MỤC LỤC
Trang
I.PHẦN MỞ ĐẦU ……………………………………………………………...2
1.1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………………….2
1.2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………..2
1.3. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………….2
1.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………3
II.PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………………3
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm……………………………………3
2.2. Tính tất yếu khách quan và thực trạng vấn đề giáo dục giới tính, sức khỏe
sinh sản cho học sinh THPT…………………………………………………….4
2.3. Thực trạng giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh trong
trường THPT thông qua một số bài dạy môn giáo dục công dân……………….9
2.3.1. Mục tiêu giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản qua môn giáo dục công
dân………………………………………………………………………………9
2.3.2. Hệ thống những bài giáo dục công dân có thể lồng ghép……………….10
2.3.3. Thiết kế một tiết dạy, có lồng ghép nội dung giáo dục giới tính và sức
khỏe sinh sản………………………………………………………………… 14
III.KẾT LUẬN…………………………………………………………………21
3.1. Kết luận……………………………………………………………………21
3.2. Kiến nghị………………………………………………………………...21
I.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Cuộc sống xã hội ngày càng phát triển, càng có nhiều điều kiện thuận lợi
để thỏa mãn nhu cầu, cũng như chăm sóc đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội.
Đặc biệt với lứa tuổi học sinh trung học phổ thông các em đã có thêm nhiều
điều kiện thuận lợi để phát triển cơ thể, hoàn thiện nhân cách của mình.
Ngày nay, cùng với sự bùng nổ thông tin, với phương tiện nghe nhìn hiện
đại, thông tin hàng ngày, hàng giờ tác động đến trẻ em nhất là học sinh trung học
Nhằm xác định một cách cụ thể các nội dung và phương pháp giáo dục
giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh qua môn giáo dục công dân.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Chủ yếu là học sinh trung học phổ thông
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích, tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp phỏng vấn giáo viên và học sinh.
- Phương pháp quan sát (thông qua các tiết giảng dạy và các hoạt động).
:
II.PHẦN NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Quan niệm về giáo dục giới tính
Vào đầu thế kỷ XX nhu cầu về giáo dục giới tính cho trẻ em đã xuất hiện
ở một số nước phương Tây như Mỹ, Đông Âu... Xuất phát từ quan điểm tính dục
là quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng giữa nam và nữ, là trách
nhiệm đạo đức của công dân với xã hội. Giáo dục giới tính đã trở thành môn học
ở nhiều nước trên thế giới, được đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông với
các tên gọi khác nhau: ví dụ như Thái Lan gọi là Giáo dục đời sống gia đình.
Thụy điển gọi là Vệ sinh tình dục. Tại Malaysia, Bộ giáo dục cũng đã đưa vấn
đề này vào trường học từ năm 1967-1968 và hiện nay nó có cả bề dày về việc
đào tạo cán bộ giáo viên chuyên sâu để giảng dạy về vấn đề này…
Ở Việt Nam từ những năm 1988 thì giáo dục giới tính cũng đã được đưa
vào giáo dục thí điểm ở một số trường phổ thông. Được sự đồng ý của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, sự ủng hộ của dư luận xã hội, sự mong chờ của thế hệ trẻ, với sự
tài trợ của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNEPA) và sự giúp đỡ kỹ thuật của
UNESCO khu vực, đề án “giáo dục đời sống gia đình và giới tính” ký hiệu là
Người lao động 2003).
Bên cạnh đó, việc mắc các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục tăng lên
nhanh chóng ở thanh thiếu niên. Theo ủy ban quốc gia phòng chống AIDS, tỉ lệ
người nhiễm HIV ở lứa tuổi 20-29 đã tăng từ 15% năm 1993 lên 62% vào cuối
năm 2002 và số nhiễm HIV ở lứa tuổi vi thành niên chiếm 8,3% các trường hợp
nhiễm. (Giáo dục dân số – sức khỏe sinh sản vị thành niên – Bộ giáo dục và đào
tạo – ủy ban dân số, gia đình và trẻ em – Hà Nội – 2005, tr.34).
Như vậy, việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho vị thành niên,
trong đó có một bộ phận lớn là học sinh đang học tập ở trường THPT là vấn đề
cần thiết và cấp bách. Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản nhằm cung cấp
cho các em những kiến thức, kỹ năng sống đầy đủ về giới tính, sức khỏe sinh
sản, về tình bạn, tình yêu… Đây là việc làm cần thiết bên cạnh việc giảng dạy
văn hóa để góp phần tạo ra một tương lai thật tươi sáng cho học sinh nhất là học
sinh THPT.
Quan niện về giáo dục sức khỏe sinh sản.
Giáo dục sức khỏe sinh sản có nội dung, yêu cầu gần như tương đồng với
giáo dục giới tính. Giáo dục sức khỏe sinh sản đã được tiến thành cùng với quá
trình giáo dục giới tính, giáo dục dân số ở nước ta.
Giáo dục sức khỏe sinh sản là quá trình trang bị cho các em những kiến
thức về sức khỏe sinh sản. Những kiến thức về sự thay đổi về thể chất cũng như
tinh thần, cảm xúc của tuổi dậy thì cho cả nam và nữ. Những kiến thức về biện
pháp tránh thai; những nguyên nhân và hậu quả khi mắc bệnh lây truyền qua
đường tình dục. Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, cách phòng ngừa xử trí nếu
không may bị mắc. Thông qua nhận thức đúng đắn về các vấn đề trên giúp học
sinh nhận thức đúng đắn và có thái độ đúng mực đối với những vấn đề liên quan
đến sức khỏe sinh sản, từ đó hình thành cho học sinh có được những hành vi
đúng đắn về đạo đức lối sống, giúp các em xử lý các vấn đề tình bạn, tình yêu,
hôn nhân chủ động, có trách nhiệm quan hệ lành mạnh an toàn với bạn khác
giới.
Giáo dục là quá trình tác động có định hướng, cho nên giáo dục sức khỏe
cũng có những thay đổi sâu sắc.
- Ý thức “muốn làm người lớn”
Ở tuổi này các em có xu hướng tách ra, ít phụ thuộc vào cha mẹ, có tâm
lý muốn làm người lớn, coi mình là người lớn. Lứa tuổi này không còn muốn đi
chơi cùng ba mẹ, muốn tự chọn bạn, được thức khuya, được ăn mặc theo ý
thích, không muốn tâm sự cùng cha mẹ dù bất cứ chuyện gì xảy ra như hồi bé.
Các em muốn độc lập trong suy nghĩ và hành động nên nhiều khi chống đối lại
gia đình, chuyển từ sinh hoạt gia đình sang sinh hoạt bạn bè, ngưỡng mộ thần
tượng. Nhiều em do có tâm lý muốn khẳng định mình là người lớn nên đã bắt
đầu yêu đương, tán tỉnh đã hẹn hò với bạn khác giới, đã tò mò tìm hiểu những
câu chuyện, đoạn phim về quan hệ tình dục, đã bắt chước những hành vi tình
dục của người lớn khi có điều kiện thuận lợi, tự quyết định hướng đi cho riêng
mình. Có em khi gặp rắc rối trong chuyện tình cảm với bạn bè thường chủ động
để tự mình giải quyết mà không tham khảo ý kiến của người lớn trong gia đình.
Do lối suy nghĩ này nên nhiều em đã có những hành động mù quáng gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe sinh sản bản thân.
- Những cảm xúc giới tính
Ở tuổi học sinh THPT sự phát dục đã kích thích các em bắt đầu quan tâm
đến người khác giới, làm xuất hiện những cảm giác, cảm xúc giới tính mới lạ.
Những rung cảm mới lạ này đôi khi lướt qua một cách nhanh chóng, nhưng cũng
có khi kéo dài. Các em thường che dấu cảm xúc của mình bằng các biểu hiện khác
nhau như: Bông đùa, ngượng ngùng, suồng sã, ồn ào... Những rung cảm được giữ
kín này chứa đựng biết bao tâm trạng: thiện cảm, buồn rầu, nhớ nhung, muốn được
nghe một lời dịu dàng âu yếm, một cử chỉ quan tâm, một nụ cười trìu mến. Trong
5
mọi trường hợp đó là những cảm xúc trong sáng. Mọi sự can thiệp thô bạo, thiếu tế
nhị sẽ làm cho các em cảm thấy bị chế giễu và hổ thẹn.
vị thành niên, tạo nên những nguy cơ về sức khỏe cho lứa tuổi này.
Lối sống đề cao hưởng thụ và dục vọng của cá nhân được xem như là
những mặt trái của hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đang có xu hướng xuất hiện
ngày càng gia tăng ở Việt Nam. Một bộ phận lứa tuổi học sinh THPT đặc biệt
các em sống ở các thành phố, khu đô thị, các trung tâm, do chưa có sự giáo dục
tốt từ phía nhà trường và gia đình hoặc do nhận thức quá kém đã bị ảnh hưởng
rất nhiều từ lối sống thực dụng này. Lối sống này đã tác động đến các hiện tượng
như gia tăng sử dụng các chất kích thích, chất gây nghiện, sự buông thả trong
sinh hoạt tình dục, hiện tượng nạo phá thai… diễn ra với con số đáng kinh ngạc.
Một số chuẩn mực xã hội dường như không được chấp nhận trong quá
khứ như sinh hoạt tình dục trước hôn nhân, sống thử… đang có xu hướng được
6
giới trẻ chấp nhận. Điều này đã tạo ra sự tự do hơn trong lĩnh vực giao lưu tình
cảm và thỏa mãn nhu cầu sinh lý tình dục, nhưng mặt khác nó là yếu tố làm tăng
nguy cơ bị lây các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục và có thai ngoài ý
muốn ở tuổi học sinh trong khi các em chưa có kinh nghiệm và hạn chế về kiến
thức trong việc áp dụng các biện pháp phòng tránh các nguy cơ đối với sức khỏe
sinh sản bản thân.
Ngoài ra do một số mặt trái của quá trình phát triển ở nước ta như tệ tham
nhũng, tệ nạn xã hội, tội phạm gia tăng, trật tự xã hội còn kém cùng với nhịp
sống nhanh trong xã hội hiện đại cũng là những yếu tố tác động tới lối sống
buông thả, coi thường đạo đức xã hội của bộ phận nhỏ lứa tuổi học sinh THPT
gây ảnh hưởng tới sức khỏe của các em.
* Sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin đại chúng
Trong những năm trở lại đây, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ
thuật, các phương tiện truyền thông đại chúng ngày càng phát triển đa dạng về
loại hình hướng đến mục tiêu phục vụ tất cả các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên
Theo nhận định của một giáo viên tin học của một trường THPT, mạng
Internet phát triển như hiện nay, nhà nào cũng có máy tính thì học sinh nào cũng
có thể tiếp cận được với phim ảnh, truyện có nội dung không lành mạnh. Ở lứa
tuổi mới lớn bắt đầu tò mò chuyện người lớn, chúng rất dễ bị thu hút bởi những
bộ phim đen và sẽ dễ bị kích thích. Không ít trẻ đã tập yêu đương, thử làm
chuyện của người lớn, mà gia đình không hề hay biết.
* Những tác động từ phía gia đình học sinh
Gia đình là môi trường giáo dục nhân cách đầu tiên cho mỗi con người,
đó là nơi gần gũi nhất với mỗi hoc sinh, có vai trò quan trọng trong quá trình
hình thành và phát triển toàn diện của các em. Gia đình không chỉ đảm bảo cho
các em có đời sống no đủ, được học hành tử tế mà đó còn là nơi giáo dục những
phẩm chất nhân cách cần thiết để các em bước vào đời.
Trong những năm gần đây với việc thực hiện tốt công tác dân số - kế
hoạch hóa gia đình, tỷ lệ giảm sinh đã có kết quả đáng mừng. Nhiều gia đình
Việt Nam chỉ sinh từ một đến hai con, số lượng gia đình sinh con thứ 3 đã giảm
rõ rệt qua các năm. Việc có con ít đã góp phần tích cực vào việc chăm sóc và
đầu tư tốt hơn cho con cái trong nhiều lĩnh vực, con cái trong những gia đình ít
con mà có điều kiện kinh tế khá giả càng được chăm sóc tốt hơn, chúng được ăn
ngon, mặc đẹp, được vui chơi giải trí, được học hành ở những trường lớp chất
lượng cao, được chăm sóc sức khỏe tốt... Đây chính là động lực để các em phát
triển toàn diện hơn. Tuy nhiên, ở một bộ phận gia đình, do có ít con nên tình
cảm của gia đình dồn hết cho người con, đến mức quá nuông chiều, đáp ứng mọi
đòi hỏi của con và sự nuông chiều này có thể là nguyên nhân dẫn đến lối sống
không lành mạnh, buông thả, ăn chơi, trốn học, ảnh hưởng tới sức khỏe tình dục
của các em.
Trong giai đoạn hiện nay mỗi gia đình đã trở thành một đơn vị kinh tế nhỏ
của xã hội, nhờ thực hiện tốt chức năng kinh tế này mà nhiều hộ gia đình đã trở
nên giàu có, đáp ứng được nhu cầu của mỗi cá nhân. Nhưng điều đáng lo ngại là
thấy sợ mỗi khi có đèn đỏ (kinh nguyệt), em không dám hỏi mẹ mà chỉ lẳng lặng
học theo mẹ thôi. Hay Khi em hỏi bố mẹ về vấn đề bạn trai, bố mẹ không nghe
hết câu mà mắng em xối xả. Em cảm thấy buồn, từ đó trở đi em không hỏi gì về
vấn đề đó nữa.
Vì vậy đòi hỏi mỗi gia đình cần có sự nhận thức lại vai trò của mình trong
công tác giáo dục con cái.
* Tác động từ các mối quan hệ bên ngoài khác như nhóm bạn, hội…
Mối quan hệ với bạn bè đồng trang lứa và nhóm bạn là mối quan hệ phổ
biến của lứa tuổi học sinh THPT. Sự giao tiếp với bạn bè sẽ đáp ứng nhu cầu
tình cảm của các em, là nơi các em có thể giải bầy tâm sự, chia sẻ buồn vui,
cùng nhau học hành, cùng nhau tiến bộ… Tuy nhiên không phải người bạn nào
cũng tốt, cũng giúp đỡ nhau trong học tập, cuộc sống. Hiện nay không ít các bạn
học sinh có hành vi tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc, mại dâm... không ít học
sinh do quá tin bạn đã bị những bạn bè này lôi kéo, rủ rê hoặc kích động thực
hiện những hành vi có hại cho sức khỏe như hút thuốc, uống rượu, xem phim
khiêu dâm, sinh hoạt tình dục… Điều này đã hình thành ở không ít học sinh thói
quen xấu như quan hệ tình dục sớm, không an toàn gây ảnh hưởng nghiêm trọng
tới vấn đề học tập, sưc khỏe sinh sản của học sinh.
Một số học sinh do quan hệ tình dục sớm không an toàn, không sử dụng
biện pháp phòng tránh thai nào nên hậu quả để lại lớn nhất đó là các em gái đã
mang thai ngoài ý muốn. Có em may mắn được gia đình hai bên chấp nhận nên
được lấy nhau, rồi sống trong cảnh vừa đi học vừa nuôi con, cả cha và mẹ của
đứa trẻ mới sinh ra do nhận thức còn thấp, không có nguồn kinh tế nào, phụ
thuộc vào gia đình... nên cuộc sống đã khó khăn, càng vất vả hơn trong việc bảo
đảm nuôi dưỡng, chăm sóc những đứa con này thành người.
Còn phần đông những em mang thai do sợ bị mọi người phát hiện, bị thầy
cô bạn bè biết, sợ bị đuổi học, dư luận xã hội lên án... nên đã tìm cách nạo phá
thai ở những cơ sở không an toàn, hậu quả để lại là không ít em bị nguy hiểm
đến tính mạng mình, gây ảnh hưởng nặng nề cho tương lai về sau. Đặc biệt nạo
phá thai không chỉ gây nguy hiểm cho sức khỏe sinh sản, học tập giảm sút... mà
đối với vấn đề giới tính và sức khỏe sinh sản.
- Hiểu được quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân, đặc biệt công
dân học sinh, có liên quan đến giới tính và sức khỏe sinh sản.
*. Về thái độ
- Quý trọng sức khỏe sinh sản bản thân đồng thời tôn trọng sức khỏe sinh
sản của người khác.
- Tôn trọng, bình đẳng giới giữa nam và nữ.
- Tin tưởng, đồng tình, ủng hộ các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước ta đối với vấn đề giới tính và sức khỏe sinh sản.
- Phê phán những thái độ, hành vi tiêu cực, coi thường, xâm phạm giới
tính và sức khỏe sinh sản.
*. Về kỹ năng
- Chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước ta đối với vấn đề giới tính và sức khỏe sinh sản .
- Thực hiện tốt các quyền và trách nhiệm nghĩa vụ có liên quan của bản thân.
- Biết vận động gia đình, bạn bè, mọi người chấp hành các chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta đối với vấn đề giới tính và sức
khỏe sinh sản.
10
2.3.2. Hệ thống những bài GDCD có thể lồng ghép
Những nội
dung của
bài GDCD
Nội dung lồng ghép giáo dục
giới tính và sức khỏe sinh
sản
- Trách nhiệm công dân phải
thực hiện tốt Luật hôn nhân và
gia đình năm 2014 và chính
sách dân số, kế hoạch hoá gia
đình cuả Nhà nước: không kết
hôn sớm, không sinh con ở
tuổi vị thành niên.
Lớp
Tên bài
Lớp
10
Bài 12:
Công dân
với tình
yêu, hôn
nhân và
gia đình
1. Tình yêu
2. Hôn nhân
3. Gia đình,
chức năng,
các
mối
quan hệ gia
đình…
1. Ô nhiễm
môi trường
và
trách
nhiệm của
công dân…
2. Sự bùng
nổ dân số và
trách nhiệm
của
công
dân…
3. Các dịch
bệnh hiểm
Gợi ý về
phương thức
lồng ghép và
PPDH
- Lồng ghép
mục 1, 2, 3.
Phương
pháp:
thảo
luận nhóm;
nghiên cứu
tình huống,
động
não,
thuyết trình
chủ
xã
hội chủ
nghĩa.
Bài 11:
Chính
sách dân
số và giải
quyết
việc làm.
Lớp
12
Bài
3:
Công dân
bình
đẳng
nghèo
và
trách nhiệm
của
công
dân...
1. Thế nào là
tự nhận thức
về bản thân?
làm.
3.
Trách
nhiệm của
công dân đối
với
chính
sách dân số
và giải quyết
việc làm.
1.Công dân
bình đẳng về
quyền
và
nghĩa vụ.
- Nguyên nhân, tác hại và
cách phòng tránh dịch bệnh
hiểm nghèo: HIV/AIDS.
- Định hướng những phẩm
chất giới tính cần thiết cho giới
nam và giới nữ để các em “tự
hoàn thiện bản thân”.
- Sống an toàn, lành mạnh để
bảo vệ sức khỏe sinh sản bản
thân và tự hoàn thiện bản thân.
- Lồng ghép
mục 3.
Phương
- Trách nhiệm công dân với
việc hạn chế gia tăng dân số,
giảm bớt gánh nặng vấn đề
việc làm (tình dục an toàn,
không kết hôn sớm).
- Lồng ghép
vào mục 1.a;
mục 2.a; mục
3.
Phương
pháp: Thảo
luận nhóm,
nêu vấn đề.
- Mọi công dân nam, nữ có - Lồng ghép
quyền và nghĩa vụ ngang nhau mục 1, 3.
trước pháp luật. Nhà nước đảm
bảo quyền bình đẳng của công Phương
12
trước
pháp
luật.
Bài
4:
Quyền
Bài
6:
Công dân
với các
quyền tự
do
cơ
bản.
1. Các quyền
tự do cơ bản
của công dân
2.
Trách
nhiệm của
Nhà nước và
công
dân
trong
việc
bảo
đảm
thực
hiện
quyền tự do
cơ bản
Bài
7:
gia đình.
mục 2: Bình
đẳng giữa lao
- Tôn trọng và biết giúp đỡ động nam và
phụ nữ, bạn gái những việc nữ.
phù hợp với bạn.
Phương
- Bình đẳng giới trong gia đình pháp:
thảo
là cơ sơ để xây dựng gia đình luận nhóm,
hạnh phúc.
thuyết trình,
đàm thoại gợi mở.
- Công dân có quyền tự do về - Lồng ghép
thân thể, tinh thần, không bị mục 1. a, b.
xâm hại, lạm dụng tình dục. mục: quyền
Những quyền đó được Nhà bất khả xâm
nước đảm bảo.
phạm về thân
- Những hành vi bạo lực và thể, sức khỏe.
xâm hại, lạm dụng tình dục là Mục 2. b:
vi phạm pháp luật và sẽ bị xử trách nhiệm
lí nghiêm minh.
của công dân
- Tố cáo hành vi xâm hại, lạm Phương
dụng tình dục với cơ quan Nhà pháp: Động
nước có thẩm quyền.
não,
thuyết
trình, xử lí
8: 1.
Quyền - Bình đẳng giới trong học tập, - Lồng ghép
Pháp luật học tập, sáng sáng tạo và phát triển
mục 1.
với
sự tạo và phát - Pháp luật bảo vệ quyền bình Phương
phát triển triển
của đẳng giới trong học tập, sáng pháp;
tình
của công công dân.
tạo và phát triển
huống, thuyết
dân
2. Ý nghĩa
trình,
quyền học
tập,
sáng
của
công
dân.
3.
Trách
nhiệm của
Nhà nước và
công
dân
trong
việc
đảm
(TIẾT 1)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
Học xong tiết 1, học sinh cần đạt được:
1. Về kiến thức
- Hiểu được tình yêu chân chính và những điều nên tránh trong tình yêu.
- Phân biệt tình bạn khác giới với tình yêu.
- Biết phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Biết một số
biện pháp phòng tránh thai.
2. Về kỹ năng
- Biết nhận xét, đánh giá những quan niệm sai lầm về tình yêu.
- Biết bảo vệ mình, tránh quan hệ tình dục không an toàn trước hôn nhân.
3. Về thái độ
- Đồng tình, ủng hộ các quan niệm đúng đắn về tình yêu.
- Phê phán những nhận thức và hành vi lệch lạc, sai trái trong tình yêu.
II. KIẾN THỨC CƠ BẢN
- Tình yêu chân chính và những biểu hiện của nó.
- Những điều nên tránh trong tình yêu nam nữ thanh niên.
III. PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC
1. Phương pháp dạy học
Bài học này vừa mang tính lý luận vừa có tính thực tiễn, do đó sử dụng:
- Phương pháp thuyết trình, diễn giảng, tăng cường đàm thoại.
- Phương pháp nêu vấn đề, thảo luận nhóm.
- Giải quyết tình huống.
2. Hình thức tổ chức dạy học
- Dạy học theo lớp.
- Làm việc cá nhân mỗi HS.
- Làm việc theo nhóm.
IV. CHUẨN BỊ
1. Giáo viên
- Truyện kể, tình huống, ca dao tục ngữ về tình yêu.
bản
Hoạt động 1: Thuyết trình, động não kết hợp với
Bài 12: Công
đàm thoại làm rõ khái niệm: Tình yêu
dân với tình
yêu, hôn nhân
và gia đình (tiết
1)
- Gv dẫn dắt: Trong đời sống tình cảm
1. Tình yêu:
của con người ai cũng có một tình yêu
a. Tình yêu là
thật đẹp nào đó (như tình yêu quê
gì?
hương, đất nước, gia đình, bạn bè tình
yêu nam nữ....). Trong tiết học hôm nay,
chúng ta chỉ tìm hiểu về tình yêu nam,
nữ. Xuân Diệu từng nói
“ Làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ không thương một kẻ nào”
GV: Mời HS đọc bài thơ “Nhớ” và cảm
nhận tình yêu trong bài thơ?
- HS đọc và cảm
GVKL: Đây là tình yêu của người chiến nhận tình yêu
16
sĩ trong thời kì cách mạng. Tình yêu mà
anh giành cho người yêu lớn lao như
những mặt nào?
Phù hợp về tâm lí, tính cách, sở thích...
GV: Em hiểu như thế nào về “tự nguyện
hiến dâng cho nhau cuộc sống của
mình”?
“Tự nguyện hiến dâng”: không phải là
dục vọng tầm thường mà là sự hi sinh vì
người khác, là sẵn sàng đồng cam cộng
qua bài thơ
- HS đọc các câu
thơ, tục ngữ về
tình yêu.
- HS: (phát hiện
những biểu hiện)
- Hs trả lời
- Hs trả lời
- Hs trả lời
- Tình yêu là sự
rung cảm quyến
luyến sâu sắc
giữa hai người
khác giới. Ở họ
có sự phù hợp về
nhiều mặt, làm
thế nào? Cô và các em cùng tìm hiểu ở
mục b.
Hoạt động 2: Kể chuyện kết hợp với đàm thoại để tìm
hiểu khái niệm, biểu hiện của Tình yêu chân chính
GV: So sánh quan niệm tình yêu
trong xã hội phong kiến và trong XH HS trả lời:
hiện nay?
- PK: Môn đăng hộ
GV: - PK: Cha mẹ đặt đâu con ngồi đối. ...
đấy; Môn đăng hộ đối…
- Hiện nay: tự do
- Hiện nay: Nam nữ được tự do yêu yêu đương,
đương, tự do kết hôn trong khuôn
khổ pháp luật.
GV kể câu chuyện tình cảm động của
Tổng Thống Pháp Emmanuel
Macrron và người vợ hơn ông 24
tuổi
GV: Tình yêu của 2 người xuất phát
từ trái tim biết yêu thương, quan tâm
chăm sóc. Đó chính là tình yêu chân
chính, thứ tình yêu cao cả, mãnh liệt.
GV: Theo các em, tình yêu chân
dâng cho nhau
cuộc sống của
mình.
b. Tình yêu
chân chính:
chính là tình yêu
trong sáng và
lành mạnh, phù
hợp với các quan
niệm đạo đức
tiến bộ của xã
hội.
* Những biểu
hiện của tình yêu
chân chính:
- Sự hòa hợp về
tính cách.
- Quan tâm, chia
sẻ, không vụ lợi
- Chân thành, tin
cậy, có lòng tôn
trọng.
- Có lòng vị tha.
Thông cảm.
c. Một số điều
nên tránh trong
tình yêu nam
nữ thanh niên:
Gv: Cho HS xem một số thông tin sau
( viết bảng biểu và treo lên bảng – phụ
lục 4)
GV? Qua những con số báo động về
tình trạng sức khỏe sinh sản của vị
thành niên Việt Nam hiện nay, em có
Nhóm 2:
GV: Sự nhầm lẫn tình bạn với tình yêu
rất dễ gây khó xử cho cả 2 người. Làm
cho tình bạn bị rạn nứt, ảnh hưởng đến
học tập, quan hệ. (GV lồng ghép nội
dung tình bạn khác giới để phân biệt
với tình yêu).
Nhóm 3:
GV: Bản chất của tình yêu là sự chung
thủy, tình yêu không thể bị san sẻ, bị
“mua, bán” như những thứ hàng hóa
khác.
Nhóm 4:
GV giới thiệu những hậu quả của quan
hệ tình dục trước hôn nhân cho HS
biết (treo bảng)
GV: Lồng ghép giới thiệu thêm cách
phòng tránh bệnh lây truyền qua
đường tình dục và HIV, một số biện
pháp phòng tránh thai (sử dụng bao
cao su, thuốc tránh thai khẩn cấp
Postinor...). Nếu có nghi ngờ mang
thai hãy tìm đến người lớn để có
hướng xử lý kịp thời.
GV: Qua kết quả thảo luận nhóm, em
nào có thể khái quát một số điều nên
tránh trong tình yêu nam nữ thanh
niên?
GV: Theo các em điều nên tránh nào là
quan trọng nhất?
HS:
không
nên
20
Tránh được yêu quá sớm sẽ có tác yêu đương quá
dụng nhất vì yêu quá sớm sẽ dẫn đến sớm
nhầm lẫn tình bạn với tình yêu, sẽ yêu
nhiều người và dễ có quan hệ tình dục
trước hôn nhân.
Gv kết luận: Tình yêu thật đẹp và
không thể thiếu trong đời sống tình
cảm của mỗi con người khi trưởng
thành. Tình yêu chỉ đẹp và có sức
mạnh khi cả hai người khác giới đã có
sự trưởng thành, chín chắn về thể chất,
tinh thần, nghề nghiệp... Để có một
tình yêu chân chính, lành mạnh mỗi
em phải biết học tập và rèn luyện bản
thân thật tốt, phải luôn ghi nhớ những
điều nên tránh trong tình yêu nam nữ.
Chỉ có như vậy các em mới tìm được
tình yêu đích thực của mình.
4. Củng cố kiến thức
Có quan niệm cho rằng “tình yêu của giới trẻ hiện nay bên cạnh những
lực lượng giáo dục trong xã hội, trong đó giáo dục ở nhà trường rất quan trọng .
3.2. Kiến nghị
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân (về kinh phí, thời gian, đội ngũ giáo
viên...) giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản chỉ được thực hiện dưới dạng
lồng ghép- tích hợp vào một số môn học trong nhà trường phổ thông, trong đó
có môn Giáo dục công dân. Thực tế cho thấy công tác giáo dục này chưa đạt
được hiệu quả cao, còn nhiều hạn chế. Vì vậy để công tác giáo dục này trong
nhà trường phổ thông đạt hiệu quả thiết thực, theo ý chủ quan của tôi có các kiến
nghị sau:
1. Đối với nhà trường phổ thông: Cần quan tâm hơn nữa tới việc giáo dục
giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh. Nhà trường cần tạo điều kiện cho số
giáo viên được giao nhiệm vụ dạy lồng ghép giáo dục giới tính và sức khỏe sinh
sản đi học thêm các chuyên đề về nội dung, phương pháp giảng dạy giới tính,
sức khỏe sinh sản vị thành niên... Ưu tiên cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các
tiết học được giáo viên lồng ghép giáo dục. Nhà trường nên tổ chức hội thảo, nói
chuyện, mời các chuyên gia tâm lý về tư vấn và giải đáp thắc mắc cho học sinh
học sinh. Cần xem công tác giáo dục này như là một nhiệm vụ, một kế hoạch
hoạt động của nhà trường, để từ đó xây dựng kế hoạch, chương trình, biện pháp
thực hiện cụ thể.
2. Đối với môn học được lồng ghép: Mỗi giáo viên giảng dạy những môn
học được lồng ghép như: sinh học, địa lý, giáo dục công dân... cần phải coi trọng
công việc này như là một nội dung trong bài dạy học của mình. Không nên xem
nhẹ, né tránh, giảng “hời hợt”,“qua loa”, thiếu trách nhiệm… Để lồng ghép đạt
hiệu quả, tất nhiên giáo viên phải tự mình tham khảo nhiều nguồn thông tin (từ
sách, báo, ti vi, mạng Internet...) để từ đó có những kiến thức mới, cập nhật.
Giáo viên cần xác định được đúng nội dung, phương pháp mà mình cần giáo dục
học sinh học sinh trong một tiết dạy. Tránh trường hợp vì thiếu thời gian mà bỏ
qua các kiến thức quan trọng này.
3. Đối với bộ môn giáo dục công dân: Đây là một môn học có khả năng
lồng ghép cao. Chúng ta biết rằng ưu thế của môn giáo dục công dân chính là
thể tiến hành với nhiều phương pháp dạy học khác nhau, nhưng để đạt được hiệu
quả lồng ghép, giáo viên nên căn cứ vào nội dung kiến thức lồng ghép, cũng như
nội dung của môn học để lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp. Để làm được
điều này giáo viên phải nắm vững cách thức tiến hành, ưu, nhược điểm của mỗi
phương pháp để chọn ra phương pháp có hiệu quả nhất. Không nên chỉ sử dụng
một phương pháp dạy học mà cần có sự kết hợp các phương pháp dạy học khác
nhau. Nên sử dụng các phương pháp phát huy được tính tích cực của học sinh
như thảo luận nhóm, tình huống...
Thứ tư, Phương tiện kỹ thuật ngày càng phát triển điều đó đã giúp ích
cho giáo viên trong quá trình dạy học. Hiệu quả dạy học tùy thuộc vào việc giáo
viên sử dụng những tư liệu, hình ảnh trực quan tác động tới quá trình nhận thức
của các em. Vì vậy trong lồng ghép giáo dục, giáo viên nên lựa chọn những
phương tiện phù hợp, có khả năng tiến hành, lưu ý những mặt mạnh, mặt hạn
chế của các phương tiện dạy học. Giáo viên nên biết sử dụng những phương tiện
dạy học mới như: ti vi, máy tính, máy chiếu... vì đây là những phương tiện dạy
học có khả năng truyền đạt những kiến thức thực tiễn một cách sinh động nhất,
dễ hiểu nhất, tác động mạnh tới quan điểm, thái độ sống của học sinh.
Thứ năm, Trong quá trình dạy học, giáo viên nên quan tâm, chú ý tới học
sinh hơn nữa, cần hỏi xem các em có thắc mắc gì không? Giáo viên nên tạo ra
không khí học tập thoải mái, thân thiện. Đồng thời cần có sự tôn trọng và thông
cảm với những sai lầm của một số học sinh về vấn đề tình yêu, tình dục. Không
nên tỏ ra coi thường, mỉa mai, có cách nhìn khác đối với những học sinh đang
yêu và đã yêu, đã có những sai lầm. Vì một lời nói vô tình của giáo viên có thể
gây hậu quả nặng nề đối với các em. Giáo viên nên gần gũi học sinh để kịp thời
phát hiện ra những vấn đề rắc rối mà các em đang gặp để giúp các em định
23
hướng cách giải quyết hợp lý. Hãy trở thành những “người bạn” thân tình với
Người viết
Trần Thị Quyên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK GDCD10, NXB Giáo dục 2006.
2. SGK GDCD11, NXB Giáo dục 2006.
3. SGK GDCD12, NXB Giáo dục 2006.
24
4. SGV GDCD10 NXB Giáo dục 2006.
5. SGV GDCD11 NXB Giáo dục 2006.
6. SGV GDCD12 NXB Giáo dục 2006.
7. Bài 16: Đặc điểm dân số nước ta: SGK Địa lí 12 NXB Giáo dục 2006.
8. Bài 23: Cơ cấu dân số: SGK Địa lí 10 NXB Giáo dục 2006.
9. Bài 46: Cơ chế điều hòa sinh sản: SGK Sinh học 11 NXB Giáo dục 2006.
10. Bài 47: Sinh đẻ có kế hoạch ở người: SGK Sinh học 11 NXB Giáo dục 2006.
11. Giáo trình giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản ( dùng cho sinh viên khoa
giáo dục chính trị), Hà nội 2009.
12. Tích hợp giáo dục dân số vá sức khỏe sinh sản trong môn GDCD ở trường
THPT của Đặng Thùy Anh: Tạp chí giáo dục quý 2/2003
13. Giáo dục về giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp
chủ nhiệm trong các giờ tập thể của Đặng Thị Thu Nhàn
14. Giáo dục dân số-sức khỏe vị thành niên- Bộ giáo dục và đào tạo - ủy ban dân
số, gia đình trẻ em- Hà Nội
25