GIÁO DỤC VỀ GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH LỚP CHỦ NHIỆM TRONG CÁC GIỜ ĐỘNG TẬP THỂ - Pdf 14

Đề tài:
" GIÁO DỤC VỀ GIỚI TÍNH VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH
NIÊN CHO HỌC SINH LỚP CHỦ NHIỆM TRONG CÁC GIỜ
ĐỘNG TẬP THỂ "
Phần một: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, cùng với quá trình hội nhập, sự giao thoa văn hóa Đông-Tây đã
bắt đầu được đẩy mạnh, chính vì vậy đã tạo nên nhiều thay đổi trong cách sống,
cách suy nghĩ của giới trẻ. Nhiều bậc cha mẹ, nhất là những người có con đã qua
lứa tuổi mầm non thường băn khoăn tự hỏi: khi nào mình sẽ bắt đầu giáo dục
giới tính cho con mình, và sẽ giáo dục như thế nào? Không ít người vẫn nghĩ
rằng cần phải giấu giếm, bưng bít thông tin về sinh lý, về các biện pháp tránh
thai đối với lứa tuổi trẻ vị thành niên vì họ cho rằng làm như thế là " vẽ đường
cho hươu chạy" và vì đó là vấn đề tế nhị nên ngại nói ra.
Tuy nhiên, ngày nay trẻ em, nhất là trẻ vị thành niên có điều kiện tiếp xúc
rất sớm với thông tin trên các phương tiện truyền thông đại chúng và nhiều
nguồn thông tin khác. Vì thế, dù người lớn có muốn hay không muốn thì các em
cũng đã được cung cấp một số kiến thức nhất định về giới tính và sức khỏe sinh
sản, tuy nhiên kiến thức này có thể chưa đầy đủ, chưa đúng đắn vì còn tùy thuộc
vào chất lượng nguồn thông tin mà các em tiếp cận được. theo ước tính hiện nay
của hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam : mỗi năm nước ta có khoảng 300.000
ca mang thai ở độ tuổi từ 15 – 19 tuổi. Với con số này, Việt Nam đang dẫn đầu
Đông Nam Á và xếp thứ năm trên thế giới về tỷ lệ nạo phá thai ở trẻ vị thành
niên.Trước đây, tỷ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên chỉ chiếm 5 - 7% tổng số
ca nạo phá thai, tuy nhiên vài năm gần đây, tỷ lệ này tăng lên 10%. Việc mang
thai ngoài ý muốn tăng, một phần bởi một bộ phận giới trẻ có suy nghĩ quá dễ
dãi trong quan hệ tình dục.
Như vậy, kiến thức về giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên là một vấn
đề xã hội đáng quan tâm, nếu các em ở lứa tuổi này không được cung cấp kiến
thức đầy đủ sẽ dễ dẫn đến nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến đạo đức lối sống, việc
học hành, có khả năng ảnh hưởng đến cả tương lai sự nghiệp của các em, đến
chất lượng dân số của toàn xã hội công tác giáo dục về giới tính và sức khỏe

người lao động. Trong quá tŕnh giáo dục, nhà giáo dục đóng vai trò chủ đạo,
người được giáo dục tồn tại với tư cách là đối tượng chịu sự tác động có tính định
hướng của nhà giáo dục. Giữa nhà giáo dục với người được giáo dục có sự tác
động qua lại lẫn nhau, tạo nên sự thống nhất biện chứng giữa giáo dục và tự giáo
dục .
Quá trình giáo dục là quá trình tác động qua lại biện chứng hai chiều: một
mặt, là sự tác động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục và những ảnh
hưởng của môi trường, của các nhân tố xă hội, của đoàn thể và gia đình mà nhà
giáo dục có trách nhiệm thống nhất lại theo một phương hướng, mục đích nhất
định. Mặt khác, là sự đáp ứng, sự hưởng ứng tích cực của người được giáo dục
đối với các tác động và các ảnh hưởng giáo dục bên ngoài, là sự hoạt động bên
trong để chuyển hóa những yêu cầu khách quan của xă hội thể hiện trong các tác
động và ảnh hưởng đó thành hiện thực sinh động, thành những phẩm chất,
những năng lực, những nét tính cách, những nhu cầu của bản thân người được
giáo dục. Nói cách khác, là sự hưởng ứng tích cực của người được giáo dục đối
với những tác động định hướng, có tổ chức của nhà giáo dục nhằm hoàn thiện
nhân cách của bản thân.
Tóm lại, Giáo dục là một mặt không thể thiếu được của cuộc sống xă hội,
là lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực của sự phát triển của xă hội. Trong
nhiều tài liệu, khái niệm giáo dục đă được diễn giải theo nhiều cách. Nhìn
chung, giáo dục được hiểu là "Sự hình thành có mục đích và có tổ chức những
sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt
đạo đức và thị hiếu thẩm mỹ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này
bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố tạo nên những nét tính
cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng các yêu cầu của kinh tế - xã hội" .
2
Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên là giáo dục các vấn
đề liên quan đến giới tính, chất lượng dân số, những nội dung của sức khỏe sinh
sản vị thành niên, giúp cho đối tượng được giáo dục có nhận thức, sự hiểu biết
và thực hành đúng theo định hướng mà mục tiêu chương trình đă đề ra. Mục

chúng ta đang đứng trước những đe dọa và thách thức nhiều mặt. Thực trạng
nhức nhối trên đã làm cho vấn đề giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị
thành niên càng trở nên cấp bách, làm thức tỉnh mối quan tâm, ý thức trách
nhiệm và hành động của các cấp các ngành, các bậc cha mẹ, nhà trường và xã
hội.
C. Nội dung:
I. Mục tiêu: Sau khi được học nội dung này học sinh phải:
* Về kiến thức:
3
- Trình bày được những đặc điểm về thể chất, tâm sinh lí, có liên quan đến sự
phát triển giới tính ở giới nam và nữ.
- Trình bày được các khái niệm về tuổi vị thành niên, sức khỏe sinh sản vị thành
niên.
- Nắm được những tác hại của nạo phá thai , kết hôn sớm ở tuổi vị thành niên.
- Biết cách phòng tránh các bệnh liên quan đến tình dục, phòng tránh các biểu
hiện xâm hại tình dục.
- Xác định được các quyền được chăm sóc sức khỏe sinh sản.
* Về kĩ năng và thái độ:
- Nhận thức và cư xử đúng đắn về các mối quan hệ bạn bè khác giới.
- Biết cách giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn có liên quan đến tình
bạn, tình yêu.
II. Phương pháp:
- Hỏi đáp
- Thuyết trình
- Thảo luận nhóm.
III. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh:
- Giáo viên: Sưu tầm các mẩu chuyện, tình huống , chuẩn bị các nội dung kiến
thức cần truyền tải đến học sinh.
- Học sinh: Tìm hiểu lại các kiến thức có liên quan đến giới tính đã được học,
kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên. Chuẩn bị hệ thống câu hỏi.

? Trình bày những thay đổi về thể
chất ở giới nam và nữ ở giai đoạn
bước vào lứa tuổi vị thành niên?

NỮ NAM
- Phát triển chiều cao.
- Phát triển cân nặng.
- Tuyến vú phát triển → Ngực to ra
- Khung chậu phát triển → mông to ra
(to hơn nam giới).
- Phát triển lông mu.
- Đùi thon.
- Bộ phận sinh dục phát triển: âm hộ, âm
đạo to ra, tử cung và buồng trứng phát
triển.
- Có kinh nguyệt.
- Ngưng phát triển bộ xương sau khi hình
thể đã hòan thiện.

- Phát triển chiều cao.
- Phát triển cân nặng.
- Phát triển lông mu.
- Thay đổi giọng nói(bể giọng,
giọng nói ồ ồ), sau 18 tuổi giọng
trầm trở lại.
- Tuyến bã, tuyến mồ hôi phát triển.
- Ngực và hai vai phát triển.
- Các cơ của cơ thể rắn chắc.
- Lông trên cơ thể và mặt phát triển.
- Dương vật và tinh hoàn phát triển.

Nội dung 3: TÌNH BẠN- TÌNH BẠN KHÁC GIỚI.
Nội dung Hoạt động của thầy và trò
1. Tình bạn:
Tình bạn là một loại tình cảm gắn bó
hai hoặc nhiều người với nhau trên cơ
sở hợp nhau về tính tình, giống nhau về
sở thích, có sự phù hợp về xu hướng và
một số nét nhân cách khác, mà qua đó
mỗi người đều tìm thấy ở bạn mình
một cái “tôi” thứ hai
Đối với tuổi vị thành niên, tình
bạn thường phát triển mạnh mẽ và
đóng vai trò quan trọng trong quá trình
vươn lên thành người lớn. Trong quan
hệ bạn bè, mỗi người có thể bộc lộ,
khám phá, tự kiểm tra và đánh giá bản
thân mình bằng cách so sánh với những
người khác; đồng thời dựa vào sự đánh
giá của chính mình để tự hiểu mình, tự
giáo dục mình và tự hoàn thiện mình.
Tình bạn giúp vị thành niên chia sẻ
niềm vui, nỗi buồn, thành công và thất
bại; giúp đỡ nhau trong học tập, công
việc, cuộc sống; động viên, nâng đỡ
nhau trong cuộc sống tinh thần, khuyến
khích nhau phấn đấu để biến ước mơ,
hoài bão thành hiện thực.
2.Tình bạn khác giới:
cũng có những đặc điểm của một tình
bạn cùng giới, nhưng nó có những

các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, tọa đàm,
thi tìm hiểu về sức khỏe sinh sản vị
thành niên được tổ chức trong trường
học hay trên địa bàn dân cư.
- Tôn trọng và giữ gìn tình bạn khác
giới, luôn tỉnh táo đừng để bản năng tự
nhiên và ham muốn nhất thời chi phối
hành động
? Theo em cần làm gì để luôn có tình
bạn trong sáng theo đúng nghĩa của
nó?
* Học sinh thảo luận nhóm và cử đại
diện trình bày
*GV rút ra nội dung kiến thức cần ghi
nhớ
Nội dung 4: TÌNH YÊU - TÌNH DỤC
Nội dung Hoạt động của thầy và trò
1. Tình yêu: Tình yêu nam nữ là một loại
tình cảm đặc biệt, là biểu hiện cao nhất của
tình người, thúc đẩy mỗi người vượt qua
khỏi cái vỏ cá nhân của mình để đi
đến hòa quyện với một người khác giới;
trong đó mỗi người đều trở nên phong phú
hơn nhờ người kia. Tuy nhiên, tình yêu
nam nữ không đồng nghĩa với quan hệ tình
dục.
Hai người yêu nhau một cách lành
mạnh khi họ tôn trọng người mình yêu;
chia sẻ, đồng cảm, giúp nhau cùng tiến bộ;
luôn đem lại hạnh phúc cho nhau, không

truyền qua đường tình dục, kể cả
HIV/AIDS. Tình dục có trách nhiệm là cả
nam và nữ phải kiểm soát được hành vi
tình dục của mình và của bạn mình khi có
quan hệ tình dục.
3. Những thái độ, hành vi cần định
hướng
-Trì hoãn quan hệ tình dục đến tuổi
trưởng thành.
- Nếu phải sử dụng bao cao su thì phải
sử dụng đúng cách khi có quan hệ tình dục.
- Có kỹ năng trao đổi những quan
điểm đúng đắn với bạn về các hành vi có
liên quan đến quan hệ tình dục.
* Giáo viên thuyết trình khái
niệm về tình dục và những đặc
điểm của nó:
* Gv nêu vấn đề cho học sinh
trao đổi và thảo luận nhóm: "
Quan niệm của bản thân em về
tình dục an toàn?"
* Học sinh thảo luận nhóm và cử
đại diện trình bày
* Sau khi nghiên cứu và rút ra
kiến thức giáo viên đạt câu hỏi :
Cần định hướng thái độ và hành
vi của mình về vấn đề tình yêu và
tình dục như thế nào?
* Học sinh trả lời, Gv rút ra các
hành vi cần đạt

- Làm mẹ quá trẻ, cơ thể phát triển chưa
đầy đủ dễ dẫn đến thiếu máu, thai kém phát
triển, dễ bị chết lưu.
- Tỉ lệ trẻ sinh ra thiếu cân, trẻ suy dinh
dưỡng, trẻ mắc bệnh và tử vong cao hơn
nhiều so với các bà mẹ sinh con ở tuổi
trưởng thành.
- Bỏ học giữa chừng, ảnh hưởng tới tương
lai.
- Làm mẹ sớm dễ bị căng thẳng, khủng
hoảng tâm lý, tổn thương tình cảm, dễ chán
nản, cảm thấy cách biệt với gia đình và bạn
bè.
- Bị người kia bỏ rơi hoặc phải cưới gấp
với người mà bạn không muốn có cam kết
cuộc sống với người đó.
- Bản thân và gia đình phải gánh chịu
những định kiến của xã hội.
- Gánh nặng về kinh tế khi nuôi con.
- Góp phần làm tăng chi phí xã hội, tăng
dân số.
- Nếu phá thai không an toàn, vị thành niên
rất dễ bị tai biến như chảy máu, nhiễm
thảo luận:
? Theo em lứa tuổi nào mang thai
thì được gọi là mang thai sớm ?
? Việc mang thai sớm ngoài ý
muốn ở lứa tuổi VTN dẫn đến
những hậu quả gì?


sản VTN để được cung cấp thông tin và tư
vấn cách lựa chọn, sử dụng các biện pháp
tránh thai phù hợp với VTN.
không đảm bảo kĩ thuật để phá
thai, theo em việc phá thai không
an toàn sẽ dẫn đến hậu quả gì?
* Gv cung cấp cho học sinh một
số biện pháp tránh thai phù hợp
ở lứa tuổi vị thành niên
* GV rút ra những việc nên làm
khi vị thành niên trót mang thai
ngoài ý muốn
* Học sinh thảo luận nhóm và cử
đại diện trình bày
Nội dung 6: CÁC BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH DỤC VÀ HIV/AIDS Ở
TUỔI VỊ THÀNH NIÊN
Nội dung Hoạt động của thầy và trò
1 Các bệnh lây truyền qua đường
tình dục :
là những viêm nhiễm được truyền từ
người bệnh sang người lành trong quá
trình quan hệ tình dục.
- Hiện có trên 20 loại bệnh bệnh lây
truyền qua đường tình dục, nhưng phổ
biến nhất là lậu, giang mai và
HIV/AIDS. - Hầu hết các bệnh bệnh
lây truyền qua đường tình dục như lậu,
giang mai có thể chữa khỏi, nếu phát
* Gv có thể thuyết trình bằng sơ đồ
trên máy chiếu về các căn bệnh

trọng và đôi khi chết với bệnh tim hoặc
rối loạn thần kinh do biến chứng của
bệnh.
2. Những thái độ, hành vi cần định
hướng
- Đến trung tâm tư vấn và cơ sở y
tế tin cậy để nhận, chia sẻ thông tin về
bệnh lây truyền qua đường tình dục, sử
dụng các dịch vụ, khám và chữa bệnh
nếu nghi ngờ mắc bệnh lây truyền qua
đường tình dục.
- Tránh quan hệ tình dục sớm,
biết từ chối đòi hỏi quan hệ tình dục
của bạn tình; nếu không được, phải
biết thuyết phục sử dụng bao cao su
đúng cách.
- Phòng tránh tiêm chích, nghiện
hút ma túy.
- Quan tâm, chia sẻ với những
người bị nhiễm HIV/AIDS.
? HIV có thể lây truyền qua những con
đường nào? Nhóm đối tượng vị thành
niên nào dễ bị nhiễm HIV/AIDS?
*GV tiếp tục nêu câu hỏi thảo luận:
? Để phòng tránh tác hại của các bệnh
lây qua đường tình dục thì ta cần làm
gì?
* HS trả lời câu hỏi, GV rút ra những
nội dung kiến thức cần nghi nhở
11

20 tuổi. Kết hôn ở tuổi vị thành niên, khi
các em chưa chuẩn bị tốt về mọi mặt như
sức khỏe, tâm lư, kiến thức, kinh tế sẽ
ảnh hưởng đến sự tiến bộ của bản thân,
hạnh phúc lứa đôi, sự phát triển của gia
đình và tương lai con cái.
4. Những thái độ hành vi cần định
hướng
- Cần nhạy cảm để nhận biết dấu hiệu lạm
dụng qua lời nói, ánh mắt, những cử chỉ
* GV trình bày khái niệm về hành
vi xâm hại và lạm dụng tình dục
* GV lấy ví dụ cụ thể thông qua
những câu chuyện trên báo pháp
luật về hiện tượng các em gái bị
những người đàn ông lớn tuổi
dùng những lời nịnh nọt để thực
hiện hành vi hiếp dâm gây tổn
thương về tinh thần và thể chất
* GV yêu cầu học sinh thảo luận
và rút ra những hậu quả khi bị
xâm hại tình dục?
? Theo em kết hôn ở độ tuổi nào
được coi là kết hôn sớm ?
* Học sinh thảo luận và trả lời

* GV tiếp tục nêu câu hỏi:
? Để phòng tránh hậu quả nghiêm
trọng của những hành vi xâm hại
tình dục và kết hôn sớm theo em ta

xuyên trong thời gian hành kinh).
- Đến 15-16 tuổi mà không có kinh
nguyệt thì phải đi khám.
- Uống viên sắt: kể từ khi bắt đầu có
kinh nguyệt, mỗi tuần uống 01 viên,
liên tục 16 tuần trong 01 năm (16
viên/năm) để phòng tránh thiếu máu do
thiếu sắt.
* Nam:
- Phải biết phát hiện những bất thường
về cơ quan sinh dục của mình để đi
khám bệnh kịp thời như: hẹp bao quy
đầu, tinh hoàn ẩn, vị trí bất thường của
lỗ tiểu.
- Không mặc quần lót quá bó sát, chật
hẹp.
2. Quyền được chăm sóc sức khỏe
* GV nêu câu hỏi thảo luận:
? Kể tên các biện pháp chăm sóc sức
khỏe sinh sản ở lứa tuổi vị thành niên
mà em biết?
? Việc chăm sóc bản thân của em được
thực hiện như thế nào?
* Học sinh trả lời
* GV công bố các quyền được chăm
sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên
13
sinh sản thể hiện ở 10 quyền sau:
- Quyền được thông tin.
- Quyền được tiếp cận dịch vụ.

trong quá trình chăm sóc và bảo vệ
sức khỏe sinh sản vị thành niên?
? Bản thân em đã đạt được những
hành vi nào trong số các hành vi nói
trên?
* HS thảo luận và trả lời các câu hỏi
* GV rút ra các hành vi cần định
hướng cho học sinh
D. Kết quả đạt được:
Đề tài này tôi áp dụng trong các tiết sinh hoạt tập thể đối với lớp chủ nhiệm 12
A11 (năm học 2011- 2012) và lớp 10A8 ( năm học 2012- 2013). Hai lớp 10A4
và 11A7 (năm học 2012-2013 ) được chọn làm hai lớp đối chứng. Qua kiểm tra
đánh giá tôi nhận thấy : nhận thức về giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành
niên của các em học sinh ở các 2 lớp được áp dụng đề tài có sự chuyển biến rõ
rệt, đa số các em đã có những hiểu biết đúng đắn về vấn đề trên, tuy nhiên ở các
lớp đối chứng sự hiểu biết này còn nhiều hạn chế.
Bằng những câu hỏi kiểm tra nhận thức như nhau, đánh giá bằng cách cho điểm,
kết quả thu được cụ thể như sau:
14
Lớp Sĩ
số
HS
Loại giỏi
( Nắm chắc)
Loại khá
( Nắm được)
Loại trung
bình
( Nắm sơ
sài)

cách giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống có liên quan
đến giới tính và sức khỏe sinh sản.
2. Đề xuất:
- Cần xây dựng các tài liệu chuẩn, các tiết học dành riêng cho giáo dục giới tính-
giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong trường THPT
- Cần mở các lớp bồi dưỡng thường xuyên về giáo dục giới tính và sức khỏe
sinh sản vị thành niên cho giáo viên bộ môn sinh học, giáo viên làm công tác
chủ nhiệm để tăng cường kĩ năng giảng dạy nội dung này.
- Xây dựng các bài giảng mẫu , bổ sung thêm tranh ảnh, đò dùng dạy học về
giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên phù hợp với lứa tuổi học
sinh THPT.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 25 tháng 05 năm 2013.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người viết
Đặng Thị Thu Nhàn
15
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status