SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÝ VIỆT NAM ĐỂ HÌNH THÀNH CÁC CẤP ĐỘ KIẾN THỨC CHO HỌC SINH LỚP 12 KHI NGHIÊN CỨU VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ CÔNG NGHIỆP NƯỚC TA - Pdf 34

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VỀ:
“SỬ DỤNG ATLAT ĐỊA LÝ VIỆT NAM ĐỂ HÌNH THÀNH CÁC CẤP ĐỘ
KIẾN THỨC CHO HỌC SINH LỚP 12 KHI NGHIÊN CỨU VỀ MỘT SỐ
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ CÔNG NGHIỆP NƢỚC TA”
(THEO CHƢƠNG TRÌNH CƠ BẢN)
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Như chúng ta biết: Nghị quyết Trung Ương 8 khóa XI, đã đưa ra chiến lược đổi
mới căn bản, toàn diện ngành Giáo dục và Đào tạo, xác định “Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của Giáo dục và Đào tạo theo hướng coi
trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”, tức là “Đổi mới cả về nội
dung chương trình, đổi mới cả về hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá
kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học, kết hợp đánh giá cả
quá trình với đánh giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền
giáo dục phát triển”. Chỉ có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Chiến lược đổi mới Giáo dục và Đào tạo
đang là vấn đề lớn được toàn xã hội quan tâm, vì vậy mỗi giáo viên chúng ta cần
phải thấm nhuần tư tưởng đó để không ngừng học hỏi và trau dồi kinh nghiệm cho
bản thân trong quá trình giảng dạy và công tác tại trường.
Phát triển phẩm chất, năng lực của người học là nhiệm vụ quan trọng nhất của
người giáo viên trong giai đoạn hiện nay không chỉ trong quá trình soạn bài, dạy
bài mới, trong kiểm tra đánh giá, mà còn cả ở trong quá trình sử dụng các phương
tiện và thiết bị dạy học…Từ nhận thức đó, trong quá trình giảng dạy địa lý ở trường
trung học phổ thông nhiều năm, tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm về “Sử
dụng Atlat địa lý Việt Nam để hình thành các cấp độ kiến thức cho học sinh lớp 12
khi nghiên cứu về một số vấn đề phát triền và phân bố công nghiệp nước ta”.
Atlat được ví như là cuốn sách giáo khoa thứ 2, thể hiện đầy đủ các nội dung
kiến thức địa lý Việt Nam theo tiến trình của cuốn sách giáo khoa địa lý lớp 12.
1




thiện tình hình giảng dạy và học tập môn địa lý của nhà trường sao cho có kết quả
tốt hơn.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Để sử dụng Atlat Địa Lý Việt Nam có hiệu quả trong quá trình giảng dạy của
giáo viên và trong quá trình học địa lý của học sinh, giáo viên cần phải thực hiện
tốt các giải pháp sau:
- Xác định được những đơn vị kiến thức ở từng cấp độ.
- Xác định được sự cần thiết của việc sử dụng Atlat Địa Lý Việt Nam cho giáo
viên trong quá trình giảng dạy và cho học sinh trong quá trình học tập địa lý.
- Biết phân loại được các ký hiệu có trong Atlat Địa Lý Việt Nam và hiểu được
ý nghĩa của từng loại ký hiệu đó. Cụ thể như sau:
I. Xác định những đơn vị kiến thức ở các cấp:
- Kiến thức ở cấp độ nhận biết: Là những kiến thức mà chúng ta coi là các
thông tin, các dữ liệu, các chỉ số để phản ánh các đặc điểm (đặc tính, tính chất), hay
tình hình phát triển, tình hình phân bố, hay xu hướng thay đổi của các đối tượng địa
lý.
- Kiến thức ở cấp độ thông hiểu: Là những kiến thức mà chúng ta coi đó là các
nguyên nhân, các điều kiện, các thế mạnh, hay là các căn cứ để tìm hiểu, để giải
thích rõ về các đặc điểm (đặc tính, tính chất), hay tình hình phát triển, tình hình
phân bố, xu hướng thay đổi của các đối tượng địa lý mà chúng ta cần tìm hiểu.
- Kiến thức ở cấp độ vận dụng thấp: Là những kiến thức được coi là các cơ sở
để chứng minh cho sự phát triển của một đối tượng địa lý nào đó, hay dùng để so
sánh giữa các đối tượng địa lý trong cùng một chủng loại, hoặc là những kiến thức
đã học ở lý thuyết dùng để giải quyết các vấn đề giản đơn ở ngoài thực tiễn,…
- Kiến thức ở cấp độ vận dụng cao: Thường là các kiến thức tổng hợp của
nhiều yếu tố có mối quan hệ với nhau để giải thích về sự hình thành và phát triển
cho một hay nhiều các đối tượng địa lý ở một đơn vị lãnh thổ xác định.
3




- Atlat là phương tiện giúp giáo viên tìm ra những nguyên nhân để giải thích về
đặc điểm của các đối tượng địa lý và để chứng minh cho một hiện tượng địa lý ở
ngoài thực tiễn.
- Atlat là phương tiện mà dựa vào đó giáo viên đưa ra hệ thống các câu hỏi, các
bài tập để kiểm tra những nội dung kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng bộ môn cần
thiết cho học sinh.
- Atlat còn là phương tiện củng cố bài học có hiệu quả nhất và tiết kiệm được
nhiều thời gian nhất cho giáo viên trong quá trình giảng dạy bài mới.
Đối với học sinh:
- Atlat là phương tiện để học sinh học tập tiếp thu kiến thức bài mới dễ nhất,
hiệu quả nhất, tránh học thuộc vẹt một cách máy móc nhàm chán, mà hiểu bài, nhớ
bài được lâu hơn.
- Atlat là phương tiện để học sinh trả lời các câu hỏi kiểm tra, các bài tập theo
yêu cầu của giáo viên
- Atlat là phương tiện để học sinh rèn luyện kỹ năng cần thiết, như là: đọc bản
đồ, hiểu bản đồ, tìm ra các mối liên hệ nhân quả để giải thích cho một đối tượng địa
lý nào đó…
- Atlat là cơ sở để học sinh tìm hiều và giải thích những vấn đề đã học ở lý
thuyết gắn liền với thực tiễn cuộc sống
Tóm lại:
Atlat là phương tiện rất có ý nghĩa, rất cần thiết cho cả giáo viên và học sinh
trong quá trình giảng dạy và học tập môn Địa Lý do nó có tác dụng tạo hứng thú
nhiều nhất cho học sinh trong quá trình học tập môn học này. Vì thế theo tôi, sử
dụng Atlat hiệu quả là điều kiện cải thiện một cách tích cực tình hình học tập môn
Địa Lý trong các nhà trường nói chung và trong trường Trung học Phổ thông Nam
Trực nói riêng.

5

6


- Ký hiệu đường chuyển động: Thể hiện các đối tượng địa lý có sự di chuyển
trong không gian, hướng chỉ mũi tên của ký hiệu thể hiện hướng di chuyển của mỗi
đối tượng địa lý, độ dày-mảnh, độ đậm-nhạt của ký hiệu cho biết quy mô, hay tần
suất chuyển động của mỗi đối tượng địa lý trên bản đồ.
- Ký hiệu màu sắc: Dùng thể hiện các đối tượng địa lý có sự phân bố rộng lớn
theo không gian, các gam màu sắc dùng để thể hiện mật độ phân bố hay mức độ
phân bố của các đối tượng địa lý trên bản đồ.
Giáo viên chú ý:
Sau khi xác định được các nội dung quan trọng cần thiết nêu trên, tùy thuộc vào
mục tiêu về kiến thức và kỹ năng cần đạt cho học sinh ở từng bài, ở từng đơn vị
kiến thức, mà xác định: cần sử dụng bản đồ nào trong Atlat Địa Lý Việt Nam để
hình thành các cấp độ kiến thức cho học sinh sao cho phù hợp và để đạt được hiệu
quả cao nhất nội dung bài học, giáo viên cần kết hợp sử dụng sách giáo khoa, liên
hệ với thực tiễn, đưa ra các tình huống và các câu hỏi gợi mở thích hợp.
IV. Sử dụng Atlat Địa Lý Việt Nam xuất bản năm 2013 để hình thành các cấp
độ kiến thức cho học sinh lớp 12 khi nghiên cứu về một số vấn đề phát triển và
phân bố công nghiệp nƣớc ta (theo chƣơng trình cơ bản)
1. Sử dụng Atlat Địa Lý Việt Nam xuất bản năm 2013 để hình thành kiến thức
ở cấp độ nhận biết:
Thường sử dụng Atlat giúp học sinh hình thành các đặc điểm về cơ cấu ngành
công nghiệp, nhận biết về sự phân hóa lãnh thổ công nghiệp, về sự thay đổi cơ cấu
giá trị sản xuất công nghiệp theo các thành phần kinh tế, về tình hình phát triển và
phân bố các ngành công nghiệp trọng điểm ở nước ta.
a. Sử dụng Atlat Địa Lý Việt Nam giúp học sinh hình thành các đặc điểm về cơ
cấu ngành công nghiệp nƣớc ta:

7

công nghiệp chế biến.
+ Nổi lên một số ngành công nghiệp trọng điểm (là ngành có thế mạnh phát
triển lâu dài đem lại hiệu quả cao về kinh tế và xã hội, tác động mạnh mẽ đến sự
phát triển các ngành kinh tế khác) đó là công nghiệp chế biến lương thực-thực

9


phẩm, công nghiệp dệt may, công nghiệp năng lượng, công nghiệp sản xuất vật liệu
xây dựng, công nghiệp hóa chất-phân bón cao su, công nghiệp cơ khí và điện tử.
+ Cơ cấu ngành công nghiệp nước ta đang có sự chuyển dịch rõ nét theo
hướng: Tăng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến; giảm tỷ trọng giá trị
sản xuất công nghiệp khai thác, công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt,
nước.
b. Sử dụng Atlat Địa Lý Việt Nam xuất bản năm 2013, giúp học sinh nhận biết
về sự phân hóa lãnh thổ công nghiệp nƣớc ta:
Giáo viên tiếp tục cho học sinh căn cứ vào bản đồ công nghiệp chung trong Át
lát, gợi hỏi: Giữa các vùng ở nước ta có số lượng các trung tâm công nghiệp như
thế nào? Kết hợp căn cứ vào gam màu sắc thể hiện tỷ lệ giá trị sản xuất công
nghiệp của các tỉnh so với cả nước giữa các vùng ở nước ta, các nội dung đó cho ta
biết hoạt động công nghiệp giữa các vùng ở nước ta như thế nào? Vậy cơ cấu lãnh
thổ công nghiệp ở nước có đặc điểm gì? Em hãy cho biết các khu vực tập trung
công nghiệp với mức độ cao, các khu vực tập trung công nghiệp với mức độ thấp?
Với câu hỏi gợi ý nêu trên học sinh dễ trả lời được cơ cấu công nghiệp theo
lãnh thổ ở nước ta có sự phân hóa rõ nét, tức là hoạt động công nghiệp chỉ tập trung
ở một số khu vực đó là khu vực Bắc Bộ, đồng bằng Sông Hồng, vùng phụ cận và
khu vực Nam Bộ, khu vực duyên hải miền Trung có mức độ tập trung công nghiệp
chưa cao, còn các khu vực trung du và miền núi tập trung công nghiệp thấp, đặc
biệt là khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên.
c. Sử dụng Atlat Địa Lý Việt Nam, giúp học sinh nhận biết tình hình phát triển

liệu dầu khí.
d. Sử dụng Atlat Địa Lý Việt Nam xuất bản năm 2013 giúp học sinh nhận biết
về tình hình phát triển và phân bố các ngành công nghiệp chế biến lƣơng thựcthực phẩm ở nƣớc ta:

12


13


Giáo viên cho học sinh mở bản đồ công nghiệp chế biến lương thưc-thực phẩm
trang 22 trong Atlat xuất bản năm 2013, kết hợp với nghiên cứu sách giáo khoa và
phần chú giải về các phân ngành công nghiệp chế biến lương thực-thực phẩm trên
bản đồ. Giáo viên hỏi: em hãy cho biết các phân ngành của công nghiệp chế biến
lương thực-thực phẩm ở nước ta? Căn cứ vào ký hiệu từng ngành em cho biết cơ
cấu ngành công nghiệp chế biến lương thực-thực phẩm nước ta như thế nào? Căn
cứ vào biểu đồ thể hiện sản xuất công nghiệp chế biến lương thực-thực phẩm qua
các năm và biểu đồ thể hiện tỷ trọng giá trị của công nghiệp chế biến lương thưcthực phẩm so với giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp ở nước ta từ năm
2000 đến năm 2007, em hãy cho biết tình hình phát triển công nghiệp chế biến
lương thực-thực phẩm ở nước ta? Căn cứ vào sự phân bố của các trung tâm công
nghiệp chế biến lương thực-thực phẩm trên bản đồ, em hãy nêu nhận xét về sự
phân bố công nghiệp chế biến lương thưc-thực phẩm của nước ta?
Với những câu hỏi gợi ý nêu trên, giúp học sinh dễ nhận thấy công nghiệp chế
biến lương thực-thực phẩm ở nước ta gồm nhiều phân ngành như công nghiệp chế
biến sản phẩm trồng trọt, công nghiệp chế biến sản phẩm chăn nuôi, công nghiệp
chế biến thủy hải sản…. Công nghiệp chế biến lương thực-thực phẩm với cơ cấu
ngành đa dạng, phát triển mạnh chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất của
toàn ngành công nghiệp ở nước ta và có sự phân bố rộng rãi trên khắp cả nước.
2. Sử dụng Atlat Địa Lý Việt Nam xuất bản năm 2013 để hình thành kiến thức
ở cấp độ thông hiểu:

Giáo viên cho học sinh mở bản đồ dân số trang 15 trong Atlat xuất bản năm
2013, qua nghiên cứu chỉ số về quy mô dân số, nghiên cứu về tháp dân số, giáo
viên giúp học sinh nhận thấy dân số nước ta đông, cơ cấu dân số trẻ nên đã tạo ra
thị trường tiêu thụ lớn, tạo ra lực lượng lao động dồi dào và lao động dự trữ lớn.
Cho học sinh nghiên biếu đồ cơ cấu lao động theo các lĩnh vực kinh tế, giáo viên
chỉ cho học sinh thấy lao động khu vực công nghiệp đang có xu hướng tăng. Như
vậy dân số, lao động và sự chuyển dịch cơ cấu lao động đang là nhân tố ảnh hưởng
trực tiếp và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp.
15


Giáo viên cho học sinh mở bản đồ kinh tế chung trang 17 trong Atlat xuất bản
năm 2013 và giúp học sinh xác định các trung tâm kinh tế lớn ở nước ta, mở bản đồ
giao thông trang 23, mở bản đồ ngoại thương trang 24 trong Atlat xuất bản năm
2013. Trên bản đồ giao thông, căn cứ vào ký hiệu đường thể hiện từng loại hình
giao thông vận tải ở nước ta, giáo viên giúp học sinh nhận thấy giao thông vận tải
nước ta phát triển với nhiều loại hình. Trên bản đồ thương mại, căn cứ vào ký hiệu
thể hiện về thị trường buôn bán, giáo viên giúp học sinh nhận thấy: thị trường buôn
bán của nước ta với thế giới được mở rộng và nước ta đã thâm nhập được vào các
thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản…. Qua đó giúp các em
nhận thấy, cơ sở hạ tầng giao thông vận tải ở nước ta đang phát triển, thị trường
tiêu thụ hàng hóa công nghiệp được mở rộng, đây cũng là nhân tố tác động mạnh
mẽ đến sự phát triển nhiều ngành công nghiệp.
Tóm lại:
Nhờ sự nghiên cứu tổng hợp nhiều bản đồ nêu trên tạo cho các em nhận thấy
nước ta có vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên, nguyên liệu phát triển công nghiệp dồi
dào, lực lượng lao động lớn, hạ tầng sơ sở giao thông vận tải đang được phát triển,
thị trường tiêu thụ mở rộng, tất cả đã tạo điều kiện thuận lợi để nước ta phát triển
công nghiệp với cơ cấu ngành đa dạng, để phát huy các thế mạnh đó Đảng và Nhà
nước đã chú trọng đầu tư phát triển công nghiệp trong chiến lược Công nghiệp hóa,

khoáng sản dầu khí ở nước ta trên bản đồ em có nhận xét gì về trữ lượng và sự
phân bố từng loại khoáng sản này? Xác định sự phân bố từng loại than ở nước ta?
Xác định các mỏ dầu khí quan trọng ở nước ta?. Gáo viên gợi hỏi: khoáng sản than
ở nước ta phân bố chủ yếu ở miền Bắc hay ở miền Nam? Còn dầu khí thì phân bố
như thế nào? Sự phân bố đó có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển và phân bố
ngành công nghiệp khai thác than, khai thác dầu khí ở nước ta? Kết hợp giáo viên
thông báo cho học sinh biết qua nghiên cứu về dân số ta đã thấy dân số nước ta
đông, qua nghiên cứu cơ cấu ngành công nghiệp ta đã thấy nước ta có cơ cấu ngành
công nghiệp đa dạng, vậy nhu cầu sử dụng than và dầu khí để phục vụ cho đời sống
và cho phát triển công nghiệp ở nước ta như thế nào? Có nhiều không và ảnh
17


hưởng gì đến sự phát triển ngành công nghiệp khai thác than, khai thác dầu khí ở
nước ta?
Với cách làm như vậy sẽ giúp các em nhận thấy: nước ta phát triển khá mạnh
về ngành công nghiệp khai thác than, khai thác dầu khí vì nước ta có thế mạnh về
tài nguyên than và dầu khí. Cụ thể than có nhiều loại: Thạn đá có trữ lượng lớn chủ
yếu ở Quảng Ninh, ngoài ra còn có ở Sơn La, Hòa Bình, Quảng Nam với trữ lượng
đáng kể; dầu khí có trữ lượng lớn chủ yếu ở vùng thềm lục địa các tỉnh miền Nam.
Sự phân bố tài nguyên than chủ yếu ở miền Bắc, khiến cho các trung tâm khai thác
than phân chủ yếu ở miền Bắc, sự phân bố tài nguyên dầu khí chủ yếu ở vùng thềm
lục địa các tỉnh miền Nam, khiến cho các trung tâm khai dầu khí cũng chủ yếu
phân bố ở thềm lục địa các tỉnh miền Nam của nước ta, ngoài ra công nghiệp khai
thác than, khai thác dầu khí ở nước ta phát triển còn do nhu cầu sử dụng cho đời
sống con người và cho sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa rất cao vì thế đang
được Đảng và Nhà nước chú trọng đầu tư, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển.
Giáo viên cho học sinh mở bản đồ hình thể trang 6, bản đồ khí hậu trang 9, bản
đồ các hệ thống sông trang 10 trong Átlát xuất bản năm 2013. Giáo viên giúp học

viên cho học sinh nghiên cứu tiếp bản đồ hình thể, gợi ý phần lớn thượng lưu các
sông ở nước chảy qua những nơi có địa hình cao hay thấp và tốc độ dòng chảy của
sông ngòi ở đó như thế nào? Có lợi gì đến sự phân bố các nhà máy thủy điện? Em
hãy liên hệ với kiến thức về sự phân bố các trung tâm khai thác than, khai thác dầu
khí của nước đã nghiên cứu ở phần trên, điều đó có ảnh gì đến sự phân bố các nhà
máy nhiệt điện ở nước ta?
Với những gợi ý đó giúp học sinh giải thích được sự phân bố các nhà máy thủy
điện ở các thượng lưu sông là do có trữ năng thủy điện dồi dào. Sự phân bố các nhà
máy nhiệt điện ở miền Bắc gần nguồn nhiên liệu than và các nhà máy nhiệt điện ở
miền Nam gần nguồn nhiên liệu dầu khí do tiện vận chuyển và giảm chi phí vận
chuyển, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.
19


*Sử dụng Át lát dịa lý Việt Nam xuát bản năm 2013 để tìm hiểu các thế mạnh ảnh
hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành công nghiệp chế biến lương thực-thực
phẩm nước ta:
Giáo viên cho học sinh mở bản đồ lúa, bản đồ cây công nghiệp, bản đồ chăn
nuôi trang 19, bản đồ thủy sản trang 20 trong Atlat Địa Lý Việt Nam xuất bản năm
2013. Trên các biểu đồ của mỗi bản đồ này giáo viên giúp học sinh nhận thấy: Hoạt
động sản xuất lúa, sản xuất cây công nghiệp, sản xuất chăn nuôi, hoạt động nuôi
trồng và khai thác thủy sản ở nước ta ngày càng phát triển, đã tạo ra nguồn nguyên
nguyên liệu tại chỗ phong phú để phát triển ngành công nghiệp chế biến lương
thưc-thực phẩm. Trên các bản đồ đó giáo viên giúp học sinh nhận thấy sự phân bố
về hoạt động sản xuất lúa, sản xuất cây công nghiệp, hoạt động về chăn nuôi, nuôi
trồng và khai thác thủy sản phát triển ở nhiều nơi trên cả nước, vì thế nguồn nguyên
liệu càng nhiều và có ở nhiều vùng, điều đó tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến
lương thực-thực phẩm phân bố rộng rãi.
Giáo viên cho học sinh mở bản đồ dân số trang 15 trong Atlat Địa Lý Việt
Nam xuất bản năm 2013, qua chỉ số trên biểu đồ dân số các năm, qua tháp dân số,

nghiệp của một vùng hay của một địa phương nào đó ở nước ta, hay để so sánh sự
phát triển công nghiệp giữa các vùng hoặc giữa các địa phương trong nước .
Ví dụ 1:
Dựa vào bản đồ công nghiệp chung trang 21, bản đồ kinh tế vùng đồng bằng
Sông Hồng trang 26 trong Atlat xuất bản năm 2013, chứng minh Đồng bằng Sông
Hồng là vùng công nghiệp có mức độ tập trung cao ở nước ta. Giáo viên cho học
sinh làm như sau:

21


Bản đồ kinh tế vùng Đồng bằng Sông Hồng
Trên bản đồ vùng Đồng bằng Sông Hồng, căn cứ vào ký hiệu về các trung tâm
công nghiệp, giáo viên cho học sinh xác định số lượng và tên các trung tâm công
nghiệp của vùng, giúp học sinh nhận thấy Hà Nội và Hải Phòng là hai trung tâm
công nghiệp quy mô lớn của vùng và của cả nước. Căn cứ vào ký hiệu từng ngành
công nghiệp, giáo viên giúp học sinh nhận thấy cơ cấu ngành công nghiệp của vùng
đa dạng, trong đó nổi lên các ngành công nghiệp trọng điểm như: công nghiệp chế
biến lương thực-thực phẩm, công nghiệp dệt may, công nghiệp sản xuất vật liệu
xây dựng, công nghiệp cơ khí và điện tử, giáo viên giúp học sinh nhận ra trong
vùng tập trung nhiều ngành công nghiệp chuyên môn hóa như: Công nghiệp dệt ở
Nam Định, đóng tàu ở Hải Phòng, sản xuất vật liệu xây dựng ở Hải Dương, Hưng
Yên…
Trên bản đồ công nghiệp chung, giáo viên cho học sinh so sánh số lượng các
trung tâm công nghiệp và so sánh cơ cấu ngành công nghiệp, so sánh giá trị sản
xuất công nghiệp (dựa vào ký hiệu các gam màu sắc thể tỷ trọng giá trị sản xuất
22


công nghiệp của các tỉnh so với cả nước) ở Đồng bằng Sông Hồng với một số vùng

Hà Nội

Tên trung tâm công

Đà Nẵng

nghiệp
Quy mô

Lớn hơn, với giá trị trên Nhỏ hơn, với giá trị từ 9
120 nghìn tỷ đồng

đến 40 tỷ đồng

Cơ cấu ngành công Đa dạng hơn, gồm có 9 Kém đa dạng hơn, gồm có
nghiệp

ngành công nghiệp: Chế 5 ngành công nghiệp: Cơ
biến nông sản, cơ khí- khí- điện tử, đóng tàu, hóa
điện tử, sản xuất vật liệu chất- phân bón, sản xuất
xây dựng, sản xuất ô tô, vật liệu xây dựng.
hóa chất-

phân

bón,

luyện kim đen, dệt may,
sản xuất giấy và xen lu
lô.

Nam Bộ so với cả nước, giúp các em nhận thấy Đông Nam Bộ là vùng tập trung
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status