SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁCH THỨC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI GÓP
PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG GIỜ ĐỌC - HIỂU
VĂN BẢN “ĐÂY THÔN VĨ DẠ” CỦA HÀN MẶC TỬ.
Người thực hiện: Hoàng Thị Xuân
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2018
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU…………………………………………………………………
1.1. Lí do chọn đề tài……………………………………………….
1.2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………...
1.3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………..
1.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………….
II. NỘI DUNG ……………………………………………………………
2.1. Cơ sở lí luận…………………………………………………….
2.1.1. Câu hỏi và câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập) trong dạy
học...................................................................................................................
2.1.2. Câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học và vai trò
của câu hỏi trong giờ dạy đọc- hiểu văn bản văn học…….............................
2.2. Thực trạng vấn đề……………………………………………….....
2.2.1. Về phía giáo viên............................................................................
15
15
15
Tài liệu tham khảo………………………………………………………..
18
1
I. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, cùng với việc đổi mới phương pháp dạy-học, kiểm
tra, đánh giá, Bộ Giáo dục và Đào tạo có những đổi mới trong việc ra đề thi
THPT QG môn Ngữ văn. Điều đó thực sự phát huy được tính sáng tạo và kiểm
tra được năng lực cảm thụ văn học của học sinh... Chính cách ra đề thi như thế
đã tác động tích cực đến quá trình đổi mới dạy và học môn Ngữ văn ở các
trường THPT, được giáo viên và học sinh chủ động đón nhận.
Nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học mới được nghiên cứu vận dụng
nhằm phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong đó có kỹ thuật đặt câu hỏi. Đặt
câu hỏi trong dạy học (đặc biệt những câu hỏi có vấn đề - tình huống học tập) có
ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức, hướng dẫn quá trình nhận thức giúp học
sinh chiếm lĩnh tri thức một cách có hệ thống và tạo không khí học tập sôi nổi.
Giáo viên qua câu hỏi có thể đánh giá được năng lực của học sinh, có được
thông tin phản hồi làm cơ sở cho sự điều chỉnh, bổ sung một cách phù hợp, kịp
thời những đơn vị kiến thức, kỹ năng trong giờ dạy.
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy nói chung, giảng dạy môn Ngữ văn nói
riêng vẫn tồn tại tình trạng đầu tư cho việc xây dựng câu hỏi chưa thật sự thỏa
đáng. Phần nhiều câu hỏi sa vào chi tiết vụn vặt, đơn điệu, nhàm chán hoặc
Trên cơ sở đó bài viết ( sáng kiến) đưa ra những bước, những thao tác cụ
thể theo tiến trình bài dạy đọc- hiểu một văn bản thơ mới. Góp phần hình thành
nên phương pháp, kĩ năng đọc - hiểu thể loại văn bản này. Đồng thời giúp học
sinh phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo trong học tập, hứng thú yêu thích
với bộ môn
Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm là nghiên cứu, phát huy tính chủ
động, sáng tạo của học sinh, đòi hỏi phải có những phương pháp để tiến hành có
hiệu quả một tiết dạy Ngữ văn chính là xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với
đối tượng học sinh qua đó giúp học sinh khám phá, cảm thụ tác phẩm văn học.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn bản một tác
phẩm thơ mới: “Đây thôn Vĩ Dạ” – Hàn Mặc Tử. Hệ thống câu hỏi phù hợp
với đối tượng học sinh
* Phạm vi nghiên cứu:. Cách thức xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả trong đọc- hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp chủ
yếu sau:
+ Phương pháp thống kê;
+ Phương pháp phân tích, chứng minh, bình luận
+ Các phương pháp nghiên cứu văn học khác
+ Phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp loogic,tông hợp
3
II. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1.Câu hỏi và câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập) trong dạy học
- Câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi,
thức, buộc các em phải huy động tri thức, vốn sống, kinh nghiệm một cách sáng
tạo, chọn lọc lấy những gì có liên quan đến vấn đề đã được biểu đạt. Giáo viên
không đưa kiến thức đến cho các em dưới dạng có sẵn, không rung cảm hộ mà
với câu hỏi đưa ra giáo viên sẽ tổ chức, hướng dẫn cho các em suy nghĩ, cắt
nghĩa, thâm nhập vào tác phẩm. Các em tự nắm bắt giọng điệu nhà văn, đối
thoại với người sáng tác, hòa nhập vào khung cảnh của tác phẩm...Từ đó các em
được bồi dưỡng năng lực cảm thụ, năng lực sáng tạo thẩm mĩ ; quá trình tư duy
4
của các em vận động không ngừng, các em sẽ lớn lên về kiến thức, hoàn thiện
về kỹ năng. Nói cách khác, các câu hỏi sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của học
sinh thông qua sự tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập.
+ Với hệ thống đặt câu hỏi của giáo viên, học sinh không chỉ hiểu mà còn lưu
giữ, ghi nhớ kiến thức lâu hơn bởi trong văn chương khi người đọc trải qua quá
trình cảm thụ bằng liên tưởng, tưởng tượng ; rung cảm bằng trái tim thì kiến
thức ấy thâm nhập vào máu tủy, xương thịt. Sự ghi nhớ ở đây sẽ trở thành tiền
đề quan trọng để quá trình tư duy, tưởng tượng đạt hiệu quả cao hơn.
+ Khi xây dựng được câu hỏi có vấn đề (tình huống học tập), giáo viên sẽ gieo
vào tâm hồn các em sự háo hức, day dứt không yên do vậy các em sẽ không cảm
thấy xa lạ trước vấn đề giáo viên đặt ra, không thể lãnh đạm với tiếng nói tâm
tình tha thiết của nhà văn. Bởi chính bản thân các em từ bên trong có nhu cầu
chiếm lĩnh tác phẩm chứ không phải do áp lực tác động bên ngoài. Giáo viên sẽ
đạt đến mục đích đánh thức niềm đam mê, hứng thú học văn của học sinh.
Tóm lại, việc vận dụng hệ thống đặt câu hỏi trong giờ dạy đọc - hiểu tác
phẩm văn chương sẽ phát huy được vai trò chủ thể tích cực của học sinh, tạo ra
bầu không khí cởi mở, dân chủ giữa giáo viên - học sinh, học sinh - học sinh,
học sinh - nhà văn; thiết lập được mối quan hệ đa chiều (giáo viên - học sinh tác phẩm - nhà văn) và phát triển mối quan hệ đó một cách cân đối hài hòa.
2.2. Thực trạng của vấn đề
2.2.1. Về phía giáo viên:
sinh ở nhiều trình độ đều có thể trả lời được. Từ sự đóng góp ý kiến của mình
hoàn thiện bài học các em, không những hiểu bài tốt hơn mà còn hứng thú với
vai trò của mình, yêu thích say mê môn học hơn. Tôi xin được trình bày cụ thể
Cách thức xây dựng hệ thống câu hỏi nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
trong đọc- hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử. Thông qua một
tiết học với đối tượng học sinh lớp 11B6 Trường THPT Nguyễn Trãi.
6
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
- Hàn Mặc Tử I.MỤC TIÊU: Sau bài học, HS đạt được:
1. Kiến thức [2;71]
- Vẻ đẹp thơ mộng, đượm buồn của thôn Vĩ và nỗi buồn, cô đơn trong cảnh ngộ
bất hạnh của một con người tha thiết yêu thiên nhiên, yêu sự sống.
- Phong cách thơ Hàn Mặc Tử qua bài thơ: một hồn thơ luôn quằn quại yêu, đau,
trí tưởng tượng phong phú, hình ảnh thơ có sự hòa quyện giữa thực và ảo.
2. Kỹ năng [2;71]
- Đọc - hiểu một bài thơ trữ tình theo đực trưng thể loại.
- Cảm thụ, phân tích tác phẩm thơ.
3. Thái độ [2;71]
- Bồi dưỡng tình yêu cuộc sống và vẻ đẹp thiên nhiên, con người Việt Nam.
II.CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH:
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Phương pháp đọc hiểu, phân tích, thuyết trình kết hợp trao đổi thảo luận.
- Sách giáo khoa. Giáo án, đọc tài liệu tham khảo.
2. Chuẩn bị của học sinh:
- Chủ động tìm hiểu soạn bài học qua các câu hỏi sgk
III. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP:
1. Ổn định lớp
Thảo luận, hoạt động nhóm
Đại diện nhóm trả lời, nhận xét,
- Tác phẩm chính ?
GV: Nhận xét, mở rộng và chốt lại kiến
thức
- Đi làm công chức thời gian ngắn rồi
mắc bệnh
- Là nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt
trong phong trào Thơ mới “Ngôi sao
chổi trên bầu trời thơ Việt Nam”(Chế
Lan Viên).
* Sự nghiệp:
-Tác phẩm chính: Gái quê, Thơ điên,
Xuân như ý, Duyên kì nhộ...
-Tâm hồn thơ ông đã thăng hoa thành
những vần thơ tuyệt diệu,chẳng những
gợi cho ta niềm thương cảm còn đem
đến cho ta những cảm xúc thẩm mĩ kì
thú và niềm tự hào về sức sáng tạo của
con người
-Quá trình sáng tác thơ của ông đã thâu
tóm cả quá trình phát triển của thơ mới
từ lãng mạn sang tượng trưng đến siêu
thực
2. Tác phẩm:
a. Xuất xứ: Bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ"
Hoạt động của GV và HS
Nội dung cần đạt
Gv hướng dẫn hs đọc hiểu chi tiết bài II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
thơ.
1. Khổ 1: Cảnh ban mai thôn Vĩ và
* Gv gọi 1 Hs đọc lại khổ 1
tình người tha thiết
* Gv sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn:
Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm thảo - “ Sao anh… thôn Vĩ ?” : Câu hỏi tu
từ mang nhiều sắc thái:
luận theo câu hỏi do GV đưa ra.
- Nhóm 1: tìm hiểu câu thơ đầu: Mở đầu + Vừa như lời trách móc, hờn dỗi vừa
bài thơ là một câu hỏi. Em hãy cho biết như lời mời gọi tha thiết của người con
đó là câu hỏi của ai? Giọng điệu hỏi như gái thôn Vĩ.
thế nào? Ý nghĩa của lời hỏi?
+ Đây cũng là lời tự hỏi mình, trách
mình sao không về thăm thôn Vĩ.
→ Cả câu thơ chính là ao ước thầm
kín, là niềm khao khát được trở về thôn
Vĩ, được thăm lại cảnh cũ, người xưa.
→ Câu thơ đã làm sống dậy một hồi ức
tốt đẹp của nhà thơ về cảnh và người
thôn Vĩ.
- Nhóm 2: tìm hiểu nội dung, nghệ thuật
câu thơ 2, 3: Bức tranh thiên nhiên thôn
Vĩ:
- Cảnh thôn Vĩ buổi sớm mai (câu 2,3):
+ “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên":
* Điệp từ “nắng”: nhấn mạnh ánh sáng
chiếu xuyên qua trở nên có màu xanh
trong suốt và ánh lên như ngọc gợi vẻ
tươi tốt, màu mỡ của khu vườn thôn
Vĩ.
- Nhóm 3: tìm hiểu nội dung, nghệ thuật
câu thơ 4:
+ Con người thôn Vĩ hiện lên với những
nét vẽ nào?
→ Thiên nhiên thôn Vĩ buổi ban mai
đẹp thanh khiết, trong trẻo, thơ mộng,
tràn trề sức sống.
- Con người thôn Vĩ: "Lá trúc che
ngang mặt chữ điền":
+ “Mặt chữ điền”: là biểu tượng của
nét đẹp phúc hậu, hiền lành, trung
thực. (Hình ảnh thơ được miêu tả theo
hướng cách điệu hóa, tức chỉ gợi vẻ
đẹp của con người, không cụ thể là ai).
+ “Lá trúc che ngang”: lá trúc mảnh
mai, gợi nét đẹp kín đáo, dịu dàng của
con người xứ Huế.
→ Câu thơ giàu chất tạo hình: sự hài
hòa giữa thiên nhiên và con người
trong vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng.
- Nhóm 4: em có nhận xét gì về thiên
nhiên và con người thôn Vĩ ở khổ thơ
này? Qua đó, em cảm nhận như thế nào
về tâm trạng của thi nhân?
minh thôn Vĩ - không hề báo trước,
chuẩn bị - bắt ngay cảnh đêm trăng sông
Hương, tâm trạng đang bồi hồi vui,
mong đợi, ao ước bỗng chuyển sang
buồn thiu như dòng nước buồn thiu.
chuyển động ngược chiều của gió và
mây
→ cảnh vật chia lìa, li tán
- “Dòng nước buồn thiu”: gợi cảm
giác u buồn.
- "Hoa bắp lay": sự lay động rất nhẹ.
→ Cảnh vật lặng lẽ, vô hồn gợi nỗi
buồn xa vắng
→ Hai câu thơ tác giả sử dụng nghệ
thuật nhân hóa: không chỉ là cái buồn
của cảnh mà là cái buồn của lòng
người. Nhà thơ u buồn, cô đơn, tuyệt
vọng trước sự xa cách, thờ ở của cuộc
đời đối với mình.
- “ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/
Có chở trăng về kịp tối nay?”
+ Đại từ phiếm chỉ "ai", sử dụng bút
pháp ảo hóa sông Hương thành sông
GV hỏi: Từ nào trong hai câu thơ thể
hiện rõ nét tâm trạng của thi nhân? Đó là trăng.
tâm trạng gì?
+ Hàng loạt câu hỏi: thuyền ai? Thuyền
có chở trăng? Có chở trăng về kịp tối
mong mỏi với đau thương. "Thơ là sự
lên tiếng của thân phận". Định nghĩa ấy
hoàn toàn đúng với Hàn Mặc Tử.
→ Đây chính là khao khát yêu đương
và giao cảm với đời của thi sĩ.
Trong thơ Hàn Mặc Tử, trăng là hình
tượng mang sức ám ảnh lớn, trăng giống
như người bạn tri âm, tri kỉ của nhà thơ:
-"Không gian đắm đuối toàn trăng cả
Anh cũng trăng mà em cũng trăng"
-"Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Trăng nằm im trên cành liễu đợi chờ.
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Chẳng bán tình duyên ước hẹn thề."
Khổ 3: Nếu hai khổ thơ trên, tác giả
hòa với cảnh. Đến với khổ thơ này, tâm
tình với người xứ Huế nhà thơ lại lùi ra
xa. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu khổ
thơ thứ ba.
3. Khổ 3: Nỗi niềm thôn Vĩ.
* Gv gọi 1 Hs đọc khổ 3
- “Mơ khách đường xa, khách đường
Gv hỏi: Em hãy nhận xét cách ngắt nhịp xa”
màu của tâm tưởng.
- “ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”
+ “Sương khói mờ nhân ảnh”: gợi ra
vẻ đẹp thực và mơ. Thực là có hình
người, có dáng người. Mơ là hình ảnh
ấy phảng phất, lờ mờ trong sương khói.
- “Ai1 biết tình ai2 có đậm đà?”
+ Em có nhận xét gì về đại từ phiếm chỉ + Nhà thơ không biết tình người xứ
“ai”? "Ai" lặp lại hai lần nhằm mục đích Huế có đậm đà với mình không.
gì?
+ Người xứ Huế có biết chăng tình
cảm của nhà thơ đối với cảnh Huế,
người Huế hết.
→ Ý thơ thể hiện nỗi trống vắng, cô
đơn trong một tâm hồn tha thiết yêu
thương con người và cuộc đời đã
nhuốm đau thương, bất hạnh.
IV. TỔNG KẾT VÀ HƯỚNG DẪN HỌC TẬP:
1. Tổng kết:
a) Ý nghĩa văn bản
Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn
khúc của nhà thơ.
b) Nghệ thuật
- Trí tưởng tượng phong phú.
- Nghệ thuật so sánh nhân hóa, thủ pháp lấy động gợi tĩnh, sử dụng câu hỏi tu
từ,...
- Hình ảnh sáng tạo, có sự hòa quyện giữa thực và ảo.
2. Hướng dẫn học tập:
- Học thuộc lòng bài thơ.
khám phá cái hồn của tác phẩm, mức độ hiểu biết, rung cảm của học sinh để từ
đó sáng tạo những nội dung câu hỏi và dẫn dắt học sinh trả lời được những câu
hỏi đó. Câu hỏi phải đạt mục đích kích thích sự cảm thụ của học sinh khi đọc tác
phẩm. Công việc kích thích sự cảm thụ của người đọc (Thầy, Trò) với tác phẩm
văn học là vấn đề bắt buộc phải làm ngay trước khi vào giờ học Ngữ văn...
Một tiết học thành công là: Tiết học đó tất cả học sinh đều hăng hái sôi
nổi trong giờ học, các em chủ động tiếp thu kiến thức và luôn cảm thấy thoải
mái, nhẹ nhàng. Từ đó học sinh ngày càng yêu thích bộ môn ngữ văn và người
giáo viên cũng thêm yêu nghề gắn bó với nghề nghiệp của mình. Đó cũng chính
là hiệu quả mà sáng kiến kinh nghiệm này của tôi mong muốn đạt được. Tôi chỉ
hy vọng nó sẽ đóng góp một phần nhỏ vào quá trình đổi mới phương pháp dạy
và học để xây dựng phong trào “ Trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
[3;40]
Quan niệm dạy học truyền thống với tất cả bề dày kiến thức, các kinh
nghiệm phong phú của nó, nhìn chung còn có một nhược điểm lớn, đó là chưa
phát huy đúng mức tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập của
học sinh. Vì vậy, tôi chú trọng xây dựng các câu hỏi với hình thức đa dạng (câu
hỏi tạo không khí, dẫn dắt nhằm tác động vào tâm lí học sinh để các em phải băn
khoăn, thắc mắc, chuẩn bị tâm thế huy động kiến thức để giải quyết vấn đề được
nêu; Câu hỏi cảm xúc; Câu hỏi phát triển trí tưởng tượng…).
Đặc biệt tôi coi trọng việc xây dựng câu hỏi có vấn đề ( tình huống học
tập ) và lưu tâm xây dựng tình huống học tập trung tâm nhờ vậy không khí giờ
học sôi nổi, phát huy được vai trò chủ thể của học sinh. Các em chẳng những
được trải nghiệm cảm giác băn khoăn, ngạc nhiên, thích thú mà còn xác định
được cốt lõi vấn đề cần nắm vững trong tiết học, có được cái nhìn bao quát về
hướng đi, cái đích phải hướng tới của một giờ học; Các em được làm chủ kiến
thức, được chiếm lĩnh tác phẩm văn chương trong tính chỉnh thể toàn vẹn của
14
nhanh vì đã được khắc sâu những tri thức của bài học một cách cụ thể, sinh
động.
- Kết quả còn được minh chứng qua số liệu về phiếu học tập như sau:
Lớp dạy
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Số lượng
Ghi chú
SL TL SL
TL
SL
TL
S TL
(%)
(%)
(%)
L (%)
Lớp 11B1
Lớp đối
04 9
24
53
12
27
5 11
(45HS)
chứng
Lớp 11B6
xây dựng câu hỏi trong giờ dạy đọc - hiểu các văn bản văn học nhằm nâng cao
chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục
nói chung. Ngay từ thế kỷ XVI, Akomexki đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh
thứ năng lực nhạy cảm , phán đoán đúng nhất, phát triển nhân cách…hãy tìm ra
một phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”[4;65].
Vì vậy tôi có những đề xuất nhỏ trong việc Cách thức xây dựng hệ thống câu
hỏi nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong đọc- hiểu văn bản “Đây thôn
Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Đối với học sinh
Bản thân mỗi học sinh phải có ý thức đọc – hiểu văn bản văn học. Từ đó xác
định cho mình một độc cơ, một thái độ học tập nghiêm túc, một định hướng cụ
thể khi học, tìm hiểu tác phẩm văn học phải đọc kỹ tác phẩm, sống cùng tác
phẩm, soạn bài trước khi đến lớp, luôn suy nghĩ tìm tòi để có thể tìm được
những ý sâu xa tiềm ẩn trong tác phẩm, …đồng thời giúp học sinh có kiến thức
cơ bản , chắc chắn về tác phẩm văn học để viết bài văn trước mọi dạng đề thi .
3.2.2. Đối với giáo viên
- Trách nhiệm của mỗi giáo viên đứng lớp hiện nay thật sự là quan trọng
mang tính quyết định đến sự thành công của mỗi tiết dạy. Vì vậy mỗi thầy cô
giáo cần thiết phải tìm tòi và học hỏi những đổi mới cũng như những kinh
nghiệm quý báu từ đồng nghiệm để ngày càng nâng cao hơn nữa chất lượng dạy
và học. Đồng thời cũng là để thực hiện tốt yêu cầu của Bộ Giáo dục & Đào tạo :
“Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học, tự sáng tạo …” [5;48].
- Để Xây dựng hệ thống câu hỏi đọc- hiểu văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” của
Hàn Mặc Tử góp phần nâng cao hiệu quả giờ đọc văn thì người giáo viên
16
cũng phải theo phương châm hiểu biết, khám phá, sáng tạo trong khi soạn và
giảng văn - hiểu thấu cuộc sống và con người được phản ánh trong tác phẩm,
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. I.F Khazlamop, Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào, 1978.
[2]. Phan Trọng Luận, Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn,
NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2006.
[3]. Nguyễn Văn Đường, Thiết kế bài giảng Ngữ văn, tập 2 NXB Giáo dục,
2006.
[4]. Sách chuẩn kiến thức, kỹ năng NXB Giáo dục, 2006.
[5]. Đỗ Ngọc Thống, Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT,
NXB Giáo dục, 2006.
[6]. Phan Trọng Luận, Phương pháp dạy học học văn, NXB Đại học quốc gia
Hà Nội, 2007.
18