MỤC LỤC
Trang
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1
I. Lí do chọn đề tài
1
II. Mục đích của việc thực hiện đề tài
2
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2
IV. Phương pháp nghiên cứu
2
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
4
I. Các khái niệm
I. CÁC PHƯƠNG ÁN CÓ THỂ ÁP DỤNG ĐỂ GIÁO DỤC GIỚI
TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH
8
II. NỘI DUNG TÍCH HỢP
9
1. Nội dung 1: Tích hợp vào dạy bài 38 Sinh học 11 Nâng cao
9
1.1. Tuổi dậy thì và dấu hiệu của tuổi dậy thì
9
1.2. Cơ quan sinh dục
10
1.3.Hiện tượng rụng trứng
11
1.4. Hiện tượng kinh nguyệt
11
3.2. Bệnh lậu
15
3.3. Bệnh giang mai
16
3.4. Bệnh viêm gan B (VGB)
16
4. Nội dung 4: Tích hợp vào dạy bài 46 Sinh học 11 Nâng cao
Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản
16
5. Nội dung 5: Tích hợp vào dạy bài 47 Sinh học 11 Nâng cao
Tác hại của nạo phá thai ở tuổi vị thành niên
16
CHƯƠNG 4. HIỆU QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
17
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
19
này vô tình ẩn chứa cả hai mặt tốt và xấu. Nếu không biết chọn lọc thì những
trang web sex, blog đen sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tình dục của các
em. Liệu có bao nhiêu học sinh có hiểu biết và chọn lọc được những kiến thức
về giáo dục giới tính cần thiết cho mình?
Sự xuất hiện và lan rộng khủng khiếp của căn bệnh thế kỷ AIDS và các
bệnh đường sinh dục khiến nhiều người lo sợ và thấy rõ việc cần thiết phải đưa
ra các chủ đề giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên vào chương
trình giáo dục.
Tại nhiều nơi ở Châu Phi - nơi AIDS đã trở thành bệnh dịch lớn, giáo
dục giới tính được coi là một chiến lược sống còn để bảo vệ sức khoẻ cộng
đồng. Ở Châu Á, chương trình giáo dục giới tính cũng đang có những mức độ
phát triển rất khác nhau. Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc có khung chính sách
hệ thống về việc giảng dạy giới tính trong các trường học. Ấn Độ có các
chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ 9 đến 16 tuổi. Tại Nhật Bản,
giáo dục giới tính là bắt buộc từ 10 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học
như kinh nguyệt và xuất tinh....
Còn ở Việt Nam thì sao? Những giờ học về giới tính ở các trường học
còn rất hiếm hoi. Trẻ mới lớn cần chỉ dẫn về giới tính và tình dục. Nhưng ai sẽ
là người các em tìm tới khi gặp vấn đề về giới tính?
Nếu thắc mắc về vấn đề giới tính, các em có thể sẽ muốn trực tiếp hỏi
những người lớn đáng tin cậy trong gia đình hoặc các thầy cô giáo hoặc chuyên
gia tâm lí, sức khỏe sinh sản... Cha mẹ có thể là người gần gũi, trò chuyện với
con cái về vấn đề này nhưng rất nhiều em ngại nói chuyện với phụ huynh về
tình yêu, tình dục vì sợ bố mẹ khó có thể chấp nhận được vấn đề này. Trong gia
đình, ít bậc cha mẹ có khả năng và dám giảng giải cho con cái mình những
kiến thức về giới tính, tình dục. Trẻ tìm kiếm trên mạng internet, có quá nhiều
luồng thông tin và cách giải quyết khác nhau để các em tham khảo và lựa chọn.
Người duy nhất có thể vừa cung cấp nhiều thông tin nhất cho trẻ vừa gần
gũi với trẻ là thầy cô giáo vì thầy cô vừa là những người kề cận nhất với
học sinh tại trường vừa hiểu tâm lí lứa tuổi các em, nhất là về vấn đề giới tính.
sản vị thành niên trong dạy học sinh học lớp 11 cho học sinh
Trường THPT Lê Lợi”. Đề tài được tôi thực hiện với đối tượng học sinh
các lớp 11 Trường Trung học phổ thông Lê Lợi trong những năm học gần đây
và đã đem lại hiệu quả giáo dục rất cao.
II. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng của việc giáo dục giới tính và
sức khỏe sinh sản vị thành niên ở trường THPT.
-Từ những nghiên cứu trên, đề xuất một số nội dung cần tích hợp vào
dạy học Sinh học 11.
- Đánh giá tính khả thi của đề tài thông qua khả năng nhận thức của học
sinh và hiệu quả của các phương án thực hành.
III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu:
- Chương III, chương IV chương trình Sinh học 11 Nâng cao.
- Khách thể: Học sinh lớp 11A3, 11A5 Khóa học 2016- 2019 Trường
THPT Lê Lợi.
2. Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài chỉ nghiên cứu các bài trong chương trình sinh học 11 Nâng cao
có thể tích hợp được các nội dung giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị
thành niên.
- Nghiên cứu và đổi mới phương pháp, nội dung một số bài trong
chương trình sinh học 11 Nâng cao.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
Thu thập, nghiên cứu và hệ thống lại các tài liệu có liên quan đến đề tài
để làm cơ sở nghiên cứu.
2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành dạy học Sinh học 11 tại các lớp là khách thể nghiên cứu.
- Khảo sát tính khả thi và hiệu quả thực hiện đề tài.
3. Phương pháp phân tích, đánh giá kết quả, thống kê xử lí số liệu
a. Tuổi dậy thì
Tuổi dậy thì là thời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn trẻ thơ sang giai đoạn
trưởng thành, là thời kỳ quá độ khi không còn là trẻ con nhưng vấn chưa hẳn là
người lớn. Đây là thời kỳ mà bất cứ một thiếu niên nào cũng phải trải qua
những biến đổi quan trọng về cơ thể cũng như về tâm lý.
Dưới góc độ sinh học, tuổi dậy thì là thời kỳ trưởng thành sinh dục,
nghĩa là bắt đầu có khả năng sinh con. Ở bạn gái được thể hiện ở sự có kinh
nguyệt lần đầu và ở bạn trai là sự phóng tinh lần đầu (mộng tinh). Các bạn gái
thường bắt đầu dậy thì ở độ tuổi từ 9 đến 14 và ở các bạn nam dậy thì muộn
hơn ở độ tuổi từ 12 đến 15. [3]
b. Tuổi vị thành niên
Tuổi vị thành niên là độ tuổi chuyển tiếp giữa ấu thơ và tuổi trưởng
thành, là thời kì phát triển nhanh chóng cả về mặt sinh lí và tâm lí, là giai đoạn
đánh dấu xu hướng phát triển mới về mặt xã hội.[1]
3. Khái niệm về sức khoẻ sinh sản
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: “Sức khoẻ là một trạng thái
hoàn hảo cả về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có
bệnh tật hoặc tàn phế”[1]. Như vậy có thể thấy, khái niệm sức khoẻ là một khái
niệm rộng hơn nhiều so với những quan niệm đơn giản như: sức khoẻ là có một
cơ thể cường tráng, sức khoẻ là không ốm đau, sức khoẻ là người lành lặn,
không bị tàn phế.
Sức khoẻ sinh sản là trạng thái khoẻ mạnh, hoàn hảo về thể chất, tinh
thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức
năng sinh sản và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật
hay tổn thương ở bộ máy sinh sản. [1]
Sức khoẻ sinh sản bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có cả khía cạnh
liên quan đến sức khoẻ tình dục. Hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá
trình sinh sản của con người được hình thành, phát triển, và tồn tại trong suốt
cuộc đời. Sức khoẻ sinh sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với cả nam giới và
nữ giới. Quá trình sinh sản và tình dục là một quá trình tương tác giữa hai cá
Khi lồng ghép giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vào bộ môn sinh
học cho học sinh THPT, giáo viên cần lưu ý một số vấn đề sau:
1. Nên giáo dục giới tính sớm cho trẻ nhưng không được vội vã. Nếu
các em chưa sẵn sàng tiếp nhận, giáo viên không nên cung cấp quá nhiều thông
tin liên quan đến giới tính vì điều này có thể lợi bất cập hại.
2. Giáo viên và học sinh có thái độ tích cực về tình dục. Giáo viên cần
làm cho học sinh hiểu tình dục không phải chuyện xấu, chuyện cấm kị mà là
bản năng, là một nhu cầu tự nhiên của con người. Giáo viên cần đảm bảo
rằng những giờ học lồng ghép kiến thức về giới tính sẽ cho học sinh
những kiến thức đúng đắn và an toàn. Khi học sinh đưa ra câu hỏi về tình
dục, giáo viên đừng che giấu những sự thật thông thường vì càng che giấu, học
sinh càng thêm tò mò.
3. Giáo viên cần trò chuyện với học sinh một cách nghiêm túc, không
biến sex thành một trò đùa tục tĩu. Nếu giáo viên không ngần ngại khi nói về
sex, học sinh cũng sẽ mạnh dạn khi hỏi.
4. Có thể có giáo viên sẽ bị học sinh trêu chọc khi giảng về giới tính.
Giáo viên cần bình tĩnh khi học sinh trêu chọc về vấn đề này. Giáo viên nên
tiếp tục giảng bài như đang nói về một chủ đề thông thường.
5. Giáo viên không chỉ giáo dục giới tính tại lớp vì có thể sẽ không đủ
thời gian cho lồng ghép vào các môn học chính khóa tại trường học. Nếu bất
cứ học sinh nào tìm giáo viên để xin tư vấn về chuyện khó nói, giáo viên cần
vui lòng, cởi mở trò chuyện và cho em lời khuyên hữu ích.
7
6. Để tự tin khi giảng về giới tính, giáo viên cần tìn hiều thêm các kiến
thức ngoài luồng. Kiến thức là điều chủ chốt để giáo viên thành công trong
giảng dạy. Khi vững kiến thức về một chủ đề nào đó, người ta sẽ tự tin nói
chuyện với người khác về chủ đề này. Điều này cũng đúng với giáo dục giới
những năm qua đã được đưa vào nhà trường phổ thông nhưng mới chỉ dừng lại
ở chương trình tích hợp, lồng ghép qua một số môn học như Sinh học, Văn
học, Địa lí, Giáo dục công dân… Một số hoạt động ngoại khoá về chủ đề này
của một số trường chỉ mang tính thí điểm, chưa thường xuyên, tự giác, tích
cực, chưa trở thành nội dung bắt buộc.
II. THỰC TRANG HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT Ở THỌ XUÂN
Khi tiến hành một cuộc khảo sát giấu tên để các bạn trẻ dám nói thẳng và
nói thật về vấn đề giới tính và tình dục, nhiều học sinh THPT trong huyện Thọ
Xuân biết cách dùng bao cao su. Gần 90% học sinh nữ biết nếu không dùng
bao cao su, thuốc ngừa thai, họ có thể mang thai ngoài ý muốn.
8
Tuy nhiên những kiến thức đó với các em, đa số vẫn chỉ là lý thuyết và
là những lời đe dọa xuông. Thực tế vẫn còn nhiều học sinh phá thai ở tuổi vị
thành niên hoặc nghỉ học ở nhà lấy chồng vì trót mang thai ngoài ý muốn. Chỉ
đến khi có thai hoặc nhiễm bệnh lây lan qua đường tình dục, các em mới hốt
hoảng lo sợ và tìm mọi cách để giải quyết. Điều đó làm ảnh hưởng đến chính
các em và còn ảnh hưởng đến gia đình, nhà trường và xã hội.
III. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN
1. Thuận lợi:
- Ở Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã bước đầu đưa giáo dục giới
tính vào giảng dạy ở chương trình THPT giúp các em nhận biết về giới, sức
khỏe và con người. Các nội dung đưa vào trường phổ thông là những kiến thức
hoàn toàn khoa học, cần cho các em hiểu biết những kiến thức sơ đẳng nhất.
Nếu giáo viên đứng ở góc độ khoa học để giảng dạy thì không có vấn đề gì
phải e ngại, giáo viên có thể giới thiệu đến học sinh một cách đơn giản và dừng
ở mức độ cần thiết các em vẫn có thể tự giải thích được mâu thuẫn.
- Về phía gia đình, nhiều bậc cha mẹ tiên tiến, có hiểu biết về vấn đề giới
1. Đưa giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên vào tiết sinh
hoạt tập thể của giáo viên chủ nhiệm và tập thể lớp.
2. Đưa giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên vào các tiết
hoạt động ngoài giờ lên lớp và các buổi sinh hoạt ngoại khóa.
Một buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp chủ đề Sức khỏe sinh sản vị thành
niên, thanh niên tại Trường THPT Lê Lợi
3. Đưa giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên vào các giờ
học bộ môn như Sinh học, Giáo dục công dân, Địa lí,...
Sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, mỗi giáo viên có thể
lồng ghép một vài nội dung trong từng bài cụ thể, từng bài học cụ thể thì sẽ
thực hiện tốt mục tiêu của mình trong dạy học cũng như giáo dục giới tính và
sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh.
Tuy nhiên, không nên quá tham lam để đưa quá nhiều nội dung cần giáo
dục trong một tiết học, chỉ nên giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành
niên một cách nhẹ nhàng, đều đặn và liên tục qua các tiết học có liên quan đến
chương trình giáo dục này.
Vấn đề là chọn nội dung nào và lồng ghép ra sao thì có vẻ như còn nhiều
lúng túng. Một số trường đã cho thực nghiệm đưa nội dung giáo dục giới tính
và sức khỏe sinh sản vị thành niên vào nội dung giờ sinh hoạt chủ nhiệm, giờ
sinh hoạt ngoài giờ lên lớp,… thu được hiệu quả nhất định.
Hầu hết việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên chỉ ở
dạng tự phát và ở mức độ thấp... để có thể nâng cao và ứng dụng đại trà nội
dung này vào giáo dục cần có một sự thống nhất ở các cấp lãnh đạo.
Bộ môn Sinh học là bộ môn dễ lồng ghép nội dung giáo dục giới tính
và sức khỏe sinh sản nhất, đặc biệt là chương trình Sinh học lớp 11. Sau đây tôi
xin đưa ra những nội dung giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên
đã được tôi lồng ghép trong dạy học bộ môn sinh học lớp 11 THPT (chương
Cơ quan sinh dục (tinh hoàn, dương vật) to ra.
Tuyến mồ hôi, tuyến nhờn phát triển, xuất hiện mụn trứng cá.
Xuất tinh lần đầu, thay đổi tâm sinh lí.
b.2. Ở nữ (dưới tác dụng của hoocmon ostrogen do buồng trứng tiết ra) biểu
hiện các tính trạng sinh dục thứ sinh như:
Lớn nhanh, cao vọt.
Thay đổi giọng nói, giọng thanh hơn.
Mọc lông mu, lông nách, vú phát triển, hông nở rộng.
Tuyến mồ hôi, tuyến nhờn phát triển, xuất hiện mụn trứng cá.
Bộ phận sinh dục phát triển, buồng trứng, dạ con, âm hộ to ra.
Bắt đầu hành kinh, thay đổi tâm sinh lí.
1.2. Cơ quan sinh dục
Ở tuổi vị thành niên, cơ quan sinh dục phát triển nhưng chưa hoàn thiện.
a. Cơ quan sinh dục nam
a.1. Các bộ phận của cơ quan sinh dục nam
11
a.2. Tinh hoàn và tinh trùng
- Tinh hoàn là bộ phận quan trọng trong cơ quan sinh dục nam sản xuất
ra tinh trùng bắt đầu từ tuổi dậy thì.
- Tinh trùng rất nhỏ (dài khoảng 0,06mm) gồm đầu, cổ và đuôi, di
chuyển nhờ đuôi. Có 2 loại tinh trùng : tinh trùng X và tinh trùng Y. Tinh trùng
Y nhỏ nhẹ, sức chịu đựng kém, dễ chết nhưng di chuyển nhanh hơn, còn tinh
trùng X lớn hơn có sức sống cao hơn tinh trùng Y, di chuyển chậm hơn.
- Mỗi lần phóng tinh có tới 200 - 300 triệu tinh trùng. Trong môi trường
bình thường và cơ quan sinh dục nữ, tinh trùng có khả năng sống từ 3-4 ngày.
b. Cơ quan sinh dục nữ
b.1. Các bộ phận của cơ quan sinh dục nữ
trứng thụ tinh xuống làm tổ. Nếu trứng không được thụ tinh thì sau 14 ngày kể
từ khi trứng rụng, lớp niêm mạc bị bong ra từng mảng, thoát ra ngoài cùng với
máu và dịch nhày. Đó là hiện tượng kinh nguyệt.
- Hiện tượng kinh nguyệt xảy ra theo chu kỳ hàng tháng (28-32 ngày)
thường kéo dài khoảng 5 ngày. Thời gian có kinh và lượng máu xuất ra tùy
thuộc vào từng cá nhân.
- Trong thời gian hành kinh thường có những biến đổi về tâm sinh lý như
mệt mỏi, rối loạn cảm xúc, dễ cáu giận, … Vì vậy chế độ ăn uống, tình trạng
sức khỏe, lối sống,…có ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt (kinh nguyệt không
đều hoặc tắt kinh), do đó ảnh hưởng đến sức khỏe và chức năng sinh sản.
1.5. Thụ tinh và thụ thai
a. Trứng rụng được phễu dẫn trứng tiếp nhận, đưa vào ống dẫn trứng và
di chuyển về phía tử cung. Nếu trứng gặp được tinh trùng, sẽ xảy ra sự thụ tinh
để tạo thành hợp tử rồi phát triển thành phôi.
b. Hợp tử di chuyển xuống tử cung làm tổ, khi đến tử cung sẽ bám vào
lớp niêm mạc tử cung đã được chuẩn bị sẵn (dày xốp và xung huyết) để làm tổ
và phát triển thành thai. Đó là sự thụ thai.
2. Nội dung 2: Một phần tích hợp vào dạy bài 39: Các nhân tố ảnh hưởng
đến sinh trưởng và phát triển ở động vật (tiếp theo), một phần tích hợp
vào dạy bài 47: Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở
người.
2.1. Các biện pháp tránh thai phổ biến (tích hợp vào dạy bài 39)
Đây là các biện pháp tránh thai, tác động và hiệu quả nó. [5]
Biện pháp tránh thai
Tác động và hiệu quả
Bao cao su (condom)
Ngăn cản không cho tinh trùng xâm
nhập vào dạ con. Hiệu quả : 90%
Vòng tránh thai
Ngăn cản sự làm tổ của phôi ở dạ con.
yên tâm chủ động sử dụng chúng bất cứ khi nào cần thiết, ngay cả khi bị xâm
hại tình dục bất ngờ.
Bao cao su OK
Vòng tránh thai
b. Vòng tránh thai
Vòng tránh thai là một trong những dụng cụ tránh thai phổ biến được
phụ nữ đã có gia đình tin tưởng dùng. Phương pháp này không hề gây đau đớn
hay ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như đời sống tình dục. Nếu đã có đủ con,
không muốn sinh thêm thì nên đặt vòng tránh thai nhưng cần đến các trung tâm
y tế để được tư vấn và sử dụng an toàn nhất.
Phương pháp này chỉ có tác dụng tránh thai chứ không thể tránh nhiễm
bệnh qua đường tình dục và cũng tăng nguy cơ bị viêm nhiễm vùng âm đạo.
c. Thuốc diệt tinh trùng
Thuốc diệt tinh trùng có thể ở dạng thuốc xịt, dạng kem, dạng thạch hay
viên đặt âm đạo, thường chứa hoạt chất chính là nonoxynol-9 với tác dụng tiêu
diệt tinh trùng, ngăn sự thụ thai. Thuốc diệt tinh trùng sử dụng đơn thuần hiệu
quả chỉ khoảng 70%. Nên đưa thuốc vào âm đạo trước khi giao hợp trong thời
14
gian không quá 20 phút. Nếu có những lần giao hợp tiếp tục sau đó, cần phải
dùng thêm thuốc. Chỉ nên rửa sạch thuốc sau khi giao hợp ít nhất là 6 – 8 giờ.
Cách dùng phổ biến hơn của thuốc diệt tinh trùng là kết hợp với nhiều
biện pháp tránh thai khác, vì nó giúp tăng thêm hiệu quả tránh thai của biện
pháp đã chọn. Thuốc diệt tinh trùng được kết hợp với các biện pháp sử dụng
bao cao su, mũ chụp cổ tử cung, màng ngăn âm đạo...
d. Thuốc viên tránh thai
Thuốc tránh thai là phương pháp phổ biến được nhiều người áp dụng để
Triệt sản là phương pháp đình sản phổ biến ở nữ giới. Cũng tương tự
như thắt ống dẫn tinh, triệt sản ở nữ giới sẽ được cắt và thắt ống dẫn trứng. Khi
đó trứng bị chặn lại, không thể gặp tinh trùng và đến tử cung được. Việc phẫu
thuật triệt sản ở nữ giới phức tạp hơn nam nhưng hiệu quả không cao bằng
phương pháp thắt ống dẫn tinh.
h. Giai đoạn an toàn (phương pháp ngày chuẩn)
Ngày thứ 1 tức là ngày bắt đầu có kinh nguyệt
Chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ (28 ngày) được chia thành 3 giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Bắt đầu từ ngày thứ 1 khi đến ngày thứ 7: Giai đoạn này
nếu quan hệ thì an toàn tương đối, tuy nhiên vẫn có thể có thai
- Giai đoạn 2 (giai đoạn rụng trứng): Từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 19:
Những ngày này nếu quan hệ rất dễ có thai.
- Giai đoạn 3 (giai đoạn có kinh nguyệt): Từ ngày thứ 20 đến ngày thứ 28:
Giai đoạn này an toàn tuyệt đối.
Ở những phụ nữ có chu kỳ kinh 28 ngày thì trứng có thể rụng trong
khoảng 6 ngày từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 16 sau ngày kinh nguyệt xuất hiện
của tháng trước đó. 6 ngày này sẽ trừ đi 3 ngày về trước và 2 ngày về sau tức là
từ ngày 8-18. Đây là những ngày không an toàn có khả năng thụ tinh cao nhất.
2.2. Một số biện pháp tránh thai an toàn khác (tích hợp vào dạy bài 47)
Ngoài các biện pháp tránh thai như đã học ở bài 39, còn có một số biện
pháp tránh thai khác như là:
a. Cho con bú vô kinh
Cho bú vô kinh là một biện pháp tránh thai dựa vào khả năng không thụ
thai do việc cho con bú đúng cách mang lại. Đây là một phương pháp tiện lợi,
dễ thực hiện và có hiệu quả tránh thai cao đồng thời lại có lợi cho cả mẹ và bé.
Dù vậy, phương pháp này chỉ sử dụng được đối với những bà mẹ đang nuôi
con hoàn toàn bằng sữa mẹ.
b. Thuốc tiêm tránh thai
Thuốc tiêm tránh thai hiện nay khá thông dụng ở nước ta, là loại nội tiết
3.1. HIV/AIDS
- HIV là virut gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. AIDS là hội
chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người do virut HIV gây ra.
- HIV xâm nhập vào cơ thể qua quan hệ tình dục, qua đường máu, tiêm
chích ma túy. Phụ nữ nhiễm HIV khi mang thai cũng có thể truyền qua thai nhi.
- AIDS phát triển qua 3 giai đoạn trong đó có giai cửa sổ thường không
biểu hiện triệu chứng, đây là giai đoạn lây nhiễm cho người khác nhiều nhất.
- Cho tới nay vẫn chưa tìm ra thuốc đặc trị HIV/AIDS. Vì vậy để phòng
tránh, cần thực hiện lối sống lành mạnh, vệ sinh y tế, tránh xa tệ nạn xã hội.
3.2. Bệnh lậu
- Bệnh do một loại vi khuẩn có tên là song cầu khuẩn gây ra.
- Bệnh này nguy hiểm và dễ lây lan qua đường tình dục vì phần lớn người
mắc bệnh không biểu hiện rõ ở giai đoạn đầu.
- Bệnh có thuốc điều trị nhưng thường để lại những hậu quả nặng nề như
gây vô sinh ở nam và nữ, có thai ngoài tử cung, con sinh ra bị mù lòa....
3.3. Bệnh giang mai
- Bệnh do xoắn khuẩn giang mai gây ra.
- Bệnh có thể lây truyền qua quan hệ tình dục, truyền máu, vết xây xát
trên cơ thể, hoặc truyền từ mẹ sang con qua nhau thai.
17
- Bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe như tổn thương các
phủ tạng, hệ thần kinh, con sinh ra có thể bị khuyết tật hoặc dị dạng bẩm sinh.
3. 4. Bệnh viêm gan B (VGB)
- VGB có thể lây theo 3 phương thức chính là truyền máu, các sản phẩm
của máu; tiếp xúc qua đường tình dục và lây truyền mẹ con; các phương thức
phụ khác như: lây qua nước bọt, đường miệng do tổn thương miệng, qua tiếp
xúc gần gũi với người nhiễm VGB trong gia đình, nhà trẻ...
thành về mặt thể chất, tình cảm và xã hội để sẵn sàng làm mẹ, hậu quả của nạo
phá thai đối với sức khỏe sẽ nặng nề hơn, nguy cơ tai biến sản khoa cũng rất
cao. Chưa kể, thường trẻ vị thành niên lỡ mang bầu khi người nhà phát hiện ra
thì cái thai đã tương đối to, và phá thai to cũng cực khổ như sinh một em bé
vậy. Và việc phá thai to có thể gây ấn tượng nặng nề cho trẻ.
Nạo phá thai có thể gây những tác hại với sức khỏe người phụ nữ: hậu
quả gần là băng huyết (nếu thai to), choáng, thủng tử cung (nếu nạo bằng dụng
18
cụ), sót nhau, nhiễm trùng (nhiều mức độ nặng nhẹ, nếu mức độ nặng có thể
phải cắt tử cung hay tử vong). Hậu quả xa là dính buồng tử cung, nghẹt ống
dẫn trứng, mang thai ngoài tử cung, vô sinh thứ phát, nhau cài răng lược, vỡ tử
cung, nhau tiền đạo. Nạo thai nhiều sẽ làm mỏng thành tử cung, dẫn đến nhiều
nguy cơ cho việc mang thai sau này.
Nhiều trường hợp nạo phá thai xong, cảm thấy cắn rứt lương tâm dẫn
đến trầm cảm, đây thực sự là một cú sốc lớn với trẻ và với cả cha mẹ.
CHƯƠNG 4. HIỆU QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Tôi đã phát phiếu thăm dò đến học sinh. Nội dung phiếu là hệ thống câu
hỏi trắc nghiệm. Câu hỏi và đáp án cụ thể như sau:
Câu hỏi
Đồng
ý
1. Em có đồng ý được đề cập các vấn đề giới tính và sức khỏe sinh
sản vị thành niên trong trường THPT không?
2. Các bệnh có khả năng lây truyền qua đường tình dục là : AIDS,
lậu, giang mai, viêm gan B, ung thư cổ tử cung....
X
Không
đồng ý
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
Với mỗi câu trả lời đúng các em được 1 điểm.
19
rè, e thẹn nhưng cũng không bỗ bã thái quá mà rất có chừng mực. Các em cùng
tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao rất tích cực và đoàn
kết hơn trong quá trình tham gia các hoạt động chung.
- Tình trạng quấy rối tình dục, có thai ngoài ý muốn không còn. Học sinh
khi yêu biết tôn trọng nhau, không quan hệ tình dục trước hôn nhân.
- Tinh thần của các em sau các buổi học tập có tích hợp giáo dục giới
tính rất hào hứng, nhiều học sinh bày tỏ rằng các em yêu thích giờ học. Vì qua
đây các em có thể nhận thức được giá trị của con người, giá trị của bản thân và
từ đó có kĩ năng sống cần thiết để bảo vệ chính mình.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.Với các cấp quản lí
- Các em học sinh rất cần trang bị cho mình những thông tin, kiến thức,
kỹ năng và phương tiện để đưa ra được những quyết định, quan điểm đúng đắn
về giới tính, góp phần hạn chế tối đa những hậu quả đáng tiếc do thiếu hiểu
20
biết. Nên chăng, đã đến lúc đưa vấn đề giáo dục giới tính trở thành một bộ môn
chính khóa trong nhà trường?
- Để giáo viên dễ dàng hơn trong việc tích hợp nội dung giáo dục giới tính
và sức khỏe sinh sản vị thành niên vào trường học thì trước hết các cấp quản lí
phải có chương trình kế hoạch cụ thể về nội dung này. Cần có các buổi chuyên
đề để hướng dẫn giáo viên những nội dung và cách thức tích hợp phù hợp.
- Hiệu trưởng các nhà trường nên định hướng cho giáo viên bộ môn sinh
học, giáo dục công dân, địa lí... thực hiện việc giáo dục giới tính và sức khỏe
sinh sản vị thành niên một cách đồng thời, tránh sự trùng lặp và thiếu sót.
2. Với giáo viên bộ môn sinh học
- Trước tiên, các thầy cô hãy để cho học sinh cơ hội tự giải quyết một số
[2]. Tài liệu - Ebook
21
[3]. https://www.webtretho.com
[4]. Đỗ Thị Tường Vi (2005), Giáo trình Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên, thanh niên Phần 2, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam.
[5]. Vũ Văn Vụ (2007), Sinh học 11 Nâng cao, NXB Giáo dục.
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP SỞ GD&ĐT XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
22
Họ và tên tác giả: Đỗ Thị Hoa
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường THPT Lê Lợi
TT
Tên đề tài SKKN
1.
Phương pháp dạy bài thực hành “Đa dạng
thế giới sinh vật” qua thực tế thiên nhiên
rừng Lam Kinh Thọ Xuân cho học sinh
2.
C
2016
Ngành
Giải KK
2015
Ngành
Ba
2016
Ngành
Ba
2017
Ngành
B
2017
học sinh lớp chủ nhiệm qua các tiết hoạt
sinh trường THPT Lê Lợi
23