp nghiên cứu, tạo điều kiện cho học sinh tự tìm tòi, phát hiện ra nội dung kiến
thức mới của bài học. Việc sử dụng mẫu vật trong giảng dạy nhằm đáp ứng yêu cầu
về mặt nhận thức của học sinh.
Ở lứa tuổi học sinh lớp 6, kinh nghiệm sống còn ít, vốn hiểu biết chưa nhiều,
các em bắt đầu tiếp cận môn học, khả năng tư duy trừu tượng còn hạn chế,…thì
việc sử dụng mẫu vật (trực quan) giúp học sinh hình thành kiến thức nhanh hơn,
chính xác hơn, nhớ lâu hơn, khả năng vận dụng thực tiễn tốt hơn. Đồng thời học
sinh còn có được các kỹ năng bộ môn, thái độ đối với môn học và ý thức bảo vệ
thực vật, bảo vệ môi trường. Việc sử dụng mẫu vật (làm phương tiện trực quan) còn
phát huy được ở học sinh tính tự giác, tích cực tự lực, tính chủ động sáng tạo trong
việc tự tìm thấy kiến thức dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên. Ngoài ra nó
còn gây hứng thú nhận thức cho học sinh, tạo yếu tố tâm lí ban đầu tác dụng tới
toàn bộ quá trình nhận thức của các em. Có thể nói, trong môn sinh học 6 sử dụng
mẫu vật thật có nhiều ưu điểm so với các phương tiện trực quan khác như tranh
2
ảnh, mô hình… Nó cho học sinh biết rõ hình dạng, màu sắc, kích thước thật của
đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên cũng tuỳ từng bài, từng nội dung, từng dạng kiến
thức cụ thể mà có thể kết họp với các phương tiện trực quan khác một cách hợp lí
để tăng hiệu quả dạy học.
2.2. Thực trạng của vấn đề:
I. PHẦN TRẮC NGHIỆM. (3 điểm)
Câu 1: (2 điểm) Hãy khoanh tròn vào chữ cái đầu các câu đúng:
1. Đặc điểm của quả và hạt phát tán nhờ gió là:
A. Quả, hạt có cánh được gió chuyển đi xa gốc cây mẹ.
3
B. Quả, hạt có lông được gió đưa đi xa.
C. Quả hạt có lông, gai được gió đưa đi xa.
D. Cả a và b.
2. Đặc điểm nào sau đây cho thấy dương xỉ khác rêu.
A. Sống ở cạn.
B. Sinh sản bằng bào tử.
C Rễ thật, có mạch dẫn.
D. Sinh sản hữu tính
3. Cây thông được xếp vào ngành hạt trần vì:
A. Thân gỗ, có mạch dẫn.
B. Hạt nằm lộ trên các lá noãn hở.
C. Chúng chưa có hoa.
D. Có cấu tạo phức tạp.
4. Cây mọc ở nơi nắng gió, khô hạn lá thường có lớp lông hoặc lớp sáp
nhằm:
A. Để chống nắng.
B. Để động vật không ăn được.
C. Giảm sự thoát hơi nước.
D. Để động vật không ăn được, chống nắng
Câu 2: (1đ) Hãy chọn các cụm từ: quang hợp, cân bằng, cản bớt, điều hòa điền
vào chỗ trống cho phù hợp để hoàn chỉnh câu sau:
Nhờ quá trình……………(1)…….……thực vật lấy vào khí cacbonic nhả ra
khí oxi nên đã góp phần giữ…………(2)….………các khí này trong không khí
dẫn, sinh sản bằng bào tử.
- Ngành dương xỉ: Có rễ thật, có mạch dẫn, sinh sản bằng bào tử.
- Ngành hạt trần: Rễ , thân, lá phát triển ; có mạch dẫn; cơ quan
sinh sản là nón, sinh sản bằng hạt nằm trên lá noãn hở.
- Ngành hạt kín: Rễ, thân, lá phát triển đa dạng; có hoa, quả, hạt;
hạt nằm trong quả, nên bảo vệ tốt hơn.
Cơ bản nêu được các ý:
- Ngăn bụi.
- Diệt một số vi khuẩn.
- Giảm ô nhiễm môi trường.
Kết quả thu được:
Loại giỏi
Số
(8-10đ)
HS
SL
%
61
4
6.6
Loại Khá
(6.5- 7.9đ)
SL
%
10
%
0
0
2.3. Các giải pháp:
2.3.1. Giải pháp 1: Thường xuyên thu thập và sử dụng mẫu vật trong quá trình
dạy học.
Trong chương trình Sinh học 6, rất nhiều bài học khi sử dụng mẫu vật làm
phương tiện trực quan để quan sát, so sánh, thực hành để tìm ra kiến thức sẽ mang
lại hiệu quả cao. Sử dụng mẫu vật giúp học sinh học tập tích cực hơn, chủ động
hơn, phát triển được năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, vận dụng thực tiễn. Đồng
thời rèn được kỹ năng bộ môn như quan sát, so sánh, kỹ năng hợp tác… Vì vậy, sử
dụng mẫu vật là không thể thiếu trong dạy học Sinh học 6.
Trong quá trình giảng dạy Sinh học 6 năm học 2016 - 2017 này, tôi đã
thường xuyên nghiên cứu thu thập và sử dụng mẫu vật. Có nhiều bài học, nhiều nội
dung rất cần sử dụng mẫu vật để học sinh quan sát, phân tích, so sánh… rút ra kiến
thức. Cho dù nhiều bài, nhiều nội dung nếu không sử dụng mẫu vật mà sử dụng
tranh để quan sát thì học sinh vẫn hình thành được kiến thức. Tuy nhiên, nếu sử
dụng mẫu vật thì khả năng lĩnh hội kiến thức của học sinh sẽ sâu sắc hơn, nếu
không có mẫu vật thì học sinh sẽ hình thành kiến thức một cách mơ hồ, hời hợt, khi
ra thực tế học sinh không vận dụng được. Hơn nữa sử dụng mẫu vật giúp rèn luyện
được các kỹ năng bộ môn và phù hợp với nhận thức, tư duy của học sinh lớp 6.
Theo tôi trong chương trình sinh học 6 có khoảng hơn nửa số bài nên dùng mẫu vật
5
trong quá trình dạy học. Tùy từng bài, từng nội dung cụ thể mà sử dụng một cách
hợp lí, mẫu vật có thể sử dụng ngay phần kiểm tra bài cũ, phần tìm hiểu kiến thức
+ Rễ cây ở nhóm A thường có một rễ to đâm sâu và nhiều rễ nhỏ mọc xiên; rễ cây ở
nhóm B gồm nhiều rễ kích thước như nhau tạo thành một chùm.
6
- Giáo viên khẳng định kết quả và yêu cầu học sinh sử dụng kết quả đó để làm bài
tập điền từ vào chỗ trống sgk - tr 29: (Điền vào chỗ trống)
- Học sinh hoạt động độc lập hoàn thành bài tập vào vở bài tập.
- Gọi một học sinh đọc đáp án, học sinh khác nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên nhận xét và hoàn chỉnh kiến thức.
+ Có hai loại rễ chính: rễ cọc và rễ chùm
+ Rễ cọc có rễ cái to khỏe, đâm sâu xuống đất và nhiều rễ con mọc xiên. Từ các rễ
con lại mọc ra nhiều rễ bé hơn nữa.
+ Rễ chùm gồm nhiều rễ to, dài gần bằng nhau, thường mọc tỏa ra từ gốc thân
thành một chùm.
- Yêu cầu học sinh lấy thêm các ví dụ về cây có rễ cọc, rễ chùm ngoài thực tế để
củng cố kiến thức.
Ví dụ 2: Khi dạy tiết 21 (bài 19 – Sinh học 6) - Đặc điểm bên ngoài của lá .
Với bài này, giáo viên có thể vào bài bằng những câu hỏi và hình ảnh như
hướng dẫn trong sách giáo khoa. Tuy nhiên, để gây hứng thú và tạo động lực tìm
hiểu kiến thức cho học sinh, tôi đã sử dụng mẫu vật để giới thiệu vào bài.
Sau khi giới thiệu chương, tôi đã dùng mẫu vật là một chiếc lá dâu có đủ các
bộ phận cho học sinh quan sát.
7
Hướng dẫn để học sinh chú ý vào các bộ phận của lá, các đặc điểm của lá
cần tìm hiểu trong bài học bằng cách sử dụng các câu hỏi để vấn đáp trực tiếp học
học sinh tìm hiểu nội dung này, tôi đã phát kính lúp cho học sinh (mỗi bàn một
kính) để giúp các em quan sát nhanh chóng, rõ ràng chính xác mẫu vật. Đồng thời
củng cố kỹ năng sử dụng kính lúp cho học sinh.
Tiến trình tổ chức:
HĐ Quan sát cây rêu.
8
- Kiểm tra mẫu vật và yêu cầu học sinh để mẫu vật lên bàn (Các học sinh trong
cùng một bàn sẽ quan sát và làm việc chung).
- Phát kính lúp cho học sinh (mỗi bàn một kính).
- Yêu cầu mỗi nhóm học sinh (mỗi bàn) tách lấy một cây rêu để quan sát.
- GV hướng dẫn: Để cây rêu lên bàn, dùng kính lúp quan sát, đối chiếu với hình
38.1 sgk và nhận ra các bộ phận của cây rêu.
- Các nhóm học sinh quan sát cây rêu bằng kính lúp, so sánh với hình 38.1 để nêu
được các bộ phận của cây rêu mà nhóm đã nhận ra.
- Nhóm khác nhận xét và bổ sung.
- GV nhận xét và khẳng định kiến thức. Cấu tạo cây rêu gồm :
+ Thân ngắn, hình trụ không phân nhánh.
+ Lá nhỏ, mỏng.
+ Rễ giả, mọc thành chùm ở gốc thân.
- Sau đó, yêu cầu học sinh nghiên cứu thông tin sgk để biết được rêu chưa có mạch
dẫn.
2.3.3. Giải pháp 3: Hướng dẫn và nhắc nhở học sinh chuẩn bị mẫu vật cho từng
bài học.
Với học sinh lớp 6, việc thu thập mẫu vật cho bài học là không đơn giản.
Cho dù mẫu vật rất gần gũi và dễ kiếm, tuy nhiên các em đang còn nhỏ, nhiều khi
chưa phân biệt được các cây thường gặp xung quanh. Hơn nữa, các em lại mới làm
quen với phương pháp học tập bộ môn nên nhiều khi các em quên đi việc chuẩn bị
mẫu vật trước khi đến lớp. Sự chuẩn bị mẫu vật cho bài học thường bị thiếu, không
cốc, vẩy nước lên cho có độ ẩm, sau đó lấy hạt ngô bỏ vào.
Khi quan sát mẫu, nhóm trưởng có trách nhiệm chia cho mỗi bạn trong nhóm 1 hạt
để quan sát.
Với sự dặn dò và hướng dẫn cẩn thận nên khi đến giờ học, học sinh đã có
được mẫu vật đầy đủ, đảm bảo để quan sát, nghiên cứu và phát hiện kiến thức. Giờ
học sôi nổi, học sinh học tập tích cực và hiệu quả cao.
2.3.4.Giải pháp 4: Giáo viên chủ động thu thập, nghiên cứu mẫu vật trước khi
đến lớp để có sự chủ động trong tiến trình tổ chức dạy học.
Khi chuẩn bị bài dạy, đôi khi giáo viên đã giao phó việc chuẩn bị mẫu vật
cho học sinh, mà không chủ động chuẩn bị và nghiên cứu, sắp xêp trước mẫu vật.
dẫn tới khi lên lớp giáo viên không chủ động được với mẫu vật mà học sinh đã
chuẩn bị, đôi khi học sinh chuẩn bị thiếu, quên, hay mẫu vật các em mang đến
không đầy đủ bộ phận, khó quan sát. Để chủ động khi tổ chức giờ học, trong quá
trình chuẩn bị bài, cùng với việc giao cho học sinh chuẩn bị mẫu vật, tôi đã chủ
động thu thập, chuẩn bị, nghiên cứu và sắp xếp mẫu vật trước khi đến lớp. Đôi khi,
có những mẫu vật không cần giao cho học sinh chuẩn bị mà chỉ mình giáo viên
chuẩn bị, khi sử dụng sẽ gây hứng thú, kích thích trí tò mò, tạo nhu cầu cần tìm
hiểu của học sinh.
Ví dụ 5. Khi dạy tiết 21( Bài 19- Sinh học 6): Đặc điểm bên ngoài của lá.
Ở nội dung 1 - Tìm hiểu đặc điểm bên ngoài của lá.
Trong nội dung này, học sinh cần quan sát, so sánh mẫu vật để tìm hiểu được
đặc điểm chung của phiến lá, đồng thời chỉ ra được sự đa dạng về hình dạng, kích
thước, màu sắc của phiến lá, sự đa dạng của các loại gân lá, sự khác nhau giữa lá
đơn và lá kép. Đồng thời chỉ ra được các ví dụ thực tế ngoài tự nhiên tương đương
với các nội dung đã tìm hiểu. Để thực hiện được mục tiêu trên, ngoài việc giao cho
10
học sinh chuẩn bị mẫu về các loại lá, tôi đã chủ động chuẩn bị mẫu vật, nghiên cứu
sắp xếp trước các mẫu vật trước khi lên lớp. Do bài học cần rất nhiều mẫu vật với
Cụ thể:
Tôi chia lớp thành 6 nhóm (mỗi nhóm 2 bàn) - nhóm trưởng phân công cho
các thành viên chuẩn bị và chịu trách nhiệm về mẫu vật của nhóm mình.
Mỗi nhóm cần chuẩn bị các loại lá: lá dâu, lá trúc đào, lá rau muống, lá rau
ngót, lá kinh giới, lá lốt, lá xương sông, lá rau má, lá sen, lá gai, lá rẻ quạt, lá địa
11
liền, cành mồng tơi, cành hoa hồng, cành dừa cạn, cành ổi,… (mỗi loại lấy 1 mẫu/1
nhóm). Nhóm trưởng phân công cho các thành viên trong nhóm, mỗi thành viên
một số loại mẫu để đảm bảo số mẫu của nhóm.
Chú ý, nên lấy lá ở những cây đang khỏe mạnh, khi lấy mẫu cần cẩn thận
tránh làm gãy cành, gãy cây. Nên lấy mẫu ngay trước khi đi học để mẫu được tươi,
bỏ mẫu vài túi và mang đến lớp, khi nào đến giờ học giáo viên yêu cầu mới được
mang ra.
Sau khi sử dụng mẫu xong, tôi yêu cầu học sinh bỏ mẫu vào túi để trực nhật
thu dọn đảm bảo không làm rác lớp.
Với cách làm này, học sinh đã có ý thức bảo vệ thực vật, bảo vệ môi trường.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm :
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện còn gặp nhiều khó khăn như: trang
thiết bị dạy học còn hạn chế, khả năng làm việc của học sinh có giới hạn, thời gian
nghiên cứu chưa nhiều,… Tuy nhiên bằng sự nỗ lực, cố gắng của bản thân kết hợp
sự tích cực của học sinh trong quá trình học tập, đề tài cũng đã mang lại kết quả
đáng kể: Đa số học sinh đã biết cách sưu tầm mẫu vật, đồng thời biết cách sử dụng
mẫu vật trong quá trình học tập, các em đã biết phân loại, quan sát, so sánh mẫu vật
để hình thành kiến thức. Từ đó học sinh tự hình thành kiến thức một cách chủ động,
giờ học sôi nổi, tích cực, các em có hứng thú học tập. Do vậy, học sinh đã nắm
được kiến thức sâu hơn, chắc hơn. Hơn nữa, học sinh có được kiến thức thực tế, có
ý thức và hành vi bảo vệ thực vật, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên một số em vẫn còn
chưa tích cực học tập, sự chuẩn bị và quá trình học tập chưa tự giác, chưa tích cực,
12.5
25
34.7
38
52.8
0
0
0
0
12
Đối chiếu với kết quả khảo sát ở năm học trước, khi chưa áp dụng đề tài “
Một số giải pháp sử dụng mẫu vật để nâng cao hiệu quả dạy học Sinh học 6 ở
trường THCS &THPT Như Thanh” kết quả thu được cụ thể như sau:
- Loại giỏi tăng 5.9%.
- Loại khá tăng 18.3%
- Loại trung bình tăng 6.9%
- Loại yếu không còn.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.
3.1. Kết luận:
Qua thời gian nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này, tôi thấy
rằng khi giảng dạy bộ môn sinh học nói chung và sinh học 6 nói riêng, người giáo
viên cần tích cực nghiên cứu và thường xuyên sử dụng mẫu vật trong dạy học.
Phương pháp này giúp học sinh học tập tích cực bộ môn theo hướng phát triển tư
duy độc lập sáng tạo. Rèn năng lực vận dụng và giải quyết vấn đề trong học tập và
thực tiễn cuộc sống của các em. Các em đã bước đầu có được khả năng lập kế
hoạch và thực hiện kế hoạch, đồng thời có được ý thức và hành vi bảo vệ thực vật,
bảo vệ môi trường. Đây là phương pháp không thể thiếu trong dạy học sinh học.