BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
__________________
HỒ THỊ THANH HẰNG
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA VỐN CON NGƯỜI VÀ KHỞI NGHIỆP
DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA KHÁC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
__________________
HỒ THỊ THANH HẰNG
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA VỐN CON NGƯỜI VÀ KHỞI NGHIỆP
DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH
Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA KHÁC
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
(Hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................... 4
1.3
Phương pháp, đối tượng, phạm vi nghiên cứu ..................................................... 5
1.4
Bố cục bài nghiên cứu ......................................................................................... 5
KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM .............................................................................................................. 7
2.1
Khung lý thuyết .................................................................................................. 7
2.1.1
Lý thuyết về vai trò của khởi nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế .................. 7
2.1.2
Lý thuyết về vốn con người và tinh thần khởi nghiệp ................................. 14
2.2
Bằng chứng thực nghiệm .................................................................................. 27
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU....................... 36
3.1
Các kiểm định cho mô hình hồi quy GMM ....................................................... 58
4.2.1
Kiểm định đa cộng tuyến ............................................................................ 58
4.2.2
Kiểm định hiện tượng tự tương quan .......................................................... 59
4.3
Thảo luận kết quả thực nghiệm ......................................................................... 60
4.4
Các đề xuất từ kết quả nghiên cứu..................................................................... 62
KẾT LUẬN .................................................................................. 64
5.1
Kết luận chung .................................................................................................. 64
5.2
Các hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu sắp tới ........................... 65
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Maximum Likelihood Estimation (Ước lượng hợp lý cực đại)
OLS
Phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất
R&D
Nghiên cứu và phát triển (Research and development)
SGMM
Mô hình hồi quy GMM hệ thống
WDI
Chỉ số phát triển thế giới (World Development Indicators)
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Các lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu khởi nghiệp của con người tính
đến tháng 9/2014 ............................................................................................................ 16
Bảng 2.2. Cấu trúc vốn nhân lực chung ........................................................................ 17
Bảng 2.3. Các loại hình vốn nhân lực ........................................................................... 22
Bảng 3.1. Thống kê mô tả biến ..................................................................................... 44
Bảng 3.2. Danh sách các nước sử dụng trong nghiên cứu ............................................. 47
Bảng 3.3. Nguồn dữ liệu của các biến sử dụng trong mô hình ....................................... 49
Bảng 4.1. Kết quả hồi quy GMM phương trình (1) ....................................................... 52
khả dụng và phát triển tài chính thấp và ngược lại. Thêm vào đó, ở những quốc gia có thu
nhập thấp hơn mức trung bình, để tăng tỷ lệ khởi nghiệp thì nên tập trung cải thiện giáo
dục hơn là tập trung vào phát triển tài chính. Qua những kết quả thực nghiệm trên tôi đã
đưa ra những giải thích, đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo và các khuyến nghị cho
chính sách giáo dục của Việt Nam để giúp nâng cao tinh thần khởi nghiệp và giúp đất
nước phát triển một cách mạnh mẽ trong tương lai.
Từ khóa: Khởi nghiệp, vốn nhân lực, tuyển sinh đại học, phát triển tài chính.
ABSTRACT
The previous literature is filled with mixed findings with regard to human capital’s
impact on entrepreneurial outcomes. In particular, the prior literature has treated human
capital’s impact on entrepreneurship in isolation, while in reality its impact depends on
access to financial capital. This study of mine explores the relationship between human
capital and entrepreneurship under the influence of the level of financial development in
Vietnam and some other countries. In the study, I used data samples from 43 countries in
the period from 2001 to 2015, including Vietnam. In order to find out the answers to the
research questions in the paper, I have based on the fundamental theories of
entrepreneurship, human capital of previous studies to build two models to consider the
impact of mutual feedback between the above factors. I use the table data and the GMM
system estimation method to estimate the two equations proposed in the paper.
My results show that a rise in tertiary enrollment benefits entrepreneurship most when the
level of financial development is low. For higher levels of financial development, the
impact of tertiary enrollment on entrepreneurship is still positive but much lesser in
magnitude compared to countries with lower level of financial development. Through the
above results, I have provided explanations and suggestions for Vietnam's education
policy to enhance the entrepreneurial spirit and develop the country more strongly.
Keywords:
thiện hiệu quả kinh tế, nhưng điều này không phải lúc nào cũng làm tăng tỷ lệ doanh
nhân khởi nghiệp thực tế, vì tỷ lệ này còn chịu tác động của một số yếu tố khác.
Yếu tố đầu tiên là giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học, có thể cản trở sự không đồng
nhất và tư duy sáng tạo cần thiết cho sự đổi mới (Baumol, 2004). Ông thấy rằng việc nắm
vững các phương pháp khoa học được cung cấp bởi giáo dục đại học tiêu chuẩn là vô
cùng quý giá đối với các hoạt động R & D của tập đoàn lớn nhưng cản trở sự sáng tạo
thực sự cần thiết cho những đổi mới đột phá góp phần không nhỏ vào tăng trưởng (chủ
yếu đến từ các công ty khởi nghiệp nhỏ và mới). Về bản chất, giáo dục đại học hầu hết
đều dẫn đến những tiến bộ gia tăng hơn là tạo ra những đổi mới đột phá (Christensen,
1997). Đây chính xác là lý do tỷ phú doanh nhân Peter Thiel của PayPal đã tài trợ học
bổng Thiel mang lại cho sinh viên 100.000 đô la trong hai năm cho những sinh viên nào
dám bỏ học đại học và nỗ lực theo đuổi khởi nghiệp kinh doanh.
Thứ hai, bởi vì một cá nhân có trình độ giáo dục cao và chất lượng sẽ dẫn đến cơ hội việc
làm mở rộng trong các công ty và doanh nghiệp hiện tại có sẵn, điều đó làm tăng chi phí
cơ hội cho cá nhân trở thành một doanh nhân khởi nghiệp. Đây chính xác là lý do tại sao
các khu vực kém phát triển với môi trường kinh doanh kém và chính sách yếu kém có xu
2
hướng có tỷ lệ tự khởi nghiệp cao, chính xác đây là những gì được chứng minh trong bài
nghiên cứu về chi phí cơ hội của khởi nghiệp (Cassar, 2006).
Cuối cùng, giáo dục được cải thiện có thể khiến các cá nhân đánh giá tốt hơn các rủi ro,
thất bại tiềm ẩn và các vấn đề với ý tưởng của họ, khiến các cá nhân khởi nghiệp phải từ
bỏ theo đuổi ý tưởng xấu và giảm tổng số khởi nghiệp mới. Mặc dù yếu tố thứ ba này dẫn
đến ít thất bại hơn trong kinh doanh vì ít ý tưởng tồi tệ hơn được thực hiện, nhưng nó
cũng dẫn đến các doanh nghiệp khởi nghiệp ít được thành lập hơn.
Các kết quả không đồng nhất về mối quan hệ giữa giáo dục đại học và tỷ lệ khởi nghiệp
không những thể hiện qua các nghiên cứu lý thuyết trước đây mà chúng còn được tìm
thấy trong thực tế, đặc biệt dành cho sinh viên tham gia các khóa học về kinh doanh và
lập kế hoạch kinh doanh, và những phát hiện này được nhân rộng ở nhiều quốc gia khác
phải nói đến quốc gia có tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ nhất trên thế giới trong vài chục
năm qua là Israel. Có lẽ vì thấy được tầm quan trọng của khởi nghiệp trong sự phát triển
kinh tế mà họ đã rèn luyện và giáo dục tinh thần khởi nghiệp cho trẻ em ngay từ khi còn
nhỏ. Tiếp theo, không thể không nhắc đến nước Mỹ, đất nước với những tập đoàn lớn
mạnh, hàng chục nhà bác học đạt giải Nobel, hàng trăm nhà tỷ phú, hàng nghìn nhà khoa
học thiên tài, chiếm lĩnh hầu hết những công nghệ hiện đại nhất thế giới. Vậy điều gì đã
tạo nên điều đó cho nước Mỹ? Có rất nhiều yếu tố, nhưng yếu tố quyết định là tinh thần
khởi nghiệp của người Mỹ. Ở Việt Nam hiện nay, môi trường khởi nghiệp được đánh giá
là còn non trẻ so với thế giới nhưng có nhiều tiềm năng để khơi dậy tinh thần khởi nghiệp
một cách mạnh mẽ. Theo đó, có hàng trăm Trường đại học, Viện – nơi được coi là trung
tâm của hệ sinh thái khởi nghiệp, đang hoạt động khắp cả nước và ngày càng nhân rộng.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là có thật sự kết quả giáo dục (vốn con người) sẽ có mối quan hệ
cùng chiều với tỷ lệ khởi nghiệp hay không?
Thấy được những khoảng trống lý thuyết cũng như tính thực tiễn của đề tài này trong giai
đoạn hiện nay, tôi đã quyết định thực hiện đề tài này nhằm kiểm tra thực nghiệm mối
quan hệ giữa tuyển sinh giáo dục đại học và tỷ lệ khởi nghiệp (sự hình thành các doanh
nghiệp mới) trên khắp các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tôi cố gắng làm
rõ vấn đề này bằng cách xem xét mối quan hệ giữa vốn con người và tinh thần khởi
nghiệp dưới ảnh hưởng của các mức độ phát triển tài chính khác nhau. Đặc biệt ở nước
ta, khi xu hướng khởi nghiệp đang bắt đầu lan tỏa mạnh mẽ và Chính phủ cũng đã quyết
định chọn năm 2016 là năm khởi đầu cho năm năm quốc gia khởi nghiệp sắp tới, cho
thấy các nhà chính sách cũng đã nhận ra tầm quan trọng của khởi nghiệp và đổi mới lên
4
sự tăng trưởng của quốc gia, tuy nhiên lại chưa có nghiên cứu nào về đề tài này cho thực
tế Việt Nam. Do đó, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn
con người và khởi nghiệp dưới ảnh hưởng của mức độ phát triển tài chính ở Việt Nam
và một số quốc gia khác”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Phương pháp, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu này trình bày phân tích thực nghiệm mối quan hệ ba yếu tố: hoạt động
khởi nghiệp, vốn con người và phát triển tài chính ở 43 quốc gia trên khắp thế giới trong
đó có Việt Nam. Tôi sử dụng dữ liệu bảng cho các quốc gia đó trong giai đoạn từ 2001
đến 2015. Đồng thời tôi sử dụng phương pháp ước lượng GMM hệ thống để ước lượng
dữ liệu bảng động xuyên quốc gia để khắc phục triệt để hiện tượng nội sinh (nếu có).
Ngoài ra tôi đã thực hiện các kiểm định liên quan như kiểm tra hiện tượng nội sinh bằng
kiểm định kiểm tra tự tương quan bằng kiểm định Wooldridge và kiểm định đa cộng
tuyến để xác định những “khuyết tật” có thể có của mô hình GMM để đảm bảo tính vững
chắc của nghiên cứu. Thậm chí ngay cả trong điều kiện giả thiết nội sinh bị vi phạm,
phương pháp GMM hệ thống vẫn cho ra các hệ số ước lượng vững, không chệch và hiệu
quả nên tôi đã chọn phương pháp này.
1.4 Bố cục bài nghiên cứu
Để phục vụ cho việc tra cứu của độc giả, giúp độc giả có thể nắm tổng quan bài nghiên
cứu một cách dễ dàng, tôi đưa ra các danh mục tra cứu như mục lục và các danh mục
bảng biểu, danh mục từ viết tắt, danh mục biểu đồ. Sau đó tôi mô tả một cái nhìn tổng
quát cho toàn bài nghiên cứu bằng những giới thiệu tổng quan trong phần tóm tắt.
Công trình nghiên cứu của tôi được chia thành năm chương. Trong chương một, tôi nêu
lên lý do thực hiện và mục tiêu nghiên cứu của đề tài này, tiếp sau đó tôi giới thiệu tổng
quan về phương pháp nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu của bài. Ở
chương 2, tôi sẽ trình bày những khung lý thuyết liên quan đến hoạt động khởi nghiệp,
vốn con người, và phát triển tài chính, cùng với đó là những bằng chứng thực nghiệm từ
các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế học đi trước, những bằng chứng thực
nghiệm đã khẳng định vai trò của tinh thần khởi nghiệp trong quá trình đổi mới và tăng
trưởng kinh tế. Đến chương 3, tôi trình bày chi tiết về phương pháp ước lượng và các mô
hình thực nghiệm. Trong đó, tôi mô tả cụ thể hơn về phương pháp ước lượng mà tôi sử
dụng trong bài, sau đó tôi đưa ra mô hình thực nghiệm cho công trình của mình dựa trên
6
kinh tế, ông cho rằng: Nguồn vốn có thể tăng lên trong quá trình đầu tư nhưng đất đai thì
hữu hạn và sự gia tăng dân số luôn cao hơn sự tăng trưởng kinh tế do đó phần lớn dân số
chỉ có mức thu nhập vừa đủ. Nhìn trên phương diện này, ông nhận xét rằng khởi nghiệp
sẽ không làm gia tăng nhanh của cải, hay nói cách khác, khởi nghiệp và sáng tạo đổi mới
không phải là yếu tố chủ yếu trong sự tăng trưởng.
Hai ý kiến về vấn đề khởi nghiệp và tăng trưởng kinh tế trên là những khái niệm cơ bản
và giản đơn nhất. Smith kết luận rằng sự tăng trưởng kinh tế có một tiềm năng không giới
hạn, còn Ricardo cho rằng tiềm năng đó không thể vô hạn mà bị hạn chế bởi những hữu
hạn trong các yếu tố, các nguồn lực cấu thành nên sự tăng trưởng. Ta thấy rằng, Adam
Smith khi xem xét về sự tăng trưởng kinh tế đã có tầm nhìn rộng hơn Ricardo. Nhưng các
nghiên cứu kinh tế lại có vẻ gần gũi với tư tưởng của Ricardo hơn khi nhắc đến vấn đề
tăng trưởng kinh tế. Lý do là khi thiết lập các mô hình kinh tế, cách tiếp cận của Ricardo
8
có tính ứng dụng tốt hơn vì quá trình mô hình hóa các hiện tượng kinh tế đòi hỏi mô hình
phải tính toán và so sánh được, trong khi yếu tố “đổi mới sáng tạo” của Adam Smith lại
rất khó đưa vào các mô hình kinh tế một cách chính xác.
Trong hàm sản lượng của Ricardo, nguồn vốn (vốn đầu tư) là yếu tố chính của quá trình
tăng trưởng kinh tế, còn theo Adam Smith, sự đổi mới sáng tạo mới là chìa khóa của tăng
trưởng kinh tế, nhưng quá trình đổi mới sáng tạo diễn ra như thế nào thì không được ông
giải thích. Về sau này, nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu và thảo luận vấn đề này, nhà kinh
tế học Kirzner cũng theo trường phái của Smith về tăng trưởng kinh tế khi ông chỉ đưa ra
quan điểm rằng: Động lực của tinh thần khởi nghiệp chính là “cơ hội sinh lời chưa được
phát hiện từ trước”. Theo quan điểm đó, khởi nghiệp chính là động lực thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, giống phát biểu của Smith. Theo Kirzner, tri thức khởi nghiệp là việc
nhận ra cơ hội kiếm lời mà từ trước đến giờ không ai chú ý đến. Nhà khởi nghiệp thực
hiện những ý tưởng tạo ra một năng suất cao hơn, sự thỏa mãn nhu cầu lớn hơn với mức
chi phí thấp hơn. Nhà kinh tế học Schumpeter phân tích một bối cảnh mà điểm cân bằng
cạnh tranh làm tối thiểu hóa lợi nhuận, và một bối cảnh trong đó lợi nhuận chính là phần
Tiếp đến là mô hình tăng trưởng của Harrod-Domar, một mô hình dựa vào lý thuyết
trong trường phái Keynes. Vào năm 1929-1933 thế giới phải đối mặt với cuộc đại khủng
hoảng kinh tế thừa do các nước tư bản chạy theo lợi nhuận, sản xuất hàng hóa ồ ạt, trong
khi sức mua giảm sút vì người dân đang còn nghèo. Đến đây thì mô hình tăng trưởng cổ
điển tỏ ra bất lực khi giải thích hiện tượng kinh tế này. Bên cạnh đó, một sự xuất hiện của
các thành tựu về khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, kỹ
thuật thâm canh, và đặc biệt là máy kéo đã giúp cho sản lượng trong ngành nông nghiệp
tăng lên nhanh chóng và tuy bị giới hạn bởi nguồn đất đai “hữu hạn” nhưng sản lượng
thực phẩm cung cấp cho mọi người vẫn đầy đủ. Và điều này đã khiến các nhà nghiên cứu
có một cái nhìn rộng hơn trong tăng trưởng kinh tế. Phương trình của mô hình này có thể
được mô tả như sau:
Y = K/v hay Y = 1/v x K
(2-2)
Trong đó, v là một hằng số. Nguồn vốn (K) trong phương trình được nhân cho 1 số cố
định (1/v) để tính tổng sản lượng. Vậy v có ý nghĩa gì? Các nhà kinh tế thường gọi v là tỷ
số vốn tăng thêm trên sản lượng, hay v chính là tỷ số ICOR, cho biết cần bỏ thêm bao
nhiêu đơn vị trong nguồn vốn để tạo ra thêm một đơn vị sản lượng. Và tỷ số này giúp
chúng ta đo lường năng suất của mỗi lượng vốn được đưa vào sản xuất.
Mô hình Harrod Domar đã mở rộng hơn mô hình cổ điển nhưng vẫn mang một sự đơn
giản, phương trình dễ dàng sử dụng và ước lượng. Mô hình còn nhận xét rằng, các quyết
10
định cá nhân về việc tiết kiệm bao nhiêu và tiêu dùng bao nhiêu từ thu nhập là trọng tâm
của quá trình tăng trưởng. Người ta thích tiêu dùng ngay bây giờ hơn là mai sau, nhưng
càng tiêu dùng nhiều, thì càng có ít tiết kiệm để tài trợ đầu tư, vì thế mô hình đã tập trung
vào vai trò cốt lõi của tiết kiệm trong tăng trưởng kinh tế theo thời gian. Nhưng phải
chăng mô hình Harrod Domar quá chú trọng vào tiết kiệm? Nếu xét đến các điều kiện của
11
một trạng thái dừng ổn định trong trường hợp không có thay đổi công nghệ ngoại sinh.
Quả thật, tiến bộ công nghệ đã trở thành một nhân tố chính đằng sau sự tăng trưởng kinh
tế, mô hình cho thấy việc tiếp thu công nghệ mới thông qua phát minh trong nước hay
nhập khẩu công nghệ mới từ nước ngoài, có thể kích thích tăng trưởng kinh tế vô
cùng mạnh mẽ. Tuy nhiên, những dự đoán của mô hình có phần không phù hợp với các
quan sát trong thực tế, đặc biệt khi cho rằng tất cả các phần không giải thích được của
tăng trưởng kinh tế là do các cú sốc công nghệ ngoại sinh.
Mô hình tân cổ điển Solow chúng ta vừa đề cập ở phía trên đã mô tả được những đặc
điểm chủ yếu của một mô hình kinh tế mang tính thực tế ở các nước phát triển. Mô hình
Solow có thể được gọi là cơ sở trong hầu hết các nghiên cứu thuộc kinh tế vĩ mô ở các
nước phát triển. Tuy nhiên, mô hình Solow chưa giải thích đầy đủ những thực tế trong
tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Ở môi hình Solow, ngoài
nguồn vốn (K) ra thì yếu tố quyết định sản lượng là hiệu suất của nguồn lao động (TxL)
nhưng nguồn lao động có ý nghĩa như thế nào thì mô hình chưa làm rõ.
Vậy làm sao để thấy được sự khác biệt giữa hai quan điểm về tăng trưởng của Smith và
Ricardo? Trong bối cảnh của kinh tế học đương đại, một phương pháp có thể áp dụng để
trả lời câu hỏi này đó chính là mô hình tăng trưởng Solow (1956). Theo mô hình này, Y
là sản lượng, K và L lần lượt là nguồn vốn và lao động, t là thời gian và hàm sản lượng là
một hàm gồm sự kết hợp của các yếu tố trên.
Y = f(K, L, t)
Giải thích cho sự có mặt của thời gian trong hàm sản lượng này, Solow cho rằng: Theo
thời gian, đổi mới công nghệ sẽ xảy ra tạo ra một hiệu suất sử dụng nguồn vốn và lao
động cao hơn. Ta thấy rằng, để xây dựng mối quan hệ giữa các yếu tố sản lượng, nguồn
vốn và nguồn lao động trong mô hình thì không khó nhưng để đưa vào mô hình sự ảnh
hưởng của thời gian thì không phải việc đơn giản, chính vì thế người ta thường xem thời
gian là một biến ngoại sinh. Bên cạnh đó, lao động (L) cũng thường được xem là một
biến ngoại sinh và nếu ta phân tích về thu nhập đầu người thì ta sẽ chia hàm số cho lao
động (L) để chỉ còn lại nguồn vốn (K) và biến ngoại sinh thời gian (t) lúc này sẽ giúp ta
giải thích được sự tăng trưởng. Ở dạng hàm tổng quát trên, khi chia hàm số cho lao động
một kết quả của việc gia tăng lợi nhuận, ông cũng bước theo nền tảng của Smith trong
nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, việc tập trung vào lợi nhuận lại không
được quan tâm nhiều trong các mô hình kinh tế tân cổ điển (neo-classical). Paul Romer là
một trong những nhà kinh tế vạch ra hướng đi cho hệ thống lý thuyết tân cổ điển. Trong
bài nghiên cứu của ông, Romer (1986), yếu tố gia tăng lợi nhuận có thể được xem xét
13
trong mô hình và điều này gần gũi với thực tế hơn mô hình đơn giản của Solow. Tiếp sau
đó, công trình của ông năm 1990 (Romer (1990)) đã đề cập đến yếu tố nguồn nhân lực và
đưa ra nhận xét rằng mức chi tiêu trong R&D có thể là động lực làm tăng trưởng kinh tế.
Theo những phương pháp trong lý thuyết tân cổ điển, cách tạo ra tiến bộ khoa học công
nghệ chính là sự đổi mới. Sự đổi mới đem đến những phát minh, những công nghệ mới.
Và chi tiêu cho R&D cùng với sự kết hợp các nguồn lực khác như nguồn vốn và lao động
sẽ tạo nên sự tiến bộ khoa học công nghệ. Chính vì thế, ta có thể thấy được những thành
công từ việc đầu từ vào R&D, nhưng việc chi tiêu vào R&D chưa phải là điểm kết thúc
của câu chuyện tăng trưởng. Vì khi các kết quả từ hoạt động R&D (nghiên cứu và phát
triển) hoàn tất, những phát minh đó phải được thiết lập chiến lược để đưa vào thực tế, tạo
ra một sự đổi mới, giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành,… hay nói cách khác, các phát
minh khi ứng dụng vào thực tế phải sản xuất được các sản phẩm chưa từng được tung ra
thị trường, đó là một sự đổi mới thật sự.
Trong bài nghiên cứu năm 1973 của Kirzer, Kirzer (1973), ông đã đưa ra khái niệm thế
nào là nhà khởi nghiệp: “Nhà khởi nghiệp là những người có đủ khả năng nhạy bén để
phát hiện được các cơ hội sinh lời mà trước đó chưa có ai phát hiện ra, sau đó họ tận
dụng cơ hội này để tạo ra sự đổi mới”. Qua đó ta thấy, việc khởi nghiệp phụ thuộc vào
khả năng phát hiện và chú ý đến những cơ hội khó nhận ra, thứ mà ít người có thể nhận
ra. Sự nhạy bén trong khởi nghiệp không hẳn là có liên quan đến tri thức, tất cả mọi
người đều có tiềm năng và những kiến thức cụ thể của mình để nhận ra và nắm bắt một
cơ hội khởi nghiệp nào đó. Nhưng tùy vào kiến thức chuyên môn của mỗi người mà cơ
hội của mỗi người đều rất khác nhau. Ví dụ: Thật không có gì ngạc nhiên khi những phát
Schultz quan sát thấy rằng sự gia tăng sản lượng quốc gia là không tương xứng so với đất
đai, giờ lao động, hoặc vốn vật chất, và lập luận đầu tư vào vốn con người có lẽ là lời giải
thích chính. Becker xây dựng trên những quan điểm này và đưa ra lý thuyết đầu tư vào
vốn con người dựa trên số lượng bằng chứng khổng lồ cho thấy những người có trình độ
học vấn và kỹ năng cao hơn hầu như luôn có xu hướng kiếm được nhiều tiền hơn những
người khác.
Lý thuyết này ngày càng được áp dụng trong lĩnh vực khởi nghiệp, liên tục liên kết các
thuộc tính vốn con người với thành công của doanh nhân (Unger, Rauch, Frese, &
Rosenbusch, 2011). Một số lập luận khác mô tả lý do tại sao vốn con người, hoặc kiến
thức có tầm quan trọng đặc biệt đối với lĩnh vực kinh doanh (Ardichvili, Cardozo, & Ray,
15
2003; Shane, 2000). Đầu tiên, vốn con người rất quan trọng để khám phá và tạo ra cơ hội
kinh doanh (Alvarez & Barney, 2007; Marvel, 2013). Vốn con người cũng hỗ trợ khai
thác các cơ hội bằng cách tìm được các nguồn tài chính tung ra các dự án (Bruns,
Holland, Shepherd & Wiklund, 2008; Dimov, 2010). Thứ ba, vốn con người hỗ trợ tích
lũy kiến thức mới và tạo ra lợi thế cho các công ty mới (Bradley, McMullen, Artz, &
Simiyu, 2012; Corbett, Neck & DeTienne, 2007). Trong nghiên cứu thực tế, vốn con
người là tiêu chí lựa chọn được sử dụng thường xuyên nhất trong các dự án đầu tư mạo
hiểm khi đánh giá hiệu quả tiềm năng của dự án (Zacharakis & Meyer, 2000). Ngoài ra,
nghiên cứu về vốn con người và lợi nhuận công ty có thể được tìm thấy trong công trình
của Unger et al. (2011) và nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp; tài sản, hành vi và hiệu
quả vốn con người được tìm thấy trong một bài viết của Martin, McNally và Kay (2013).
Mỗi nghiên cứu đều cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng vốn con người là rất quan
trọng để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp.
Thêm vào đó, để tiến hành đánh giá toàn diện, bài nghiên cứu: “Vốn con người và khởi
nghiệp” của Matthew R. Marvel, Justin L. Davis, Curtis R. Sproul (2014) đã thống kê lại
các nền tảng lý thuyết về vốn con người trong các bài nghiên cứu trước. Ngoài việc lấy lý
thuyết vốn con người làm trọng tâm thì các nghiên cứu khởi nghiệp còn tích hợp nhiều lý
Khởi nghiệp
31
22.1%
Vốn xã hội hoặc mạng lưới kết nối
25
17.9%
8
5.7%
140
100%
Kinh tế và tài chính
Tổng cộng
Theo Human Capital and Entrepreneurship Research, 2014
Bảng 2.1. Các lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu khởi nghiệp của con người tính
đến tháng 9/2014
Các lý thuyết từ chiến lược đã được áp dụng phổ biến nhất kết hợp với vốn con người
(30,3%), và các lý thuyết về nhận thức, học tập và tâm lý học cũng đã phổ biến (23,2%).
Các lý thuyết phổ biến thứ ba được kết hợp là từ khởi nghiệp (21,8%). Chúng bao gồm
các lý thuyết về khám phá cơ hội, sáng tạo, khai thác, ý định khởi nghiệp, khởi nghiệp