Mục lục
Mục
Mục lục
Mở đầu
- Lí do chọn đề tài
- Mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận, thực trạng và giải pháp cho vấn đề
- Cơ sở lí luận
- Thực trạng của vấn đề
- Giải pháp và tổ chức thực hiện
Đối sánh các văn bản về nội dung tư tưởng
Đối sánh các văn bản về nghệ thuật
- Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
- Kết luận, kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang
1
1
2
3
3
3
3
4
5
6
8
đề xuất thực hiện đối sánh mang tính hệ thống, quy chiếu nhiều văn bản nhằm
giúp học sinh vừa có sự củng cố kiến thức đã học, khái quát vừa mở rộng hiểu
biết nhiều vấn đề của tác phẩm văn xuôi vốn còn khá khó với trình độ các em.
Đề tài Nâng cao hiệu quả hướng dẫn học sinh THPT Thường Xuân 2 phân tích
tác phẩm văn xuôi qua sự đối sánh văn bản được triển khai từ lí do như vậy.
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đối với quá trình dạy học Ngữ văn ở trường THPT Thường Xuân 2:
hướng tới xây dựng được cơ sở lí thuyết để giúp học sinh nâng cao năng lực
phân tích tác phẩm văn xuôi thông qua sự đối chiếu, so sánh một số văn bản.
Trên cơ sở lí thuyết ấy, các em có thể áp dụng phương pháp này vào phân tích
một văn bản mới. Đề tài này cũng nhằm xây dựng một hệ quy chiếu văn bản để
giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học luôn liên hệ, mở rộng vấn đề mỗi
khi khám phá một tác phẩm văn xuôi.
Đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy học hướng đến sự phát triển
năng lực học sinh hiện nay: đề tài này góp phần vào việc hình thành năng lực tự
xây dựng phương pháp đọc hiểu văn bản văn học nói chung, văn bản văn xuôi
nói riêng, qua đó các em có thể tự kiểm tra, đánh giá được năng lực cảm thụ văn
học của bản thân. Đồng thời, người viết cũng luôn trăn trở và mong muốn làm
cho học sinh bớt cảm giác căng thẳng, nặng nề trong học tập môn Ngữ văn, để
các em thấy rõ được sự gần gũi giữa tác phẩm văn học và đời sống. Đây là mục
tiêu chung của cả quá trình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
2
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Với mục tiêu đã đặt ra, đề tài này tập trung vào việc hướng dẫn học sinh
các lớp mũi nhọn phân tích tác phẩm văn xuôi qua đối chiếu, so sánh các vấn đề
về nội dung và hình thức nghệ thuật của các tác phẩm văn xuôi ở chương trình
THPT. Từ đó đề tài cũng tập trung đánh giá sự tiến bộ của học sinh trong đọc
hiểu tác phẩm, và đánh giá sự phát triển năng lực phân tích văn bản văn xuôi
cho nó mới là đối tượng của tiếp nhận và khoái cảm thẩm mĩ. Theo đó, mỗi tác
phẩm văn học ra đời đều chứa đựng những đặc trưng về văn hóa – dân tộc của
ngôn ngữ và tư duy của tác giả đó. Những nhà văn có cùng một “mã” văn hóa sẽ
có ít nhiều điểm tương đồng trong sáng tác của họ, tạo nên tính liên văn bản,
“trường văn bản”. Đây là cơ sở để thực hiện việc so sánh, đối chiếu tác phẩm.
Lí thuyết liên văn bản khẳng định bản thân mỗi tác phẩm văn học nằm
trong một liên văn bản. Khẳng định ấy là tiền đề giúp chúng ta có một cái nhìn
3
đại cục về tác phẩm, qua đó tìm ra những phương pháp tối ưu cho cách tìm hiểu,
khám phá văn bản.
Hướng dẫn học sinh phân tích tác phẩm văn xuôi trong dạy học từ trước
tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu từ cấp quản lí vĩ mô cho đến cấp cơ
sở, giáo viên trực tiếp giảng dạy. Có thể kể ra các công trình: Đọc hiểu văn bản
– khâu đột phá trong dạy học văn hiện nay của giáo sư Trần Đình Sử; Về việc
vận dụng lí thuyết liên văn bản vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT hiện nay
của PGS-TS Phan Huy Dũng…
Việc hướng dẫn học sinh phân tích một văn bản văn xuôi có những thuận
lợi và khó khăn riêng của nó, nhất là trong bối cảnh dạy học văn hiện nay.
Những điều kiện này đặt ra yêu cầu cần phải vận dụng những phương pháp dạy
học sáng tạo, phù hợp và hấp dẫn học sinh để việc phân tích đạt được hiệu quả
mong muốn. So sánh, đối chiếu các văn bản khi hướng dẫn học sinh phân tích
tác phẩm là một trong những phương pháp hiệu quả trong điều kiện dạy học ở
trường THPT thời đại thông tin đến với con người rất đa dạng, đa chiều ngày
nay.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Việc hướng dẫn học sinh phân tích tác phẩm văn xuôi trong nhà trường
thông qua sự đối sánh văn bản cũng đã từng được nhiều giáo viên áp dụng trong
công tác giảng dạy của mình, và thực tiễn giảng dạy, có thể giáo viên Ngữ văn
sâu xa, vùng đặc biệt khó khăn nên còn nhiều hạn chế trong tiếp cận tác phẩm
văn học, nhất là tác phẩm văn xuôi trong và ngoài nhà trường. Từ đặc điểm
vùng, miền và dân tộc như vậy, giáo viên ngoài việc giảng dạy kiến thức chuyên
môn còn phải tập trung vào giảng dạy các kĩ năng đọc, viết, kĩ năng sống, kĩ
năng giao tiếp nên lượng thời gian dành cho tác phẩm thực tế là không nhiều.
Cùng chung thực trạng với một số trường miền núi cao khác trong tỉnh, ở trường
THPT Thường Xuân 2 còn hiện tượng cho học sinh tập đọc nhanh, vì nhiều em
không được luyện đọc từ các cấp dưới nên mất khá nhiều thời gian cho việc đọc
xong một tác phẩm. Do đó, phân tích một tác phẩm văn xuôi ở đây chưa thể mở
rộng hơn ngoài phạm vi văn bản đó.
Từ thực tế này, tôi chỉ áp dụng việc hướng dẫn học sinh phân tích tác
phẩm văn xuôi qua sự đối sánh văn bản đối với những học sinh được xếp vào
“tốp trên”, tức là những lớp học sinh ở mức khá đồng đều các môn khoa học xã
hội. Trong khoảng 5 năm trở lại đây, tôi đã tích cực áp dụng việc đối sánh các
văn bản văn xuôi trong và ngoài nhà trường khi dạy học các lớp “mũi nhọn”. Và
tôi nhận thấy học sinh có nhiều hứng thú, hiểu bài sâu hơn và làm bài văn cũng
đạt kết quả tốt hơn sau khi dạy học theo cách đối sánh này..
2.3. Giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện
* Giải thích khái niệm đối sánh: đối sánh là thuật ngữ thường được sử dụng
trong văn học, bao gồm hai khái niệm đối chiếu và so sánh. Đối sánh văn bản là
đối chiếu và so sánh các văn bản với nhau. Như vây phân tích tác phẩm văn xuôi
qua sự đối sánh văn bản là phân tích thông qua đối chiếu tác phẩm này với tác
phẩm khác để tìm sự tương đồng, sự khác biệt và quan trọng là tìm mối liên hệ
giữa các tác phẩm văn học.
2.3.1. Đối sánh các văn bản về phương diện nội dung, tư tưởng
Thông thường các tác phẩm văn học đều thể hiện rõ khuynh hướng tư
tưởng của nhà văn và được liệt vào các dòng, các trào lưu tư tưởng. Trong văn
học thế giới nói chung và văn học Việt Nam nói riêng, từ trước tới nay ta thường
quy các trào lưu, trường phái tư tưởng ấy thành: tư tưởng yêu nước, tư tưởng
nhân đạo, cảm hứng thế sự… Đó là các thuật ngữ mà nền lí luận văn học xưa
gửi gắm qua hai tác phẩm này.
- Gợi ý để học sinh chỉ ra điểm chung của hai tác phẩm: điểm chung là chủ
nghĩa anh hùng cách mạng được đề cao, ca ngợi trong hoàn cảnh vận mệnh của
dân tộc đang đứng trước nguy cơ bị kẻ thù tiêu diệt. Rừng xà nu xoay quanh
cuộc nổi dậy của làng Xô Man, mà trung tâm là người anh hùng Tnú trong cuộc
kháng chiến chống Mĩ, còn Đất nước đứng lên lại tập trung ca ngợi cuộc đứng
lên chống Pháp của dân làng Kông Hoa, mà trung tâm là hình tượng anh hùng
Núp.
Với hai tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố và Chí Phèo của Nam Cao, gợi
ý để học sinh so sánh để làm nổi bật những vấn đề sau: cái nhìn của các nhà văn
đối với người nông dân và giai cấp thống trị trong xã hội Việt Nam trước cách
mạng tháng Tám là rất thống nhất. Người nông dân phải chịu biết bao khổ nhục
do sự áp bức, bóc lột của bọn thống trị tàn bạo, còn tầng lớp cường hào, địa chủ
thì luôn luôn hiện lên với những phẩm chất xấu xa, cay độc và hết sức xảo trá,
quỷ quyệt. Hơn nữa, điểm chung của hai tác giả ở hai sáng tác của họ còn là cái
nhìn đầy thương cảm, xót xa, nhân ái với người nông dân, và sự khinh bỉ, miệt
thị đối với bọn thống trị.
Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Một đám cưới của Nam Cao lại có sự
tương đồng ở chỗ phản ánh những ước mơ, khát vọng hết sức nhỏ nhoi, bình
thường và chính đáng của những đứa trẻ. Khi so sánh hai tác phẩm này, cần làm
cho học sinh thấy rõ tư tưởng nhân đạo của hai nhà văn hướng tới lứa tuổi còn
non nớt với những mơ ước giản dị. Liên trong Hai đứa trẻ tuy còn nhỏ song
luôn có những suy tư rất sâu về hoàn cảnh sống, về thời cuộc; cái Dần trong Một
đám cưới của Nam Cao lại là cô gái mới lớn với niềm mong ước thật giản dị là
luôn được sống đầm ấm với bố và em ở nhà, dù rất nghèo túng. Tư tưởng chủ
6
đạo của Hai tác phẩm vượt lên cả những sự nghèo nàn, tăm tối của xã hội bấy
giờ, hướng con người đến những khao khát hướng thiện, và đề cao đời sống tinh
mình thoát khỏi cuộc sống mà cái ác đang thống trị.
Khi hướng dẫn học sinh phân tích chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong
tác phẩm Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành, giáo viên có thể liên hệ
với một số tác phẩm văn học nước ngoài có cùng đề tài chiến tranh để làm nổi
bật rõ hiện tượng mang tính lịch sử của vấn đề này. Đây là nội dung hiện hữu
trong nền văn học của tất cả các dân tộc phải trải qua chiến tranh vệ quốc.
Truyện Số phận con người của nhà văn Nga Sô-lô-khốp là một tác phẩm có thể
dùng để đối chiếu với Rừng xà nu nhằm làm cho học sinh thấy được nét tương
đồng trong văn hóa, văn học giữa dân tộc Nga với dân tộc Việt Nam. Giáo viên
nêu lên những điểm tương đồng giữa hai tác phẩm này như sau: khi tổ quốc lâm
nguy thì những con người như Tnú, Xô-cô-lốp luôn sẵn sàng hi sinh những hạnh
7
phúc riêng tư của mình (cả gia đình, vợ con) để thực hiện lí tưởng độc lập, tự do
cho dân tộc. Họ xứng đáng là những người con ưu tú của cả cộng đồng. Đó là
thực tế lịch sử luôn tồn tại trong văn học yêu nước, cách mạng như văn học Nga
và văn học Việt Nam.
Ngoài những ví dụ trên đây, tôi đã mạnh dạn đối chiếu giữa văn bản trong
chương trình với một số văn bản ngoài chương trình, để khơi gợi ở học sinh
niềm hứng thú đọc văn. Chẳng hạn giáo viên có thể giới thiệu tóm tắt truyện Cô
gái xuống ga Vĩnh Yên của nhà văn trẻ Phạm Duy Nghĩa để học sinh tìm đọc, từ
đó có thể đối chiếu khát vọng hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn của Mị với
khát vọng hướng đến những giá trị tinh thần cao đẹp của Diễm – cô gái mại dâm
trọng truyện trên. Đối chiếu, so sánh như vậy để đi đến một kết luận chung: con
người, nhất là người phụ nữ dù chìm trong khổ nhục đến đâu thì họ vẫn luôn
hướng đến những giá trị tốt đẹp. Mị dù sống thân phận của con trâu con ngựa
suốt mấy năm trời vẫn muốn đi chơi, muốn yêu và được yêu khi mùa xuân về và
muốn thoát khỏi nhà thống lí Pá Tra khi nhận ra nỗi đau khổ của A Phủ bị trói.
Còn Diễm trong truyện của Phạm Duy Nghĩa là một gái điếm, sống trụy lạc,
đọc những hứng thú và cảm xúc. Hình thức nghệ thuật của một tác phẩm văn
xuôi thể hiện khá phong phú và phức tạp. Khi đối chiếu, so sánh giữa các văn
bản này, chúng ta cần chú ý đến các phương diện: tổ chức tác phẩm; cách xây
dựng nhân vật; đặc điểm về sử dụng ngôn ngữ của nhà văn. Ở đây tôi nêu ra
những cách đối chiếu, so sánh các vấn đề ấy như sau:
2.3.2.1. Đối sánh ở bình diện tổ chức tác phẩm
Tổ chức tác phẩm là một khái niệm trừu tượng và rất rộng. Nhìn một cách
cơ bản nhất, khi giảng dạy ở trường phổ thông thì tổ chức tác phẩm bao gồm
cách xây dựng tình huống, cốt truyện, tình tiết, chi tiết; cách tổ chức điểm nhìn
trần thuật. Mỗi nhà văn thường có những nét riêng trong quá trình tổ chức tác
phẩm của mình, và khi nó lặp lại nhiều lần, hình thành đặc điểm nhận dạng thì
tạo thành phong cách. Có thể nói, đối chiếu, so sánh cách tổ chức tác phẩm cũng
là đối chiếu về phong cách của các nhà văn.
Trong chương trình THPT, học sinh được học nhiều tác phẩm văn xuôi có
cách tổ chức tác phẩm đặc sắc như đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, Hai
đứa trẻ, Chữ người tử tù, Chí Phèo, Vợ nhặt, Rừng xà nu, Chiếc thuyền ngoài
xa… Việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu nét đặc sắc của cách tổ chức tác phẩm là
hoạt động cần thiết, giúp tránh được hiện tượng chỉ chú trọng vào nội dung, đôi
khi sa vào tình trạng đời sống hóa, xã hội hóa tác phẩm văn chương. Để làm tốt
việc này, trước hết phải định hướng để học sinh cảm thụ được các giá trị thẩm
mĩ mà hình thức nghệ thuật của tác phẩm, trong đó có cách tổ chức tác phẩm
mang lại.
Những biện pháp để đối chiếu cách thức tổ chức tác phẩm là xây dựng
được những câu hỏi có vấn đề để phát huy, kích thích khả năng phát hiện của
học sinh. Câu hỏi cần có tính tổng hợp khái quát, đồng thời lại phải chỉ ra được
những vấn đề cụ thể để học sinh dễ so sánh, đối chiếu. Chẳng hạn, khi hướng
dẫn học sinh phân tích sự độc đáo của Nam Cao trong nghệ thuật xây dựng tình
huống trong “Chí Phèo” – “ Hắn vừa đi vừa chửi”, chúng ta có thể đặt vấn đề:
cũng phản ánh nỗi đau khổ, nhưng Ngô Tất Tố cứ tuần tự đưa người đọc đi từ
chuyện trước đến chuyện sau để người đọc thấy một chị Dậu đầy đủ từng thời
khi đối chiếu cách xây dựng nhân vật giữa các tác giả, tác phẩm ta cũng tập
trung vào hai mặt này.
Những tác phẩm của các nhà văn như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,
Nguyễn Công Hoan thường có nét tương đồng nhau ở cách điển hình hóa, thì
khi hướng dẫn học sinh phân tích những văn bản này cần đối chiếu với văn bản
khác. Ví dụ khi tìm hiểu nhân vật Xuân Tóc Đỏ, chúng ta cần liên hệ với nhân
vật huyện Hinh của Nguyễn Công Hoan (trong Đồng hào có ma) bằng cách đặt
vấn đề:
- Nhân vật Xuân Tóc Đỏ rất điển hình cho hạng người quỷ quyệt, xảo trá trong
xã hội thời bấy giờ. Đọc truyện Đồng hào có ma của Nguyễn Công Hoan, ta
thấy nhân vật Huyện Hinh cũng được khai thác ở những phẩm chất như Xuân
Tóc Đỏ. Cái khác là địa vị xã hội của hai nhân vật này: một bên là một tên vô
học, vô lại, được xã hội tung hô, đẩy lên đỉnh cao của vinh quang còn một bên là
tầng lớp thống trị của xã hội cũ với đầy đủ mánh khóe của một tên cướp nhân
danh quan lại. Bên cạnh những nét này, việc xây dựng nhân vật của Vũ Trọng
Phụng và Nguyễn Công Hoan cũng tương đồng ở chỗ nhân vật của họ như một
bức tranh biếm họa về bộ mặt xã hội thời đó.
Cũng ở cách xây dựng nhân vật theo phương pháp điển hình hóa, khi dạy
một tác phẩm giáo viên có thể đối chiếu nhiều tác phẩm như: Chí Phèo – A.Q
(của Lỗ Tấn) – Bê-li-côp – Gô-ri-ô (Ban-dăc). Cần giảng khi so sánh để học sinh
hiểu rõ ý nghĩa điển hình ở mỗi nhân vật. Chí Phèo, A.Q điển hình cho con
người bần cùng – sản phẩm của thời kì thực dân nửa phong kiến ở cả Việt Nam
và Trung Quốc; Bê-li-côp là điển hình tiêu biểu của con người là nạn nhân của
một xã hội phong kiến Nga thế kỉ XIX với tình trạng ngột ngạt, tù túng, không
lối thoát; và lão Gô-ri-ô của Ban-dăc là hình ảnh tiêu biểu của con người khao
khát dấn thân vào xã hội thượng lưu giả tạo ở nước Pháp thế kỉ XIX.
Ở phương diện xây dựng nhân vật người phụ nữ trong văn học, chúng ta
có thể đối chiếu hai nhân vật ở hai nền văn học khác nhau là chị Dậu trong Tắt
đèn của Ngô Tất Tố với Făng-tin trong Những người khốn khổ của Vic-to Huy10
2.3.2.3. Đối sánh ở bình diện sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ là đặc trưng của công việc sáng tác
văn chương. Nhà văn lớn là nhà văn có phong cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo,
tài năng và đạt hiệu quả cao về nghệ thuật ngôn từ. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu
nét độc đáo trong sử dụng ngôn ngữ của nhà văn qua tác phẩm sẽ thúc đẩy quá
trình phát triển năng lực thực hành sử dụng ngôn ngữ vào giao tiếp của học sinh.
Muốn học sinh thấy được sự đa dạng, sự tài tình của nhiều tác giả thì giáo viên
cần đặt ra vấn đề để đối chiếu, so sánh. Có thể đặt vấn đề như sau:
Những tác giả có nét gần gũi trong sử dụng ngôn ngữ: ngôn ngữ nhiều
góc cạnh như: Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyễn Khải, Tô Hoài; ngôn ngữ giàu
chất thơ có Thạch Lam, Hoàng Phủ Ngọc Tường; ngôn ngữ đậm chất trào phúng
như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan…
Những tác giả có nét khác biệt nhau về sử dụng ngôn ngữ như Vũ Trọng
Phụng dùng nhiều từ ngữ nôm na như lời nói hàng ngày, còn Nguyễn Tuân
11
thường dùng nhiều từ Hán Việt, nhiều từ mang tính học thuật…Ví dụ trong đoạn
trích Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng sử dụng một lượng lớn các
từ ngữ là lời ăn tiếng nói hàng ngày: giai thanh gái lịch, chim nhau, cười tình với
nhau, tán tỉnh nhau... tạo nên vẻ tự nhiên, đời thường cho truyện. Còn Nguyễn
Tuân trong Chữ người tử tù thì dùng nhiều từ Hán Việt như: đề lao, ngục quan,
thiên lương… để tạo nét cổ kính, trang nghiêm.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
2.4.1. Kết quả thực nghiệm dạy học hướng dẫn phân tích văn bản văn xuôi qua
sự đối sánh văn bản của học sinh trường THPT Thường Xuân 2
Trong quá trình giảng dạy các lớp mũi nhọn, bản thân đã tích cực hướng
dẫn các em tìm cách so sánh giữa các tác phẩm văn xuôi ở bất kì một bình diện
nào các em muốn. Để có thể tìm ra những yếu tố để so sánh, đối chiếu giữa các
Tỉ lệ
lượng
11
30,5
Điểm từ 8 trở lên
Số
Tỉ lệ%
lượng
4
11,1
+ Sau khi áp dụng phương pháp dạy học mới: học sinh học tập hào hứng hơn,
không còn tình trạng căng thẳng và cứng nhắc khi tìm hiểu một vấn đề văn học,
mà đa số các em có cách nhìn nhận vấn đề rộng, sâu, nhiều góc độ hơn trước.
Kết quả học tập thể hiện qua bài kiểm tra viết cũng tiến bộ hơn nhiều, thể hiện ở
bảng sau:
Điểm dưới 5
Điểm từ 5 đến 6,5 Điểm từ 7 đến 8
Điểm từ 8 trở lên
Số
Số
Số
Số
Tỉ lệ%
Tỉ lệ%
Tỉ lệ%
Tỉ lệ%
lượng
lượng
Chúng ta đang hướng đến đổi mới để hoàn thiện một nền giáo dục tiên
tiến, hiện đại, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Trong bối cảnh đó, chúng
ta rất cần những phương pháp dạy học hiệu quả. Đối với việc dạy học môn Ngữ
văn nói chung và việc hướng dẫn học sinh phân tích tác phẩm văn xuôi nói
riêng, cách tiếp cận nhiều chiều, đa dạng là hết sức cần thiết, nhất là cách tiếp
cận thông qua sự đối chiếu, so sánh giữa các văn bản, các tác giả.
Từ những vấn đề đặt ra trong đề tài Nâng cao hiệu quả hướng dẫn học
sinh trường THPT Thường Xuân 2 phân tích tác phẩm văn xuôi qua sự đối
sánh văn bản, chúng tôi tin rằng nếu tích cực vận dụng, áp dụng những phương
pháp so sánh rộng rãi thì việc dạy học văn trong bối cảnh hiện nay có thể được
cải thiện, mang lại những hiệu quả tốt. Trong giai đoạn hiện nay, dạy học văn áp
dụng những lí thuyết mới như lí thuyết liên văn bản, chủ nghĩa hậu hiện đại…
đang có xu hướng mở rộng đến trường trung học phổ thông. Đấy là một trong
những tín hiệu giúp người dạy và người học tiến tới quá trình dạy học hiện đại,
thoát khỏi mọi sự gò bó, ràng buộc.
Tuy nhiên, cái cần thiết trong việc áp dụng biện pháp đối chiếu, so sánh
này là luôn luôn làm chủ được cảm xúc, tránh để sa vào tình trạng xã hội hóa,
dung tục hóa những vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học.
Để thay lời kết, người viết xin trích dẫn một ý kiến góp ý về dạy học văn
hiện nay như sau: “Những phương pháp và sự thực hành phương pháp nào chỉ
dẫn đến hoạt động tái hiện kiến thức (dù là tái hiện với sự chủ động cao nhất) sẽ
phải được xem xét lại, trên nền tảng của nhận thức: ý nghĩa trong văn bản không
phải là cái gì cố định, không phải là một con số hữu hạn; không hẳn/ không thể
là cái bị quy định hoàn toàn bởi ý đồ tác giả; không phải là cái được rút ra mà là
cái được kiến tạo, với sự hoạt động tích cực của người học”
- Kiến nghị
Đối với các cấp quản lí giáo dục: cần có sự đổi mới chương trình và sách
giáo khoa để tránh tình trạng kiến thức nặng nề, quá tải, đảm bảo khi tìm hiểu
13
Phụ lục
Giáo án thực nghiệm
Tiết 53+54
CHÍ PHÈO
(Nam Cao)
A. Mục tiêu bài học.
1. Về kiến thức: Giúp HS :
- Hiểu và phân tích được các nhận vật, nhất là Chí Phèo. Qua đó hiểu được giá
trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc mới mẻ của tác phẩm.
- Nắm vững giá trị nghệ thuật của tác phẩm: Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển
hình trong hòan cảnh điển hình.
2. Về kĩ năng, năng lực: Rèn kỹ năng phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự;
hình thành năng lực đọc hiểu thông qua so sánh, đối chiếu tác phẩm, năng lực sử
dụng ngôn ngữ để viết bài văn.
3. Thái độ: Có thái độ tích cực, tự giác trong tìm đọc văn bản ngoài nhà trường
để so sánh, đối chiếu.
B. Phương tiện thực hiện.
- SGK Ngữ văn 11.
- Tư liệu văn học.
- Thiết kế bài học.
- Tranh ảnh chân dung nhà văn Nam Cao. Trích đoạn phim Làng Vũ Đại ngày
ấy. Tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố.
- Máy chiếu.
C. Cách thức tiến hành.
- Phương pháp đọc hiểu, đọc diễn cảm, kết hợp phân tích, giảng bình, so sánh,
nêu vấn đề bằng hệ thống câu hỏi gợi mở. Trao đổi thảo luận, kích thích sự sáng
tạo của học sinh.
D. Tiến trình giờ học.
1. Ổn định tổ chức.
phẩm được tái bản và được đổi tên một
lần nữa Chí Phèo.
2. Kể tóm tắt nội dung tác phẩm.
II. Đọc hiểu văn bản
1. Hình tượng nhân vật Chí Phèo.
- Cách vào truyện của Nam Cao có gì độc * Mở đầu tác phẩm là hình ảnh: Chí Phèo
đáo?
vừa đi vừa chửi
- Tiếng chửi cùng song hành trong cuộc
Tiếng chửi của Chí có ý nghĩa như thế đời Chí, tiếng chửi báo hiệu một Chí Phèo
nào đối với cách vào truyện như vậy ?
lưu manh, cô độc.
- Là phản ứng của chí đối với cuộc đời,
bộc lộ tâm trạng bất mãn cao độ khi bị
làng xóm, xã hội gạt bỏ.
- Bộ lộ sự bất lực, bế tắc, cô đơn tột độ
của Chí giữa làng vũ Đại.
Cuộc gặp gỡ với Thị Nở có ý nghĩa như * Gặp Thị Nở :
thế nào đối với Chí Phèo ?
- Lần đầu tiên tỉnh dậy : Nhận biết được
mọi âm thanh trong cuộc sống. Sợ cô đơn,
thèm lương thiện. Bát cháo hành của Thị
chính là vị thuốc diệu kỳ giúp Chí cởi bỏ
xác thú, cải tử hoàn sinh.
- Lần đầu tiên Chí được một người khác
cho: lần đầu tiên Chí được hưởng sự chăm
sóc bởi bàn tay của một người đàn bà.
- Những gì diễn ra trong tâm hồn Chí sau - Tâm trạng Chí: mơ hồ buồn, cô độc, cảm
- Chí giết kẻ thù và tự giết mình - ý thức
nhân phẩm đã trở về - không bằng lòng
với cuộc sống thú vật nữa. Chí giết Bá
Kiến không phải là hành động lưu manh
giết người, mà đó chính là hành động
manh động tự phát của kẻ bị đẩy vào
đường cùng.
* Hoạt động 3: Tìm hiểu nghệ thuật
Việc khắc họa tính cách và miêu tả ngoại
hình, phân tích tâm lí nhân vật Chí Phèo
thể hiện tính chất gì của văn học hiện
thực phê phán?
Nhận định về ngôn ngữ kể chuyện và
ngôn ngữ nhân vật?
2. Nghệ thuật - thành công và hạn chế.
* Nghệ thuật điển hình hóa
- Tính cách lưu manh – sản phẩm của sự
áp bức bóc lột ở mọi xã hội.
- Ngoại hình: lưu manh hóa để tồn tại
- Tâm lí: khát khao sống lương thiện là
bản chất con người
=> Xây dựng nhân vật điển hình trong
hoàn cảnh điển hình.
* Ngôn ngữ giản dị, diễn đạt độc đáo, là
ngôn ngữ đa giọng điệu, phù hợp với từng
chi tiết truyện.
Theo anh (chị), truyện này còn có những - Hạn chế: Chưa dự báo được khả năng
tồn tại, hạn chế nào?
19