SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH I
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG CÁC BÀI TẬP NHẬN THỨC THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH
QUA BÀI 33: “VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ THEO NGÀNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG”- ĐỊA
LÝ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.
Người thực hiện: Lê Thị Ninh
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Địa Lí
THANH HOÁ NĂM 2019
MỤC LỤC
Trang
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI………………………………………………..1
1.2. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI………………………………………………… 1
1.3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU………………………………………..2
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI…………………………2
2. NỘI DUNG.
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
2.1. 1 Khái niệm về năng lực ……………………………………………...3
2.1.2. Đổi mới PPDH theo định hướng PTNL……………………………4
2.2. XÂY DỰNG BÀI TẬP NHẬN THỨC THEO ĐỊNH HƯỚNG PTNL
có tác động kịp thời nhắm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục.
Là một người giáo viên dạy môn địa lý ở trường phổ thông hiện nay, tôi
nhận thấy chất lượng dạy và học địa lý ở trường phổ thông hiện nay còn nhiều hạn
chế, một phần do chương trình sách giáo khoa còn nghèo nàn, chậm đổi mới, song
quan trọng hơn là việc thiếu trầm trọng các phương tiện, thiết bị kĩ thuật dạy học cả
phương tiện truyền thống cũng như hiện đại như các loại bản đồ, biểu đồ, số liệu,
bảng thống kê, băng hình, máy vi tính, các phòng địa lý, vườn địa lý. Đặc biệt là
cách dạy học - kiểm tra đánh giá chưa phù hợp vơi thực tiển dạy và học hiên nay.
Chính vì vậy làm cho chất lượng giảng dạy môn địa lý ở trường phổ thông (nhất là
lớp 12) giảm thấp và ít tạo được hứng thú cho học sinh.
Trước thực trạng đó, tôi đã tìm hiểu và khắc phục những hạn chế đó để đưa
chất lượng giờ giảng lên, cùng với việc đổi mới phương pháp dạy, tôi đã áp dụng “
Xây dựng các bài tập nhận thức theo hướng phát triển năng lực của học sinh trong
dạy bài 33: Vấn đề chuyển dich cơ cấu kinh tế theo ngành ở đồng bằng sông Hồng”
trong chương trình địa lý 12 ở trường trung học phổ thông để đạt được hiệu quả
cao.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trong việc giảng dạy môn địa lý nói chung và và địa lý lớp 12 ở trường
trung học phổ thông nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc nhận
thức của học sinh về địa lý kinh tế – xã hội ở Việt Nam nói chung và ở đồng bằng
sông Hồng nói riêng và còn quan trọng hơn đối với việc thi tốt nghiệp và thi vào
các trường đại học, cao đẳng của học sinh lớp 12. Do vậy đề tài này nhằm mục
đích phát huy tối đa nhận thức của học sinh về những vấn đề nổi bật về kinh tế-xã
hội của đồng bằng sông Hồng.Từ đó giúp học sinh khắc sâu kiến thức, có thể tái
tạo lại kiến thức về đồng bằng sông Hồng một cách dễ dàng, rèn luyện cho học
sinh kỹ năng so sánh với các vùng khác trong cả nước, từ đó đánh giá được vai trò,
vị trí của đồng bằng sông Hồng trong phát triển kinh tế của cả nước.
1
NL
CHUYÊN
MÔN
NL
XÃ HỘI
NL
HÀNH
ĐỘNG
NL
PHƯƠNG
PHÁP
NL
CÁ NHÂN
Một số năng lực chung
- Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân
+ Năng lực tự học;
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực tư duy
+ Năng lực tự quản lý
- Nhóm năng lực về quan hệ xã hội
+ Năng lực giao tiếp
+ Năng lực hợp tác
- Nhóm năng lực công cụ
+ Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ
vụ học tập chung.
(Theo cuốn Đổi mới phương pháp dạy học – trang 12)
2.2. XÂY DỰNG BÀI TẬP NHẬN THỨC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH.
2.2.1. Xây dựng chủ đề
- Căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung
(xác định kiến thức, kĩ năng, thái độ) để xây dựng chủ đề dạy học phù hợp với
phương pháp dạy học tích cực.
2.2.2. Xác định năng lực và phẩm chất
- Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành,
xác định các năng lực có thể hình thành và phát triển cho học sinh.
2.2.3. Xây dựng bảng mô tả mức độ câu hỏi/bài tập
- Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng của chủ đề lựa chọn, xếp vào ô của ma
trận sao cho tương ứng với mức độ nhận thức; xác định các năng lực được hình
thành.
4
Nội dung
Mức độ
Biết
Hiểu
VD thấp
VD cao
nhiệm vụ, một đề nghị, một yêu cầu hay một câu hỏi
- Theo chức năng: bài tập bao gồm: bài tập học và bài tập đánh giá (thi, kiểm
tra):
+ Bài tập học: Bao gồm các bài tập dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức
mới, chẳng hạn các bài tập về một tình huống mới, giải quyết bài tập này để rút ra
tri thức mới, hoặc các bài tập để luyện tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học.
5
+ Bài tập đánh giá: Là các bài kiểm tra ở lớp do giáo viên ra đề hay các đề
tập trung như kiểm tra chất lượng, so sánh; bài thi tốt nghiệp, thi tuyển.
- Theo dạng câu trả lời: bài tập “mở” ; bài tập “đóng”
+ Bài tập đóng: Là các bài tập có một hay một số câu trả lời cố định. Như
vậy trong loại bài tập này, giáo viên đã biết câu trả lời.
+ Bài tập mở: Là những bài tập không có lời giải cố định đối với cả giáo
viên và học sinh; có nghĩa là kết quả bài tập là “mở”. Chẳng hạn giáo viên đưa ra
một chủ đề, một vấn đề hoặc một tài liệu, học sinh cần tự bình luận, thảo luận về đề
tài đó. Bài tập mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của cá nhân và không có một
lời giải cố định, cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không gian cho sự
tự quyết định của người học. Tính độc lập và sáng tạo của học sinh được chú trọng
trong việc làm dạng bài tập này. Trong việc đánh giá bài tập mở, chú trọng việc
người làm bài biết lập luận thích hợp cho con đường giải quyết hay quan điểm của
mình.
- Theo trình độ nhận thức:
+ Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức. Bài tập tái
hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng năng lực.
+ Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các tình
huống không thay đổi. Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ
năng cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo.
+ Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng
- Mỗi chủ đề có thể được thực hiện ở nhiều tiết học, các nhiệm vụ học tập có
thể được thực hiện ở trong và ngoài lớp học. Vì thế nên trong một tiết học có thể
chỉ thực hiện một số bước trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ thuật
dạy học được sử dụng. Khi phân tích một giờ dạy phải đặt nó trong toàn bộ tiến
trình dạy học của chủ đề đã thiết kế.
2.3. XÂY DỰNG BÀI TẬP NHẬN THỨC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH ĐỐI VỚI BÀI 33: VẤN ĐỀ CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU KINH TẾ THEO NGÀNH Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG ( LỚP 12)
2.3. 1. Bảng mô tả mức độ câu hỏi/bài tập đánh giá theo định hướng năng lực.
Chủ
Vận dụng
Vận dụng
đề/Nội
Nhận biết
Thông hiểu
thấp
cao
dung
Vấn đề - Xác định vị trí - Trình bày được - Phân tích - Giải thích sự
chuyển của vùng Đồng tình hình chuyển được tác động phân bố của
dịch cơ bằng sông Hồng. dịch cơ cấu kinh tế của các thế một số ngành
cấu kinh - Điền và ghi và các định hướng mạnh và hạn sản xuất đặc
tế theo
đúng trên lược đồ chính.
chế của vị trí trưng
của
ngành ở Việt Nam : Hà - Nhận xét sự phân địa lí, điều kiện vùng
Đồng
Đồng
Nội, Hải Dương, bố của một số ngành tự nhiên, dân bằng
các vùng khác.
- Giáp các vùng: Trung du và miền núi Bắc Bộ (TD&MNBB), Bắc Trung Bộ,
thuận lợi giao lưu với các vùng kinh tế trong nước, là nơi cung cấp tài nguyên thiên
nhiên, lao động (nhất là vùng TDMNBB có nhiều thế mạnh về khoáng sản, thuỷ
điện, cây công nghiệp) … và là thị trường tiêu thụ lớn của ĐBSH.
- Giáp Biển Đông, thuận lợi cho phát triển kinh tế biển.
Câu 2. Quan sát bản đồ hành chính Việt Nam hãy kể tên các tỉnh –thành phố
(tương đương cấp tỉnh) thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng.
8
GỢI Ý TRẢ LỜI
- Bao gồm : 10 tỉnh, thành phố: ( Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hoà Bình, Bắc Ninh, Hải
Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình )
* Câu hỏi ở mức độ thông hiểu :
Câu 1. Dựa vào hình 33.2, hãy nhận xét về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
ngành ở ĐBSH. Nêu những định hướng trong tương lai?
9
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở ĐBSH
GỢI Ý TRẢ LỜI
a) Cơ cấu kinh tế đồng bằng sông Hồng đang có sự chuyển dịch theo hướng
tích cực nhưng còn chậm.
- Giảm tỷ trọng khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III (dẫn chứng).
- Trước 1986, khu vực I chiếm tỷ trọng cao nhất (dẫn chứng). Năm 2005, khu vực
III chiếm tỷ trọng cao nhất (dẫn chứng).
b) Định hướng:
- Tài nguyên nước phong phú, có giá trị lớn về kinh tế là hệ thống sông Hồng và
sông Thái Bình. Ngoài ra còn có nước ngầm, nước nóng, nước khoáng.
- Tài nguyên biển: bờ biển dài 400 km, vùng biển có tiềm năng lớn để phát triển
nhiều ngành kinh tế (đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, giao thông, du lịch)
- Khoáng sản không nhiều, có giá trị là đá vôi, sét, cao lanh, than nâu, khí tự nhiên.
*) Điều kiện kinh tế - xã hội:
- Dân cư đông nên có lợi thế:
+ Có nguồn lao động dồi dào, nguồn lao động này có nhiều kinh nghiệm và
truyền thống trong sản xuất, chất lượng lao động cao.
+ Tạo ra thị trường có sức mua lớn.
- Chính sách: có sự đầu tư của Nhà nước và nước ngoài.
- Kết cấu hạ tầng phát triển mạnh (giao thông, điện, nước…)
- Cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành ngày càng hoàn thiện: hệ thống thuỷ lợi,
các trạm, trại bảo vệ cây trồng, vật nuôi, nhà máy chế biến…
- Có lịch sử khai phá lâu đời, là nơi tập trung nhiều di tích, lễ hội, làng nghề truyền
thống…với 2 trung tâm kinh tế - xã hội là Hà Nội và Hải Phòng.
* Hạn chế:
- Dân cư đông, mật độ dân số cao gây khó khăn cho phát triển kinh tế, nâng cao
chất lượng cuộc sống, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
- Chịu ảnh hưởng của nhiều thiên tai.
- Sự suy thoái tài nguyên, môi trường.
* Câu hỏi ở mức độ vận dụng cao
Câu 1. Tại sao lại phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng
bằng sông Hồng?
GỢI Ý TRẢ LỜI
11
- Vai trò đặc biệt của Đồng bằng sông Hồng trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội: Là vựa lúa lớn thứ hai của nước ta và là vùng phát triển công nghiệp dịch vụ
dạy học
thức
- Xác định vị trí của đồng bằng sông Đàm thoại vấn Cá nhân –
Hồng.
đáp
cả lớp
Nhận
- Điền và ghi đúng trên lược đồ Việt
biết
Cá nhân –
Nam : Hà Nội, Hải Dương, Hải Sử dụng lược đồ
cả lớp
Phòng, Nam Định, Thái Bình.
trống
- Trình bày được tình hình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và các định
hướng chính.
Cá
Thông
Sử dụng biểu đồ
- Nhận xét sự phân bố của một số
nhân/Cặp
hiểu
ngành sản xuất đặc trưng của vùng
đôi
Đồng bằng sông Hồng.
Vận
dụng
thấp
Để đánh giá hiệu quả của đề tài này, tôi đã chọn 2 lớp: lớp 12A2 làm lớp thực nghiệm,
lớp 12A1 làm lớp đối chứng đều là trường THPT Thạch Thành I. Học sinh của 2 lớp
này không chênh lệch nhiều về trình độ học lực và có sự tương đồng về phương tiện
dạy học. Giáo viên sẽ dạy 1 tiết ở lớp thực nghiệm theo mẫu giáo án thực nghiệm và 1
tiết ở lớp đối chứng theo giáo án bình thường với các phương pháp dạy học truyền
thống. Ở cuối mỗi tiết dạy giáo viên đều dành 10 phút cho học sinh làm bài kiểm tra
(dùng đề chung để kiểm tra cho cả lớp thực nghiệm và đối chứng). Nhằm đánh giá kết
quả khách quan, hiệu quả của phương pháp dạy thực nghiệm.
Sau khi thu được kết quả của bài kiểm tra, tôi đã tiến hành đối chiếu kết quả của lớp
thực nghiệm và lớp đối chứng theo thang điểm 10: loại giỏi (9-10 điểm), loại khá (78điểm), loại trung bình (5-6 điểm), loại yếu (3-4 điểm), loại kém (1-2 điểm). Từ kết
quả thu được, tôi đã sử dụng các phép tính toán học thống kê để tính điểm trung bình,
tỉ lệ các bậc đánh giá, lập bảng so sánh kết quả. Qua kiểm tra, đánh giá 2 lớp với 90
học sinh, kết quả biểu hiện ở bảng sau:
Lớp
Sĩ số
Giỏi
(SL, TL)
Khá
(SL, TL)
Trung
bình
(SL, TL)
Yếu
15
(33,3%)
17
(37,8%)
4
(8,9%)
1
(2,2%)
Thông qua tiết dạy ở các lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, căn cứ vào kết
quả điểm kiểm tra, mức độ tập trung và phát biểu ý kiến xây dựng bài của học sinh,
tôi nhận thấy rằng:
- Đối với học sinh: ở lớp thực nghiệm, tỉ lệ học sinh tích cực phát biểu ý kiến
trong giờ học cao hơn lớp đối chứng. Điều đó chứng tỏ học sinh có hứng thú với
việc xây dựng các bài tập nhận thức phân theo mức độ, tiết học sôi nổi, sinh động.
Mỗi cá nhân học sinh đều có cơ hội thể hiện năng lực tư duy sáng tạo, mức độ nhận
thức tốt.
- Đối với giáo viên: việc sử dụng phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải
soạn bài công phu hơn, đồng thời giáo viên có thể nắm bắt được kĩ năng và chất
lượng học tập của từng học sinh.
Từ kết quả thực nghiệm trên đây, có thể thấy việc xây dựng các bài tập nhận
thức phát huy năng lực của học sinh qua bài 33 : “Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng” (Địa lí 12 THPT) mà đề tài đề xuất, có tính
14
dần được nâng lên.
- Đối với các trường THPT và các cơ sở giáo dục, cần phải có sự đầu tư đầy
đủ các trang thiết bị và phương tiện phục vụ cho dạy học môn Địa lí nói chung và
dạy học Địa lí lớp 12 nói riêng.
- Đối với mỗi giáo viên Địa lí cần nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và
sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực
của học sinh nhất là việc xây dựng các bài tập nhận thức. Nhằm hình thành và rèn
luyện kĩ năng cho học sinh và tạo hứng thú học tập cho các em.
- Đối với mỗi học sinh, cần chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng phục vụ cho việc
học tập môn Địa lí. Đồng thời phải có ý thức tự giác, chủ động và tích cực hợp tác
khi làm việc với các bài tập nhận thức.
Với thực trạng học địa lí và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, có thể
coi đây là một quan điểm của tôi đóng góp ý kiến vào việc nâng cao chất lượng học
môn địa lí trong thời kỳ mới. Mặc dù đã cố gắng song không thể tránh được các
thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, của các bạn
đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
16
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 15 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam kết SKKN trên do tôi viết,
không copy của người khác
Tác giả
Lê Thị Ninh
17
Tên đề tài SKKN
PPDH theo các bước trong
Cấp đánh giá
xếp loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)
Cấp Tỉnh
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B, hoặc C)
C
Năm học
đánh giá
xếp loại
2012-2013
bài thực hành tìm hiểu về dân
cư Ô-xtrây-li-a
19
20