SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT THƯỜNG XUÂN 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT THƯỜNG XUÂN 2 QUA DẠY HỌC
BÀI THƠ “VỘI VÀNG”
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HOÁ: NĂM 2019
MỤC LỤC
Trang
1.Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………….........1
1.2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................2
2. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí
luận....................................................................................................2
2.2. Thực trạng của vấn đề....................................................................................3
2.3. Giải pháp được đề xuất để giải quyết vấn
đề..................................................4
vượt ra khỏi khuôn khổ. Nhưng do quan niệm truyền thống, lạc hậu nên nhiều
khi đã taọ ra rào cản đối với các em. Hơn nữa, cuộc sống phát triển đặt học sinh
trước nhiều sự lựa chọn. Để lựa chọn được những giá trị sống đúng đắn, tích cực
đòi hỏi học sinh phải có năng lực tư duy phản biện. Có tư duy phản biện, học
sinh sẽ thoát ra khỏi rào cản của lối mòn tư duy, có khả năng lập luận, tìm hiểu
vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau. Trong giáo dục, năng lực tư duy phản biện là
một năng lực quan trọng nhất và khó rèn luyện nhất[2].
Môn văn trong trường học nói chung và ở trường THPT nói riêng có vai
trò quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, rèn luyện tư duy phản biện cho học
sinh. Các tác phẩm văn học hàm chứa những giá trị nhân sinh cao đẹp, có khả
năng tác động làm thay đổi tư tưởng, tình cảm con người theo chiều hướng tích
cực. Hơn nữa, tác phẩm văn học là sản phẩm của quá trình sáng tạo, vốn đa
nghĩa. Việc cảm nhận, đánh giá một tác phẩm cũng thay đổi theo thời gian và
theo thị hiếu của từng người. Văn học rất cần những cách nhìn mới để tìm ra giá
trị mới. Trong quá trình học văn, học sinh có nhiều cơ hội bày tỏ quan điểm của
mình. Đây là lợi thế để rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh. Trong chương
trình môn Ngữ văn nói chung có rất nhiều bài có thể lồng ghép giáo dục tư
tưởng và rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh khi dạy học.
Ở chương trình Ngữ văn 11, dạy học các tác phẩm thuộc phong trào Thơ
Mới thường tạo được sự hứng thú đặc biệt đối với học sinh, nhất là bài thơ “Vội
vàng” (Xuân Diệu). Bài thơ chứa đựng những quan niệm nhân sinh tích cực vừa
gần gũi, vừa cần thiết với lứa tuổi học sinh THPT. Đồng thời, khi dạy tác phẩm
giáo viên cũng đặt ra được những tình huống cho học sinh thảo luận, tranh luận
nhằm phát triển tư duy phản biện.
Với lí do nêu trên, tôi xin đề xuất một sáng kiến nhỏ của mình với đề tài:
“Nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng và phát triển năng lực phản biện cho
học sinh trường Trung học phổ thông Thường Xuân 2 qua dạy học bài thơ
Vội vàng”. Tôi mong muốn qua sáng kiến kinh nghiệm này nêu một số kinh
Môn văn góp phần to lớn trong việc giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào,
tự tôn dân tộc. Đặt trong hoàn cảnh hiện nay, lòng tự trọng, tự tôn dân tộc đang
bị tổn thương ghê gớm thì việc phát huy vai trò giáo dục tư tưởng cho học sinh
của môn văn càng trở nên quan trọng. Nói như vậy là bởi môn Văn giáo dục
bằng hình ảnh, bằng ngôn từ nghệ thuật gợi hình, gợi cảm nên dễ đi vào lòng
người, có sức truyền cảm mãnh liệt.
Học các tác phẩm văn học, học sinh còn được bồi dưỡng lòng nhân ái,
nhân hậu, tình cảm gia đình, bạn bè.
Môn Văn cũng có khả năng lớn trong việc bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ
cho học sinh. Bản chất của văn chương là cái đẹp. Chức năng đặc biệt của văn
chương là chức năng thẩm mĩ. Sứ mệnh của văn chương là đấu tranh chống cái
ác, cái xấu, khẳng định và ngợi ca cái đẹp. Học văn, học sinh sẽ được khám phá
cái đẹp trong nghệ thuật, từ đó khám phá cái đẹp trong cuộc sống và hình thành
năng lực sáng tạo ra cái đẹp.
Tác phẩm văn chương dù ở mức độ này hay mức độ khác đều là những số
phận, những mảnh đời, những cuộc xung đột . Tìm hiểu một tác phẩm văn học là
học sinh được “sống” với những số phận, hoàn cảnh khác nhau, được tham gia
vào việc giải quyết những mâu thuẫn, xung đột. Từ đó học sinh hiểu được mình,
hiểu được người, tự rút ra cho mình những bài học nhân sinh sâu sắc.
Có thể nói, môn văn trong nhà trường có vai trò lớn trong việc giúp học
sinh xác định các giá trị. Văn học giúp cho học sinh sống có hoài bão, có ước
mơ, có thêm niềm tin và động lực để vươn lên trong cuộc sống.
2.1.2. Khả năng của môn văn trong việc phát triển năng lực phản biện cho học
sinh
Văn học có khả năng phát triển tư duy phê phán, tư duy phản biện cho
học sinh. Văn học có khả năng phát triển tư duy phê phán cho học sinh vì tác
phẩm văn chương là một đề án mở, đặt ra rất nhiều vấn đề: tranh cãi giữa các
nhà văn, giữa các nhân vật trong tác phẩm, giữa nhà văn với bạn đọc... Đọc văn,
phương pháp thuyết trình, phương pháp giảng bình, nêu vấn đề. Việc áp dụng
các phương pháp dạy học mới chưa toàn diện, đồng bộ, chưa tạo ra sự biến đổi
về chất của quá trình dạy học. Học sinh chưa chủ động làm việc theo phương
pháp dạy học mới nên hiệu quả tiếp nhận chưa cao: Còn mang tính thụ động,
phụ thuộc trong quá trình nhận thức. Học sinh rất ít khi đặt câu hỏi, còn tiếp
nhận kiến thức một cách thụ động. [4]
2.2.2. Thực trạng của việc dạy học văn ở trường THPT Thường Xuân 2
Ở trường THPT Thường Xuân 2, đa số học sinh thuộc khu vực có điều
kiện kinh tế khó khăn nên ít có điều kiện học tập, tâm lí học tập không vững
vàng và chất lượng học tập chưa tốt. Đối với môn Văn, học sinh rất ít có tài liệu
tham khảo, khả năng sử dụng Tiếng Việt hạn chế.. Mặt khác các em mang tâm lí
học chỉ để đủ điểm trung bình, chỉ cần đọc thuộc bài cô giáo giảng thì có thể đạt
điểm trung bình - khá.
Học sinh sinh sống ở khu vực miền núi, xa trung tâm, chủ yếu lại là người
dân tộc thiểu số nên rất thiếu kĩ năng sống, kém linh hoạt và thiếu khả năng ứng
biến với những thay đổi của xã hội. Hướng dẫn cho học sinh học tập tích cực để
các em có thể tự do bày tỏ suy nghĩ của mình là việc làm rất khó với giáo viên.
Phần lớn các em rất thụ động, phụ thuộc vào thầy cô.
Giáo dục tư tưởng và nâng cao năng lực phản biện cho học sinh qua dạy
học tác phẩm văn học là việc làm không mới. Tuy nhiên đó mới chỉ là những
định hướng có tính chất gợi ý. Tôi thấy cần có những giải pháp và biện pháp cụ
thể, linh hoạt để phù hợp với đối với học sinh trường trung học phổ thông
Thường Xuân 2.
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi đề xuất một sáng kiến nhỏ của mình với
đề tài là: “Nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng và phát triển năng lực phản
biện cho học sinh trường Trung học phổ thông Thường Xuân 2 qua dạy học
bài thơ Vội vàng”.
2.3. Giải pháp được đề xuất để giải quyết vấn đề
2.3.1. Giải pháp để giáo dục tư tưởng cho học sinh qua dạy học bài thơ “Vội
vàng”
của thiên nhiên và những điều kì diệu trong cuộc sống. Bằng những định hướng
trên, tôi mong muốn học sinh nhận ra ý nghĩa của cuộc sống, nhận thấy hạnh
phúc đích thực là gì để thêm yêu đời, yêu cuộc sống.
Thực tế hiện nay nhiều học sinh có lối sống thực dụng, vô cảm. Hơn nữa,
với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, mạng xã hội, nhiều học
sinh “sống ảo”, thiếu thời gian “nhìn ngắm” cuộc sống. Những bài học như trên
sẽ định hướng cảm xúc thẩm mĩ cho các em.
- Khác với người xưa, quan niệm thời gian là tuần hoàn, bất biến, Xuân
Diệu đã mang đến cho chúng ta một quan niệm sống hoàn toàn mới mẻ: thời
gian là tuyến tính, một đi không trở lại: Xuân đương tới nghĩa là xuân đương
qua / Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già ... Mùa xuân là mùa đẹp nhất của một
năm cũng như tuổi trẻ là tuổi đẹp nhất của cuộc đời con người, tuổi của những
ước ao và nhựa sống tràn trề. Xuân Diệu nhìn thấy mùa xuân, tuổi trẻ đẹp.
Nhưng Xuân Diệu cũng ý thức được rằng: mùa xuân của đất trời thì tuần hoàn
còn mùa xuân của con người (tuổi trẻ) thì một đi không trở lại. Nhận thức được
điều ấy, Xuân Diệu đã đưa ra một quan niệm nhân sinh đầy mới mẻ: Cuộc sống
đích thực là sống tận hưởng một cách trọn vẹn, gấp gáp những giá trị của cuộc
sống, của tình yêu và tuổi trẻ.
Bài học mà học sinh rút ra được: Tuổi trẻ của con người một đi không trở
lại. Vì vậy khi đang con trẻ chúng ta hãy sống sao cho có ý nghĩa để sau này
không phải nuối tiếc điều gì. Tôi nhấn mạnh: Thời học sinh là quảng thời gian
đẹp nhất trong cuộc đời của các em. Ở tuổi này, các em đang tràn trề sinh lực,
tâm hồn vô tư trong sáng. Các em nên trân trọng những gì mình có. Hãy tận
dụng sức lực của tuổi trẻ để học thật tốt, chơi thật vui và có những kỉ niệm đẹp
với thầy cô, bạn bè, mái trường. Tôi đặc biệt chú ý đến những học sinh chưa
ngoan, chưa có sự cố gắng trong lớp hoặc có biểu hiện chán nản, buông xuôi
trong học tập với mong muốn thay đổi suy nghĩ của các em. Thông qua nội dung
giáo dục kĩ năng sống này các em hiểu được thế nào là cuộc sống đích thực, có ý
Có ý kiến cho rằng: Bài thơ “Vội vàng” thể hiện quan niệm sống mới mẻ, tích
cực và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Lại có ý kiến cho rằng: bài thơ “Vội vàng”
chỉ thể hiện một quan niệm sống hưởng lạc, sống gấp. Ý kiến của anh (chị)?
Tìm hiểu và giải quyết câu hỏi trên, học sinh sẽ có khả năng nhìn nhận vấn đề từ
nhiều góc độ khác nhau. Từ đó các em sẽ đưa ra đáp án tối ưu nhất. Học sinh sẽ
phân biệt được giữa quan niệm sống mới mẻ, tích cực với quan niệm sống
hưởng lạc, sống gấp. Trả lời được câu hỏi của giáo viên, học sinh sẽ dần biết đặt
câu hỏi. Việc các em suy nghĩ, trả lời câu hỏi trên sẽ giúp các em hình thành cảm
xúc tích cực và hứng thú học tập đồng thời rèn luyện kĩ năng giao tiếp, kĩ năng
thể hiện sự tự tin.
Trong quá trình thiết kế giáo án, tôi đã dự kiến những tình huống có thể
xảy ra trong quá trình phản biện và cách xử trí. Cuối cùng, tôi định hướng, chốt
lại ý trọng tâm để học sinh ghi nhớ, khắc sâu.
c.
Xây dựng hệ thống bài tập, đề kiểm tra để phát triển năng lực phản
biện.
Vấn đề đặt ra trong bài thơ “Vội vàng” có ý nghĩa tích cực với tuổi trẻ.
Ngoài các đề văn nghị luận văn học, nội dung trong bài học sẽ được tôi sử dụng
để thiết kế một số đề văn nghị luận xã hội để học sinh có thể tiếp cận vấn đề ở
nhiều góc độ. Các bài tập để phát triển năng lực phản biện khi dạy bài “Vội
vàng” là:
Đề 1: Từ thái độ vội vàng của Xuân Diệu trong bài thơ cùng tên, hãy viết
một bài văn bàn về mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ của mỗi con
người.
Đề 2: Từ quan niệm sống của Xuân Diệu trong bài thơ “Vội vàng” hãy
viết bài văn trình bày cảm nhận của mình về cách sống của thanh niên trong xã
hội ngày nay.
Đề 3: Từ quan niệm về thời gian của Xuân Diệu trong bài thơ “Vội
hiện mang tính đột phá của mình. Do đó sẽ kích thích sự ham học và hình thành
cho học sinh các kĩ năng như: Kĩ năng giao tiếp, Kĩ năng tư duy sáng tạo, Kĩ
năng tự nhận thức, kĩ năng thể hiện sự tự tin...
Phương pháp “Thảo luận, tranh luận; Nghiên cứu tình huống”: Đây là
phương pháp dạy học phù hợp để giải quyết các tình huống phản biện.
Bên cạnh đó, tiết học còn được sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy
học khác như: Nêu và giải quyết vấn đề, Kĩ thuật hỏi chuyên gia....
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Giáo dục tư tưởng, rèn luyện năng lực cho học sinh là cả một quá trình
chứ không thể ngày một ngày hai. Vì vậy, để đánh giá hiệu quả của nó trong dạy
học bộ môn là công việc không dễ. Song với sự quan sát của bản thân qua giờ
dạy và kết quả chấm bài viết số 6 (Đề bài: Nghị luận về vấn đề đặt ra trong bài
thơ “Vội vàng”- Đề 4) tôi cũng đã nhận thấy phần nào hiệu quả của việc triển
khai vấn đề. Tôi nhận thấy học sinh tích cực, chủ động hơn trong giờ học. Học
sinh hứng thú, say mê hơn, tiếp thu bài học tốt hơn, tiết học nhẹ nhàng, không
cứng nhắc, không bị dập khuôn máy móc. Sau bài học, học sinh đã rút ra được
nhiều bài học nhân sinh có giá trị tích cực. Học sinh nhận thức được thế nào là
cuộc sống đích thực, để có cuộc sống đích thực con người cần làm gì, cần phải
sống như thế nào. Từ đó các em sẽ có định hướng đúng đắn, tốt đẹp cho tương
lai của mình. Bên cạnh đó, với việc áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy
học tích cực, học sinh đã tự tin hơn trong giao tiếp, trong quá trình chiếm lĩnh
kiến thức, các em biết thắc mắc, bày tỏ quan điểm riêng...., khoả lấp được phần
nào khoảng thiếu hụt kĩ năng mà các em mắc phải [1].
3. Kết luận, kiến nghị
- Môn Ngữ văn có khả năng lớn trong việc giáo dục tư tưởng và rèn luyện
năng lực tư duy phản biện cho học sinh. Không chỉ cung cấp cho các em những
bài học nhân sinh tích cực, môn học còn giúp các em hình thành những kĩ năng
sống cần thiết. Qua quá trình nghiên cứu, tôi thấy đề tài có tính khả thi, vừa phù
hơp với đặc điểm học sinh, vừa đáp ứng được mục tiêu của dạy học môn Ngữ
văn trong thời kì hiện đại. Qua đề tài này, tôi mong muốn các em học sinh sẽ yêu
sinh, sinh viên Việt Nam, Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
[3]. Tham khảo một số tài liệu trên mạng internet
- Nguồn: .
[4]. Đỗ Ngọc Thống chủ biên (2018), Dạy học phát triển năng lực môn
Ngữ văn THPT, Nxb Đại học sư phạm
PHỤ LỤC
GIÁO ÁN MINH HỌA
Tiết: 78,79:
VỘI VÀNG
(Xuân Diệu)
I. Mức độ cần đạt
1. Kiến thức :
a/ Nhận biết: HS nhận biết, nhớ được tên tác giả và hoàn cảnh ra đời của các tác
phẩm.
b/ Thông hiểu: HS hiểu và lí giải được hoàn cảnh sáng tác có tác động và chi
phối như thế nào tới nội dung tư tưởng của tác phẩm.
c/Vận dụng thấp: Viết đoạn văn khoảng 200 chữ bày tỏ suy nghĩ về một vấn đề
xã hội đặt ra từ văn bản.
d/Vận dụng cao:
- Vận dụng hiểu biết về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm để phân tích giá
trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ.
2. Kĩ năng :
a/ Biết làm: bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ, về 1 ý kiến bàn về văn học;
b/ Thông thạo: các bước làm bài nghị luận văn học;
3.Thái độ :
a/ Hình thành thói quen: đọc hiểu văn bản thơ Mới
-Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp
-Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà
2/Trò
-Đọc trước ngữ liệu trong SGK để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài
-Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ tiết
trước)
-Đồ dùng học tập
IV. Tổ chức dạy và học.
1. Ổn định tổ chức lớp: 1 phút
- Kiểm tra sĩ số, trật tự, nội vụ của lớp
2. Kiểm tra bài cũ: Trình Thái độ và tình cảm của người nghe (Trời và chư tiên)
khi nghe thơ văn của Tản Đà như thế nào? ( 4 phút)
3. Tổ chức dạy và học bài mới:
1. KHỞI ĐỘNG ( 5 phút)
Hoạt động của GV - HS
Tiết 78
- GV đặt ra tình huống: Có lần đến thăm
Xuân Diệu, Nguyễn Đức Quyền đã hỏi Xuân Diệu:
nếu sau này (vì hồi đó thơ Xuân Diệu đang còn là
trái cấm) thơ lãng mạn của anh được đưa vào
sách giáo khoa thì anh ưa chọn bài nào? Xuân
Diệu trả lời ngay là bài “Vội vàng”.
Vậy theo các em, tại sao lúc bấy giờ thơ
Xuân Diệu lại là trái cấm? Tại sao Xuân Diệu lại
chọn bài “Vội vàng” ngay lập tức?
- HS thực hiện nhiệm vụ:
- HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:
Từ đó, giáo viên giới thiệu Vào bài: Các em thân
mến! Phong trào Thơ mới 1930- 1945 đã có đóng
góp to lớn và làm sâu sắc hơn quá trình hiện đại
- Ông là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn có sức
sáng tạo mãnh liệt, bền bỉ và sự nghiệp văn
học phong phú.
2. Tác phẩm:
- Xuất xứ: Rút từ tập “Thơ thơ” (1938), tập
thơ đầu tay cũng là tập thơ khẳng định vị trí
của Xuân Diệu – thi sĩ “mới nhất trong các
nhà thơ mới”.
3. Bố cục: gồm ba phần
- Đoạn một (13 câu đầu): bộc lộ tình yêu
cuộc sống trần thế tha thiết.
- Đoạn hai (câu 14 đến câu 29): nỗi băn
khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người,
trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian.
- Đoạn ba (còn lại): lời giục giã cuống quýt,
vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi
xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời,
của vũ trụ.
GV giảng thêm về cuộc đời và sự nghiệp
thơ văn của Xuân Diệu sau đó chốt lại ý.
HS Tái hiện kiến thức và trình bày.
- Ngô Xuân Diệu (1916 – 1985).
- Quê cha: làng Trảo Nha – Can Lộc – Hà
Tĩnh. Quê mẹ Tùng Giản – Tuy Phước –
Bình Định.
- Ông là thành viên của Tự lực văn đoàn.
- Xuân Diệu là nhà thơ có sức sáng tạo
mãnh liệt, là nhà thơ “mới nhất trong các
nhà thơ mới”.
đọc, giọng đọc từng đoạn cho phù hợp.
Thao tác 1: Tìm hiểu 13 câu thơ đầu:
- Mở đầu bài thơ, tác giả thể hiện một khát
vọng kì lạ đến ngông cuồng. Đó là khát
vọng gì? Từ ngữ nào thể hiện điều này?
( Phương pháp nêu vấn đề)
Sở dĩ Xuân Diệu có khát vọng kì lạ đó bởi
dưới con mắt của thi sĩ, mùa xuân đầy sức
hấp dẫn, đầy sự quyến rũ.
- Niềm ước muốn kì lạ, táo bạo, liều lĩnh:
+ tắt nắng
+ buộc gió
- Mục đích : Giữ lại sắc màu, mùi hương.
- Thực chất: Sợ thời gian trôi chảy, muốn
níu kéo thời gian, muốn tận hưởng mãi
hương vị của cuộc sống. Bất tử hóa cái đẹp.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ ngũ ngôn ngắn gọn, rõ ràng như
lời khẳng định, cố nén cảm xúc và ý tưởng.
+ Điệp ngữ: Tôi muốn / tôi muốn gợi một
cái tôi cá nhân khao khát giao cảm và yêu
đời đến tha thiết.
HS đọc 9 câu tiếp theo.
(Phương pháp trao đổi thảo luận nhóm. )
GV hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung.
(Nhóm 1) Hình ảnh thiên nhiên, sự sống
quen thuộc được tác giả cảm nhận và diễn
trên thế gian – điều mà trong thơ cổ điển
chưa có được.
+Thể hiện sự chuyển đổi cảm giác tài tình
từ thị giác sang vị giác để ca ngơi vẻ đẹp
tình yêu đôi lứa, hạnh phúc tuổi trẻ.
- Tâm trạng đầy mâu thuẫn nhưng thống
(Nhóm 2) Câu thơ nào theo em là mới mẻ
và hiện đại nhất? Vì sao?
(Nhóm 3) 2 câu cuối đoạn thể hiện tâm
trạng như thế nào?Vì sao tác giả bộc lộ
tâm trạng đó?
Hai câu thơ cuối đoạn có tác dụng gì?
HS trả lời:
Đó là kết quả của lâp luận bằng hình
ảnh ở các đoạn trên. Tâm trạng đầy mâu
thuẫn nhưng vẫn thống nhất của tác giả:
sung sướng nhưng vội vàng, muốn sống
nhanh, sống gấp, tranh thủ thời gian.
nhất: Sung sướng >< vội vàng: Câu thơ
Câu thơ cắt đôi là chịu ảnh hưởng của như tách ra làm 2:
thơ Pháp làm cho ý thơ ngắt mạch rõ hơn,
+ Trên: hình ảnh tươi nguyên của cuộc
ấn tượng hơn, thể hiên tâm trạng mâu thuân sống vui, háo hức.
vừa nêu.
+ Dưới: nỗi buồn, bâng khuâng, quấn
quít.
Khát vọng của cá nhân qui luật của + Xuân non - xuân già
tạo hóa
+ Xuân hết - tôi mất.
Sự vô hạn của thế giới sự hữu hạn + Lòng rộng - đời chật.
của kiếp người
+ Xuân tuần hoàn – tuổi trẻ chẳng hai lần
Mùa xuân gắn liền với tuổi trẻ, tình thắm lại
yêu, song quy luật cuộc đời, tuổi trẻ không + Còn trời đất – chẳng còn tôi
tồn tại mãi, nhà thơ xót xa, tiếc nuối nên - Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi, mong
“bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”.
manh của kiếp người trong sự chảy trôi
Nhà thơ không quan niệm thời gian nhanh chóng của thời gian.
tuần hoàn (thời gian liên tục, tái diễn, lặp đi
+Quan niệm về thời gian tuyến tính,
lặp lại, quan niệm lấy sinh mệnh vũ trụ làm một đi không trở lại (so sánh với quan niệm
thước đo thời gian).
thời gian tuần hoàn của người xưa).
Quan niệm của nhà thơ về quy luật
+Cảm nhận đầy bi kịch về sự sống,
thời gian: Thời gian như một dòng chảy mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất
xuôi chiều, một đi không bao giờ trở lại. mát, phai tàn, phôi pha, mòn héo.
Nhà thơ lấy sinh mệnh cá nhân con người
+Cuộc sống trần gian đẹp như một
làm thước đo thời gian, lấy thời gian hữu
hạn của đời người để đo đếm thời gian của
vũ trụ.
Với XD thì quá khứ nằm ngay trong
hiện tại cách cảm nhận độc đáo về thời
đoạn thơ này? Tác dụng của nó?
GV liên hệ với bài Biển( Xuân Diệu):
Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
thiên đường; trong khoảnh khắc đó, thời
gian một đi không trở lại, đời người ngắn
ngủi – nên chỉ còn một cách là phải sống
vội.
- Thiên nhiên:
+ Năm tháng …chia phôi
+ Sông núi…tiễn bịêt.
+ Gió…hờn
+ Chim…sợ
-Thiên nhiên, cảnh vật đều nhuốm màu
chia phôi, li biệt, đều mang tâm trạng lo âu,
phấp phỏng trước thời gian. Không còn chất
vui tươi, tự nhiên như những câu thơ trước
nữa. Nói thiên nhiên nhưng là nói lòng
người. Người buồn cảnh buồn.
-XD là người luôn tha thiết cháy bỏng
với cuộc đời nhưng lại luôn hoài nghi, bi
quan, chán nản.
- Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm :
Muốn níu kéo thời gian nhưng không được.
Vậy chỉ còn một cách là hãy sống cao độ
giây phút của tuổi xuân. Nhà thơ như giục
giã chính bản thân tận hưởng cuộc sống:
hãy mau lên, vội vàng lên, gấp gáp lên, hãy
vượt qua thời gian mà sống, mà cống hiến.
Đến tan cả đất trời
thiên nhiên và tình yêu tuổi trẻ.
Anh mới thôi dào dạt
- Sống vội vàng, cuống quít không có
Cũng có khi ào ạt
nghĩa là ích kỷ, tầm thường, thụ động, mà
Như nghiến nát bờ em
đó là cách sống biết cống hiến, biết hưởng
Em có nhận xét gì về cách sống này của thụ. Quan niệm nhân sinh của thi sĩ.
XD?
Họat động 3: Tổng kết
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật
GV: Nêu đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm ? - Sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch
lí.
GV: Nội dung lớn của bài thơ nói lên điều luận
- Cách nhìn cách cảm mới và những sáng
gì ?
tạo độc đáo về hình ảnh thơ.
2. Ý nghĩa văn bản
HS nêu khái quát nội dung
Quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm
+ Tâm trạng sung sướng nhưng vội vàng.
mĩ mới mẻ của Xuân Diệu – nghệ sĩ của
+ Quan niệm sống nhanh, sống gấp.
niềm khát khao giao cảm với đời.
….
HS trả lời và GV chốt ý
3.LUYỆN TẬP ( 8 phút)
Hoạt động của GV - HS
mật. Câu biểu hiện quan hệ giữa ong bướm
và tuần tháng mật.
-Nghĩa tình thái: bề ngoài thì khách
quan, trung hòa về cảm xúc nhưng trong
lòng tác giả đang rất hồ hởi, vui tươi đón
nhận cuộc sống, sự cảm nhận cuộc sống lúc
nào cùng ngọt ngào như tuần trăng mật…
3/ Sự khác nhau quan niệm về thời
gian qua từ xuân của 2 văn bản trên:
-Từ Xuân trong câu thơ Tôi không
chờ nắng hạ mới hoài xuân của Xuân Diệu
thể hiện quan niệm thời gian tuyến tính.
Ngay trong mùa xuân mà thi sĩ đã nhớ mùa
- HS thực hiện nhiệm vụ:
- HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:
xuân. Mỗi khoảnh khắc hiện tại lập tức trở
thành quá khứ. Thời gian được hình dung
như một dòng chảy xuôi chiều, một đi
không trở lại.Vì thế, một khoảnh khắc trôi
qua là mất đi vĩnh viễn. Từ đó, ta cảm nhận
được niềm khát khao giao cảm với đời của
nhà thơ.
- Từ Xuân trong câu thơ Về đây đem
chắn nẻo xuân sang! của Chế Lan Viên thể
hiện quan niệm thời gian tuần hoàn. Từ
điểm nhìn hiện tại Xuân, nhà thơ nhớ về
quá khứ trở lại mùa thu trước với nỗi buồn
hiện quan niệm thời gian tuần hoàn. Từ
điểm nhìn hiện tại Xuân, nhà thơ nhớ về
quá khứ trở lại mùa thu trước với nỗi buồn
về sự chia lìa, tàn tạ của cảnh vật : lá vàng,
cánh rã.
4.VẬN DỤNG ( 7 phút)
Hoạt động của GV - HS
GV giao nhiệm vụ:
Bài tập 1:
Bài học mà bản thân rút ra được khi học
xong bài thơ “Vội vàng”.
Bài tập 2 (Bài tập về nhà):Viết đoạn
văn ngắn ( 5 đến 7 dòng) bày tỏ suy nghĩ về
hiện tượng một bộ phận giới trẻ có lối sống
gấp, sống ích kỉ trong cuộc sống hôm nay.
- HS thực hiện nhiệm vụ:
- HS báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ:
Kiến thức cần đạt
Trả lời:
Bài tập 1: Học sinh bày tỏ quan
điểm, bài học rút ra.
Bài tập 2. Đoạn văn đảm bảo các yêu
cầu :
-Hình thức: đảm bảo về số câu,
không được gạch đầu dòng, không mắc lỗi
chính tả, ngữ pháp. Hành văn trong sáng,