SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ HỒNG PHONG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG ATLAT
ĐỊA LÍ TRONG DẠY HỌC ĐỂ TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM
HẬU VIỆT NAM
Người thực hiện: Nguyễn Thanh Thủy
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Địa Lý
Năm học 2018
KHÍ
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
a. Cơ sở lý luận
Trong nhà trường giảng dạy và học tập là hoạt động trung tâm của thầy
giáo và học sinh, vấn đề nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập hiện nay là
một yêu cầu bức thiết. Đây là một yêu cầu trước mắt đồng thời cũng là yêu cầu
lâu dài trong chương trình cải cách giáo dục của nhà nước nhằm phục vụ đắc lực
cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước.
Trong dạy học địa lí, kênh chữ và kênh hình luôn quan hệ mật thiết với
nhau, hỗ trợ nhau để thực hiện tốt nhất nội dung của bài học. Kênh hình được
thể hiện rất phong phú qua bản đồ, biểu đồ, lược đồ trong sách giáo khoa, tập
bản đồ địa lí…
Trong quá trình dạy học địa lí ở trường phổ thông có rất nhiều bản đồ được
Atlat địa lí không chỉ giúp các em học sinh nhận thức các sự vật, hiện
tượng địa lí một cách thuận lợi hơn, sinh động hơn mà còn là nguồn tri thức để
học sinh khai thác tìm tòi, phát hiện ra những tri thức địa lí mới, những kiến
thức ẩn trong kênh hình. Những kiến thức này chỉ có được khi học sinh biết kết
hợp những kĩ năng địa lí với những hiểu biết của mình.
Vì vậy, việc nghiên cứu và sử dụng tốt Atlat địa lí Việt Nam cũng là một cải
tiến phương pháp dạy học trong trường phổ thông hiện nay. Phương pháp dạy
học hợp lí không chỉ giúp học sinh chủ động hơn trong giờ học mà còn giúp học
sinh chủ động hơn trong giờ học mà còn giúp các em tự nâng cao kiến thức có
trong sách giáo khoa, trong Atlat mà còn giúp các em tự nâng cao những kiến
thức của mình phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu.
Việc hình thành kĩ năng sử dụng Atlat là một yêu cầu hết sức cần thiết,
những kiến thức trong Atlat rất phong phú, góp phần bổ sung vào hệ thống kiến
thức của sách giáo khoa vốn viết hết sức khái quát, đặc biệt trong chương trình
địa lí lớp 12.
Như chúng ta đã biết khí hậu là một tài nguyên quan trọng có ảnh hưởng
rất lớn đến sự phát triển kinh tế đặc biệt là ngành nông nghiệp, lâm nghiệp.
Không những thế khí hậu còn ảnh hưởng đến đời sống con người, các hoạt động
du lịch giao thông vận tải…
Do giới hạn của chương trình địa lí lớp 12 trong khuôn khổ trung bình 1,5
tiết/ một tuần nên tài nguyên khí hậu Việt Nam chỉ được giới thiệu ngắn gọn ở 2
đặc điểm:
+ Khí hậu nhiệt đới ấm gió mùa.
+ Khí hậu có sự phân hóa theo chiều Bắc - Nam, theo mùa và theo độ cao
của địa hình.Trong khi đó, tài nguyên khí hậu lại được nhắc đến rất nhiều ở các
bài học như: Vấn đề lương thực - thực phẩm, vấn đề phát triển cây công nghiệp,
vấn đề phát triển giao thông vận tải,… đặc biệt trong phần các vùng kinh tế, hầu
hết các bài học ở đây đều đề cập đên đặc điểm của tài nguyên khí hậu.
Ngoài ra, trên thực tế có rất nhiều học sinh của chúng ta còn rất mơ hồ về
những nguyên nhân dẫn đến những đặc điểm trên của khí hậu Việt Nam hoặc
Atlat để tìm hiểu đặc điểm khí hậu của Việt Nam, còn những nội dung khác của
Atlat trong phạm vi của đề tài này không được đề cập đến.
c. Phương pháp thực nghiệm
Trên cơ sở hướng dẫn các em học sinh ôn thi tốt nghiệp, đại học, thi học
sinh giỏi. Những học sinh được trang bị kiến thức sử dụng Atlat để tìm hiểu các
đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cũng như các nhân tố kinh tế - xã hội
thì thông thường kết quả học tập của các em cao hơn so với những em không có
kỹ năng sử dụng Atlat hoặc ghi nhớ máy móc. Đặc biệt khi trang bị những kiến
thức sử dụng Atlat để tìm hiểu mối quan hệ giữa tự nhiên với tự nhiên, giữa tự
nhiên với kinh tế hoặc giữa kinh tế với kinh tế các em sẽ hiểu sâu hơn, kĩ hơn
những đặc điểm và sử dụng kiến thức đó một cách thuần thục hơn, nhuần
nhuyễn hơn và làm bài cũng tốt hơn so với những học sinh khác.
Để thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã làm phương pháp thực
nghiệm, đối chiếu, so sánh kết quả giữa lớp cùng phương pháp thực hiện, đó là
dùng Atlat để dạy các nội dung bài học là lớp 12C4 và lớp đối chiếu kết quả
3
dùng phương pháp giảng dạy truyền thống, không dùng Atlat đó là lớp 12C5
trong năm học 2017-2018.
Yêu cầu để thực hiện phương pháp này đó là cả 2 lớp đều có lực học gần
tương đương nhau, mức độ tiếp thu bài mới và khả năng tư duy như nhau và có
cùng một giáo viên giảng dạy từ năm học 2015 - 2016 đến nay.
Cả hai năm học trước 2 lớp này đều được học chung một phương pháp
giảng dạy, nghĩa là việc trang bị các kỹ năng thực hành của các em học sinh là
như nhau cho đến lúc bắt đầu thực hiện chương trình địa lí lớp 12.
Đến đầu năm học lớp 12 lớp thực hiện được trang bị kỹ năng Atlat còn lớp
đối chiếu so sánh đều được dạy theo phương pháp truyền thống, lấy học sinh
làm trung tâm nhưng không trang bị kỹ năng Atlat trong các tiết học, ở những
+ Vùng Bắc Trung Bộ.
+ Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên
+ Vùng Đông Nam Bộ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Trong mỗi vùng kinh tế trên lại có 1 bản đồ tự nhiên, 1 bản đồ kinh tế và
các biểu đồ thể hiện giá trị kinh tế của từng vùng.
3. NHỮNG BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ, LƯỢC ĐỒ, LÁT CẮT… TRONG ATLAT
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN KHÍ HẬU VIỆT NAM
Để tìm hiểu rõ đặc điểm của khí hậu Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những nhân
tố nào thì phần giới hạn đề tài đã nêu, có rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng đến, song
trong tập Atlat này theo tôi có những bản đồ, biểu đồ quan trọng sau đây:
Quan trọng thứ nhất là các bản đồ, lược đồ khí hậu Việt Nam trang 9, trong
đó có bản đồ khí hậu chung, bản đồ nhiệt độ và lượng mưa, bản đồ nhiệt độ
trung bình năm, bản đồ nhiệt độ trung bình tháng 1 và tháng 7, bản đồ lượng
mưa trung bình năm, bản đồ tổng lượng mưa tháng XI - IV, bản đồ tổng lượng
mưa từ tháng V - X năm sau. Đây là những bản đồ thể hiện đặc điểm của khí
hậu Việt Nam, cũng như các vùng.
5
Để giải thích những đặc điểm của khí hậu, học sinh còn dùng đến bản đồ
hành chính trang 4 và 5, bản đồ hình thể trang 6 và 7, bản đồ các miền tự nhiên
trang 13 và 14.
Ngoài ra học sinh còn sử dụng các lát cắt địa hình ở khu Miền Bắc và Đông
Bắc Bắc Bộ. Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ trang 13, lát cắt ở miền Nam Trung
Bộ và Nam Bộ trang 14.
4. SỬ DỤNG NHỮNG BẢN ĐỒ, LƯỢC ĐỒ, LÁT CẮT ĐỊA HÌNH ĐỂ TÌM
HIỂU ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VIỆT NAM
Theo như sách giáo khoa Địa lí lớp 12 thì khí hậu Việt Nam có tính chất
Dùng bản đồ hình thể trang 6 – 7 At lát địa lí học sinh sẽ thấy được nước ta nằm
hoàn toàn trong vành đai nội chí tuyến Bán cầu Bắc, vì thế lượng nhiệt nước ta
nhận được từ ánh sáng mặt trời là rất lớn, góc nhập xạ lớn, trong năm ở tất cả
các địa phương của nước ta đều có hai lần mặt trời lên thiên đỉnh.
b. Tính chất ẩm
Dùng bản đồ tổng hợp lượng mưa và bản đồ lượng mưa từ tháng 5 đến
tháng 10 và lượng mưa từ tháng 11 đến tháng 4 của năm sau (trang 9 Atlát) học
sinh sẽ thấy được, trên toàn lãnh thổ Việt Nam có lượng mưa trung bình trên
1600 mm. Trong đó có những nơi lượng mưa rất cao, lên đến 2800 mm như
Huế, Đà Nẵng,...
8
9
Hoặc ở bản đồ khí hậu chung Át lát trang 9 có rất nhiều trạm khí tượng có
lượng mưa lớn như: Sa Pa, Đồng Hới, Đà Nẵng,...
Lượng mưa lớn là do khí hậu nước ta chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố,
trong đó 1 trong những nguyên nhân quan trọng đó là do vị trí địa lí của nước ta
nằm gần biển, với đường bờ biển dài và 1nguyên nhân cũng hết sức quan trọng
đó là do tính chất gió mùa của khí hậu Việt Nam đã đem đến cho nước ta 1
lượng hơi nước dồi dào.
c. Tính chất gió mùa
Dựa vào bản đồ khí hậu chung (trang 9 Atlát địa lí), học sinh sẽ quan sát
được các loại gió chủ yếu thổi vào nước ta: gió tháng 1, gió tháng 7, tần suất của
các loại gió và hướng gió trên các trạm khí tượng ở nước ta khác nhau.
10
nắng nóng quanh năm. Nhiệt độ trung bình từ 25 - 270C.
Như vậy, nhiệt độ có sự phân hóa rõ rệt giữa lãnh thổ phía Bắc và lãnh thổ
phía Nam nước ta. Càng vào phía Nam nền nhiệt độ càng cao và ảnh hưởng của
gió mùa Đông Bắc càng giảm dần. Điều đó là do vị trí địa lí, hình dạng lãnh thổ
và địa hình gây nên.
b. Khí hậu nước ta có sự phân hóa theo mùa
Dựa vào bản đồ nhiệt độ trung bình tháng 1 và tháng 7, bản đồ tổng hợp
lượng mưa tháng 5 – tháng 10, tổng lượng mưa từ tháng 11 đến tháng 4 của năm
11
sau (trang 9 Atlát địa lí Việt Nam), chúng ta nhận thấy khí hậu Việt Nam có sự
phân hóa sâu sắc theo mùa.
Nhiệt độ trung bình tháng 1 trên toàn lãnh thổ nước ta theo thang phân tầng
màu thì cao nhất là 240C và tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, còn các tỉnh
phía Bắc nhiệt độ trung bình từ 180C trở xuống.
Trong khi đó nhiệt độ trung bình tháng 7 cao hơn rất nhiều và phân bố
tương đối đồng nhất trên lãnh thổ Việt Nam. Có nhiều nơi nhiệt độ trung bình
lên tới 280C như: Duyên hải miền Trung. Như vậy, về nhiệt độ nước ta có một
mùa nhiệt độ cao và một mùa nền nhiệt độ thấp hơn, tương ứng với mùa hạ (từ
tháng 5 – tháng 10), mùa đông (từ tháng 11 – tháng 4 năm sau).
c. Sự phân hóa khí hậu theo độ cao
Dựa vào bản đồ nhiệt độ trang 9 và bản đồ hình thể trang 6 – 7, bản đồ các
miền tự nhiên trang 13 và trang 14 Atlát địa lí Việt Nam, học sinh có thể dễ dàng
nhận thấy rằng khí hậu Việt Nam mà điển hình là nhiệt độ của Việt Nam có sự
phân hóa rõ rệt theo độ cao.
Trên nền chung của khí hậu nhiệt đới thì nhiệt độ còn có sự phân hóa theo
độ cao một cách hết sức rõ rệt.
- Tháng 1: ngoài yếu tố ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc thì vùng Tây
Bắc của nước ta nhiệt độ thấp chủ yếu là do sự phân hóa theo độ cao của địa
trong phạm vi giới hạn của đề tài này chỉ giải thích đặc điểm trên cơ sở dùng
Atlát nên một số đặc điểm, một số nhân tố không được nhắc đến. Qua Atlát ta
thấy rằng những nhân tố ảnh hưởng đến khí hậu Việt Nam, quy định một số tính
chất của khí hậu là những nhân tố sau:
a. Vị trí địa lí
Dùng bản đồ hình thể trang 6 - 7 ta thấy rằng phần đất liền lãnh thổ Việt
Nam trải dài trên 15 vĩ độ. Như vậy từ 23023’B đến 8034’B, với tọa độ địa lí của
nước ta nằm hoàn toàn trong vành đai khí hậu nhiệt đới.
Do đó, về cơ bản nước ta có khí hậu nhiệt đới, bởi vì nằm ở vĩ độ này toàn
bộ lãnh thổ Việt Nam đều có góc nhập xạ lớn (xem hình dưới).
h1
h2
Nhìn vào hình vẽ học sinh dễ dàng thấy được tại điểm h 1 có vĩ độ cao hơn
điểm h2 nên có góc nhập xạ tại điểm h2 lớn hơn góc nhập xạ điểm h1. Do góc
nhập xạ lớn nên lượng nhiệt nước ta nhận được là rất lớn, tổng nhiệt độ cao
trung bình năm cao, tổng số giờ nắng lớn (như trên đã trình bày).
Cũng qua bản đồ hình thể trang 6 - 7 các em cũng sẽ nhìn thấy nước ta còn
có vị trí nằm kề một vùng biển Đông rộng lớn. Theo chương trình địa lí tự nhiên
mà các học sinh đã học ở chương trình cấp 2, các học sinh sẽ hiểu được rằng gần
biển bao giờ cũng có sự chênh lệch áp suất giữa đất liền và biển, do đó sẽ gây
nên hiện tượng gió từ biển thổi vào đất liền và gió từ đất liền thổi ra biển. Thông
thường nếu có gió thổi vào đất liền, đặc biệt là ở những vùng nhiệt đới bao giờ
cũng đem theo lượng hơi nước dồi dào và gây mưa. Chính đặc điểm này đã là
một trong những nguyên nhân dẫn đến hàng năm nước ta nhận được lượng mưa
lớn, nguồn nước dồi dào.
13
(Thơ Phạm Tiến Duật)
Đặc điểm đó đã làm cho toàn bộ Bắc Trung Bộ có một mùa hè sâu sắc hơn,
nhiệt độ cao hơn khi phải hứng chịu gió phơn Tây Nam khô nóng.
Ngược lại, những nơi có địa hình vuông góc với hướng gió thổi từ đại
dương đến thì có mưa, những khu vực song song với hướng gió thường ít mưa.
Nhìn vào bản đồ khí hậu chung trang 9 Atlát địa lí Việt Nam học sinh cũng
sẽ thấy được lãnh thổ Việt Nam chủ yếu có hai hướng gió chính là gió Tây Nam
14
và Đông Bắc, còn gió Đông Nam chỉ có tần suất nhỏ và trung bình vào tháng 7.
Vì thế các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận là những địa phương có lượng mưa ít
nhất nước ta.
Như vậy, địa hình đã góp phần tạo nên sự phân hóa khí hậu theo chiều Bắc
– Nam, theo độ cao, theo mùa,… của đất nước.
c. Yếu tố hình dạng lãnh thổ
Dựa vào bản đồ hành chính, hình thể (trang 4 - 5 và 6 - 7 Atlát địa lí Việt Nam).
Qua bản đồ các em sẽ quan sát được, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ,
nhưng lại hẹp ngang, có đường bờ biển rất dài. Đây là một trong những nguyên
nhân làm cho khí hậu nước ta có phân hóa theo chiều Bắc – Nam. Bởi vì càng đi
sâu về phía Nam góc nhập xạ càng lớn, càng về phía Nam khoảng cách giữa hai lần
mặt trời lên thiên đỉnh càng dài, do đó lượng nhiệt nhận được đều hơn trong năm.
Càng về phía Nam ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc càng suy yếu.
Như vậy qua Atlát địa lí học sinh có thể hiểu được phần nào nguyên nhân
tạo nên đặc điểm của khí hậu nước ta, đó là các nhân tố như: vị trí địa lí, địa
hình và hình dáng lãnh thổ.
15
19
24
Yếu
1
11
Kém
0
2
Kết quả xếp loại học kỳ 1, đặc biệt qua kì thi học kỳ 1 theo hình thức tập trung
các em được sử dụng Atlat trong phòng thi thì kết quả có sự phân hóa rõ rệt.
Kết quả xếp loại môn Địa lý ở các lớp trên như sau:
Lớp
12C4
12C6
Sĩ số
49
48
Giỏi
7
0
Khá
23
12
16
Từ phương pháp này các em có thể sử dụng Atlat để tìm hiểu những tài
nguyên khác, những nội dung khác để phục vụ cho bài học của mình một cách
tốt hơn.
Qua thực tế tại trường tôi đang công tác – trường THPT Lê Hồng Phong
bằng hoạt động dạy và học của bộ môn Địa lí (Địa lí lớp 12), trước và sau khi
tác động phương pháp và các yếu tố cần thiết cho việc giảng dạy và học tập
người nghiên cứu thấy rằng:
- Có sự chuyển biễn dõ dệt sau khi có tác động mới.
- Phương pháp trên đã gây được hứng thú học tập cho học sinh, không khí
học tập trong tiết học của học sinh sinh động hơn.
- Chất lượng môn học ở các lớp được đưa ứng dụng vào thực tiễn và giảng
dạy được nâng lên, Phát huy được tính tư duy độc lập của học sinh.
Đặc biệt người giáo viên phải sử dụng tốt phương pháp để hướng dẫn học
sinh khai thác tốt các đối tượng trong Atlat phục vụ cho bài học mà không phải
là “Thầy đọc trò chép”.
Trên đây chỉ là ý kiến chủ quan của cá nhân tôi, chắc chắn sáng kiến này
còn có nhiều thiếu sót cần bổ sung. Về mặt khách quan tôi mong được sự góp ý
chân tình những ưu, nhược điểm trong sáng kiến, để tôi thấy được những điều
kiện và môi trường khác nhau của việc giảng dạy trong xã hội. Tôi mong các
đồng chí cấp trên thông cảm và góp ý cho tôi những ý kiến quý báu để bổ sung
cho đề tài này được hoàn chỉnh hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Bỉm Sơn, ngày 06 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
PHẦN II. NỘI DUNG
1
Yêu cầu để thực hiện nội dung
5
2
Cấu trúc nội dung của atlat
5
3
Những bản đồ, biểu đồ, lược đồ, lát cắt... trong atlat có liên
quan đến khí hậu Việt Nam
5
4
Sử dụng những bản đồ, lược đồ, lát cát địa hình để tìm hiểu đặc
điểm khí hậu Việt Nam
6
5