Một số phương pháp dạy kiểu bài đọc thêm trong chương trình ngữ văn THCS - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD & ĐT THỌ XUÂN





SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY KIỂU BÀI ĐỌC THÊM
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS

Người thực hiện: Nguyễn Thị Lành
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Xuân Sơn
Sáng kiến kinh nghiệm thuộc môn: Ngữ văn

THANH HÓA, NĂM 2018
1


MỤC LỤC
TT

Nội dung

Trang

1

1. PHẦN MỞ ĐẦU.


03

7

2.1. Cơ sở lí luận.

03

8

2.2. Thực trạng dạy học kiểu bài đọc thêm trong chương trình
Ngữ văn THCS.

04

9

2.3. Các giải pháp đã áp dụng để giải quyết vấn đề.

07

10 2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
13

3. PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

16
23


văn học nói chung và trong văn học cấp THCS nói riêng. Vì vậy việc cần thiết là
phải hướng cho học sinh nắm được toàn diện tác phẩm, có cái nhìn bao quát về
cả nội dung và nghệ thuật, từ đó hiểu và nắm được dụng ý mà tác phẩm muốn
truyền đạt đến người đọc. Mặt khác còn giáo dục tình cảm thẩm mĩ, biết tưởng
tượng, biết phân biệt đẹp - xấu, thiện - ác và hình thành nhân cách.
Văn bản Hướng dẫn đọc thêm trong chương trình Ngữ văn THCS chiếm
một số lượng khá nhiều. Do đó việc dạy bài Hướng dẫn đọc thêm là vô cùng cần
thiết. Thế nhưng qua thực tế giảng dạy cũng như qua dự giờ đồng nghiệp, tôi
nhận thấy giáo viên khi dạy các tiết học này vẫn không khỏi lúng túng trong việc
thiết kế giáo án và phương pháp lên lớp. Bên cạnh đó tôi cũng tham khảo đồng
nghiệp thì có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau. Có người cho là không cần
thiết lắm để thời gian dạy kỹ hơn các tác phẩm chính. Lại có ý kiến cho rằng dạy
các bài đọc thêm chủ yếu cho học sinh đọc, tóm tắt nội dung là đủ. Cũng có
những ý kiến hoặc một số giáo án tham khảo tôi thấy soạn giống như một tiết
học văn bình thường vẫn soạn. Còn các em học sinh, khi giáo viên yêu cầu
chuẩn bị bài đọc thêm việc các em thường làm là đọc tác phẩm, không tìm hiểu
sâu tác phẩm. Do đó hiệu quả đạt được trong các tiết dạy bài Hướng dẫn đọc
thêm chưa cao.
Vậy phương pháp dạy kiểu bài đọc thêm như thế nào để rèn được kỹ năng
đọc - hiểu cho các em học sinh, vừa đảm bảo các em nắm được toàn bộ kiến
thức về cả mặt nội dung và nghệ thuật một cách cơ bản nhất, vừa tạo được tinh
thần của giờ học với không khí nhẹ nhàng, hứng thú đó chính là lí do mà tôi đã
chọn nghiên cứu đề tài: “Một số phương pháp dạy kiểu bài đọc thêm trong
chương trình Ngữ văn THCS”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Với bản thân tôi khi thực hiện nghiên cứu đề tài “Một số phương pháp
dạy kiểu bài đọc thêm trong chương trình Ngữ văn THCS” chính là để giúp giáo
viên định hướng dạy tiết đọc thêm phù hợp với chương trình giảm tải từ đó
giảng dạy tốt hơn đối với các văn bản Hướng dẫn đọc thêm. Đồng thời thực hiện
3

"Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học, bồi dưỡng lòng say mê học tập và ý chí vươn lên " .
Điều này rất đúng trong dạy học môn Ngữ văn hiện nay nhất là Ngữ văn
THCS. Môn Ngữ văn nói chung và Ngữ văn THCS nói riêng có tầm quan trọng
trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh, nó còn thể hiện
rõ mối quan hệ với các môn học. Cũng như các bộ môn khoa học khác Ngữ văn
có vai trò rất quan trọng trong đời sống và phát triển tư duy của con người.
Trong chương trình Ngữ văn THCS bên cạnh hệ thống các văn bản học
chính thức thì loại văn bản Hướng dẫn đọc thêm cũng góp phần làm giàu kiến
thức cho học sinh. Nó còn có một vị trí quan trọng trong việc rèn luyện kỹ năng,
phương pháp tự học, tự nghiên cứu một văn bản văn chương cho học sinh góp
phần hình thành cho các em một "văn hóa đọc" đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi
mới dạy học văn.
Theo lí luận văn học đọc - hiểu là hoạt động trung tâm của hoạt động dạyhọc Ngữ văn đổi mới. Bản chất của đọc - hiểu là tìm hiểu phân tích để chiếm
lĩnh văn bản bằng nhiều biện pháp và hình thức dạy học, trong đó biện pháp dạy
học được thực hiện bằng hình thức đối thoại, thảo luận thông qua hệ thống câu
hỏi tích hợp chọn lọc là hình thức dạy học chủ đạo trong một giờ “Hướng dẫn
đọc thêm văn bản”.
Văn bản đọc thêm nói chung có một tác dụng lớn trong giờ học Ngữ văn,
giúp cho việc phân tích thơ văn trở nên sống động có tính truyền cảm, giúp cho
giáo viên cũng như các em học sinh có được niềm vui trong lao động sáng tạo.
Giờ đọc thêm còn có tác dụng giáo dục thẩm mĩ, làm cho các em thêm yêu thích
văn học, nảy sinh ý muốn tìm đọc thêm các tác phẩm văn học nghệ thuật để
khám phá cái hay, cái đẹp, cái ý nghĩa của cuộc sống mà các tác phẩm mang lại.
Xuất phát từ cơ sở đó, việc hướng dẫn đọc tác phẩm không chỉ diễn ra ở các tiết
học đọc - hiểu văn bản chính thức mà còn được chú trọng trong các tiết học
Hướng dẫn đọc thêm của chương trình Ngữ văn THCS. Vậy cần dạy kiểu bài
đọc thêm như thế nào để đạt hiệu quả, để rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu cho các
em học sinh đòi hỏi mỗi giáo viên phải tìm ra phương pháp riêng cho mình.
Chính vì vậy để học sinh nắm được nội dung, nghệ thuật, tư tưởng, tình

49
Lợn cưới, áo mới
Lớp 6
58
Con hổ có nghĩa
62
Mẹ hiền dạy con
99
Mưa
113
Lòng yêu nước
114
Lao xao
120
Cầu Long Biên chứng nhân lịch sử
135
Động Phong Nha
22
Côn Sơn ca
23
Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra
26
Sau phút chia li
35
Xa ngắm thác núi Lư
42
Lớp 7
Bài ca nhà tranh bị gió thu phá
63
Sài Gòn tôi yêu

thức có liên quan đến văn bản đọc thêm, chưa nắm được đặc điểm của kiểu bài
6


đọc thêm. Đặc biệt nhiều em còn chưa xác định được vai trò của những tác
phẩm này trong phần văn học. Chưa thấy được giá trị, ý nghĩa cần thiết của các
văn bản trong việc góp phần định hướng tốt hơn khi học các văn bản chính cùng
thể loại. Chính vì vậy mà các em bị hổng kiến thức, kiến thức còn hạn chế. Một
số em khó tiếp thu một văn bản chứa đựng nhiều ý nghĩa, nhiều triết lí như :
Con hổ có nghĩa (lớp 6), Bài ca nhà tranh bị gió thu phá (lớp 7), Hai chữ nước
nhà (lớp 8), Bến quê (lớp 9)...
Năm 2016 – 2017 khi dự giờ đồng nghiệp dạy kiểu bài đọc thêm ở lớp 6A
tiết 35 bài Ông lão đánh cá và con cá vàng đây là một văn bản thuộc thể loại
truyện cổ tích, thể loại này không còn xa lạ với các em vì các em đã được tìm
hiểu ở bài Thạch Sanh, Em bé thông minh và Cây bút thần. Tuy nhiên giáo viên
cũng chưa định hình rõ sự khác biệt giữa dạy một tiết đọc thêm với một tiết văn
bản chính thức nên tiết dạy giống như tiết tìm hiểu một tác phẩm mới, còn nặng
kiến thức, chưa thể hiện được sự giảm tải làm cho học sinh mệt mỏi mà hiệu quả
giờ học lại không cao. Còn học sinh chuẩn bị bài cũng chưa kỹ nên khi giáo viên
hỏi những chi tiết đơn giản trong văn bản thì một số em chưa trả lời được như:
- Qua hành động và lời nói với cá vàng em thấy ông lão là người như thế
nào?
- Mụ vợ thuộc tầng lớp nào trong xã hội Nga ?
Tôi có khảo sát kết quả nhận thức của các em qua câu hỏi:
- Khi học xong bài Ông lão đánh cá và con cá vàng em rút ra được bài
học gì? Tôi thu được kết quả ở lớp 6A như sau:
Tỉ lệ trả lời %
Số học sinh
Tốt
Khá

và học các văn bản chính, điều này cũng ảnh hưởng đến kết quả học tập môn
Ngữ văn. Nên kết quả khảo sát đầu năm không cao cụ thể:
Môn

Lớp

Giỏi

Khá

TB

Yếu

Kém

Tỷ lệ %

Tỷ lệ %

Tỷ lệ %

Tỷ lệ %

Tỷ lệ %
7


Ngữ
9B

hoặc chất vấn...
- Mặt khác từ khi phân phối chương trình có kiểu bài Hướng dẫn đọc thêm chưa
có một trường nào tổ chức chuyên đề về vấn đề này nên giáo viên chưa có điều
kiện học hỏi, tham gia góp ý và cùng nhau xây dựng cách dạy hợp lý cho kiểu
bài này.
Về phía học sinh:
- Qua khảo sát điều tra tôi nhận thấy học sinh có tâm lí coi nhẹ các bài đọc thêm,
không cần học nhiều, tìm hiểu nhiều. Cho nên rất nhiều em khi học xong chưa
nắm được những kiến thức trọng tâm nhất của bài học.
- Trong quá trình ôn tập các em chỉ để ý đến những tác phẩm chính vì nó liên
quan đến kiểm tra, thi cử (hầu hết các em quan niệm bài đọc thêm là bài học
không bắt buộc, giáo viên không kiểm tra, đánh giá và thi cử đến những tác
phẩm này).
- Khả năng nói trước tập thể còn hạn chế, chưa quen với cách học có hướng dẫn.
8


- Mặt khác, học sinh cho rằng các tác phẩm học chính đã quá nhiều, nên không
còn thời gian dành cho các tác phẩm đọc thêm.
Giờ học bài đọc thêm cũng chưa thực sự lôi cuốn được các em vì phần lớn
thường diễn ra đơn điệu, nhàm chán và tẻ nhạt. Do đó bài đọc thêm chưa phát
huy được hết tác dụng của nó trong việc cung cấp mở rộng kiến thức văn học,
rèn kỹ năng sống thông qua các văn bản văn học hiện đại và đặc biệt là nâng cao
khả năng đọc và tự học của học sinh.
Như vậy, thì việc dạy tiết Hướng dẫn đọc thêm quả là nan giải và chưa
thực sự có hiệu quả. Từ lí luận và thực tiễn trên tôi mạnh dạn nghiên cứu “Một
số phương pháp dạy kiểu bài đọc thêm trong chương trình Ngữ văn THCS”
nhằm khắc phục những hạn chế đã nêu trên, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và
học Văn trong nhà trường.
2.3. Những giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

Khẳng định cái ý chí gang thép: còn sống là còn chiến đấu vì thế mà
không sợ bất kì một khó khăn thử thách nào.
9


=> Bằng giọng điệu hào hùng có sức lôi cuốn mạnh mẽ, Vào nhà ngục
Quảng Đông cảm tác đã thể hiện phong thái ung dung, đường hoàng và khí
phách kiên cường, bất khuất vượt lên trên cảnh tù ngục khốc liệt của nhà chí sĩ
yêu nước Phan Bội Châu.
Tuy nhiên mỗi bài thơ, mỗi thể thơ có những đặc điểm khác nhau
nên không thể áp đặt máy móc các cách học cho tất cả các bài mà giáo viên cần
linh hoạt lựa chọn nội dung kiến thức cho phù hợp.
Tuỳ từng bài đọc - hiểu mà vận dụng cho hợp lí. Chỉ cần làm thế nào cho
học sinh "lắng nghe cho được nhịp điệu của cuộc sống nằm im trong chữ nghĩa,
để tim mình rung cảm trở lại cái rung cảm của tác giả, cũng vui buồn, yêu ghét,
thương nhớ, đồng cảm…, nâng mình lên xúc cảm với cái đẹp trong hình tượng
thơ văn; nghe nhạc mà thấy mùi hương, nghe tiếng động mà thấy tĩnh mịch,
thấy bóng đèn mà bóng tối hoá thâm u."( Lê Trí Viễn )
2.3.1.2. Hướng dẫn đọc thêm văn bản truyện.
Giáo viên cần định hướng những vấn đề sau:
- Phần giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm có thể cho học sinh tự tìm hiểu.
Giáo viên chỉ cần hỏi một đến hai nét đáng chú ý nhất trong cuộc đời, sự nghiệp
hay phong cách của nhà văn; vị trí của tác phẩm trong nền văn học (nếu chiếm
vị trí mở đường cho một trào lưu hay một vị trí cao trong dòng văn học đó).
- Với phần đọc văn bản: đối với những văn bản ngắn có thể cho đọc hết hoặc
một phần văn bản trên lớp còn lại học sinh tự đọc ở nhà. Đối với văn bản dài
giáo viên cho học sinh tóm tắt lại truyện không nhất thiết phải đọc.
- Tìm hiểu về kết cấu văn bản, tình huống truyện (nếu có).
- Tìm hiểu sự kiện - nhân vật ( nhân vật chính, nhân vật phụ ).
+ Phân tích các chi tiết về hành vi, lời nói của nhân vật dựa trên các câu hỏi

tạo không khí hứng thú sôi nổi (nhất là đối với các văn bản truyện dân gian ở lớp
6).
Ví dụ:
- Khi dạy bài “Sự tích Hồ Gươm” (Lớp 6) thuộc thể loại truyện truyền
thuyết, giáo viên có thể chuẩn bị các tranh về truyện truyền thuyết “Thánh
Gióng”, “Sơn Tinh Thủy Tinh”, “Em bé thông minh” để học sinh đoán nội
dung, tên truyện. Giáo viên cũng có thể chuẩn bị trước hình ảnh liên quan đến
nội dung câu chuyện “Sự tích Hồ Gươm” để học sinh dự đoán trước tên truyện
hoặc nội dung truyện.
Một số tranh minh họa cho các văn bản:

Bánh chưng bánh giày
Sơn Tinh Thủy Tinh
Thánh Gióng
- Khi dạy bài “Lao xao”(Duy Khán) giáo viên có thể kiểm tra bài cũ của
học sinh dưới hình thức trả lời một vài câu hỏi trắc nghiệm liên quan đến văn
bản "Lòng yêu nước”(I. Ê-ren-bua) như:
1. Văn bản Lòng yêu nước được ra đời trong bối cảnh nào?
A. Cách mạng tháng Mười Nga.
B. Chiến tranh thế giới thứ nhất.
C. Chiến tranh chống đế quốc Mĩ.
D. Chiến tranh chống phát xít Đức.
2. Văn bản Lòng yêu nước thuộc thể loại gì?
A. Thơ.
B. Truyện ngắn.
C. Kí.
D. Tiểu thuyết.
Giáo viên linh hoạt không kiểm tra bài cũ, mà sử dụng phương pháp
thuyết trình kết hợp với nêu vấn đề (hoặc kết hợp cả sử dụng tranh ảnh) để dẫn
dắt vào tiết đọc thêm một cách thật ấn tượng, ngắn gọn.

3. Chọn các từ cho sau đây: đau khổ, độ lượng, tái hiện, loạn li, nhân đạo, vị
tha, bao dung điền vào chỗ trống để hoàn thành câu nhận xét về bài thơ Bài ca
nhà tranh bị gió thu phá ?
" Bài ca nhà tranh bị gió thu phá" của Đỗ Phủ đã .......... bức tranh sinh
động về cảnh ngộ ......... của bản thân nhà thơ trong cảnh ........... Nhưng điều
đáng quý nhất là vượt lên trên cảnh ngộ cá nhân, bài thơ đã bộc lộ tinh
thần ....... và lòng ....... cao cả.
- Bên cạnh đó giáo viên sử dụng phương pháp giao nhiệm vụ để học sinh
về nhà thực hiện.
Sử dụng các phương pháp này với mục đích: kiểm tra năng lực tự học của
học sinh; kiểm tra khả năng độc lập giải quyết vấn đề của học sinh; kiểm tra khả
năng trình bày hiểu biết về vấn đề mà giáo viên đưa ra.
2.3.2.3. Phần đọc - hiểu văn bản.
a. Đọc - hiểu chú thích.
* Phần đọc:
Giáo viên tổ chức học sinh đọc phân vai với những văn bản nhiều nhân
vật.
Ví dụ: Văn bản “ Quan Âm Thị Kính”,“Ông lão đánh cá và con cá vàng”.
Giáo viên cho nghe đọc mẫu (giáo viên đọc hoặc sử dụng clip đọc mẫu),
hướng dẫn học sinh đọc một đoạn đối với văn bản dài hoặc không đọc mà tóm
tắt nội dung, cốt truyện.
Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt văn bản (đối với phần truyện). Có
ba cách làm như sau: Trò chơi “nhanh tay, nhanh mắt” (các sự việc này do giáo
12


viên chuẩn bị trước), hoặc tiếp sức mỗi người tóm tắt sự việc chính của một
đoạn, tóm tắt theo tranh ...
Ví dụ: Khi dạy bài “Con Rồng Cháu Tiên”, giáo viên có thể thiết kế sự
việc như sau:

Hãy nối nội dung ở cột A với nội dung ở cột B để được một nhận định đúng?
A

B

Phần 1

Suy nghĩ và triết lí về ý nghĩa lời ru

Phần 2

Hình ảnh con cò đến với tuổi thơ qua lời
ru của mẹ
Hình ảnh con cò đi vào tiềm thức và gắn
bó với con qua từng chặng đường đời.

Phần 3

13


2.3.2. 4. Phân tích.
Giáo viên có thể sử dụng các phương pháp sau:
* Phương pháp thảo luận nhóm: Tổ chức học sinh thảo luận nhóm (nên chia
nhóm nhỏ từ 2 đến 6 học sinh /nhóm) theo định hướng trong phiếu học tập do
giáo viên chuẩn bị.
Ví dụ khi dạy tiết 112, văn bản: Con cò (Lớp 9) giáo viên chia lớp thành
ba nhóm với các câu hỏi:
Nhóm 1: Tìm hiểu hình ảnh con cò trong đoạn 1
- Nhận xét về cách vận dụng ca dao và sử dụng nghệ thuật của Chế Lan Viên

1

P

H

A

2
3

T

R

4



I

C

H

S

À

O


U



N

G

Đ

Ô

N

G

H

I

Ê

N

N

G

A


8

B



5

7

N

N

G



C

I

G

B



A


Y

À

I

C

A

Y

Ê

U

N

Ư Ớ

C

H

Ư

Hàng ngang thứ 1 (gồm 11 chữ cái):
Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác do ai sáng tác?
Hàng ngang thứ 2 (gồm 6 chữ cái):

- Hãy nêu lên những vẻ đẹp khác nhau của thác đã được Lí Bạch phát hiện
và miêu tả trong ba câu tiếp theo?
- Nhận xét bút pháp miêu tả của tác giả ( Gợi ý: phân tích sự thành công
của tác giả trong việc sử dụng từ quải, phi, nghi, sử dụng phép so sánh, phóng
đại,...)
- Qua tìm hiểu, hãy nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp thác núi Lư qua ba
câu thơ cuối?
Nhóm 3: Thảo luận nội dung 2 với câu hỏi sau:
- Qua đặc điểm cảnh vật được miêu tả, ta có thể thấy những nét gì trong
tính cách và tâm hồn nhà thơ?
- Qua đó em thấy tình cảm yêu quý thiên nhiên, đất nước của tác giả như
thế nào?
Vì bài này có hai nội dung cơ bản đó là: Vẻ đẹp của thác núi Lư và tâm
hồn của nhà thơ nên sẽ có hai nhóm cùng thảo luận những câu hỏi giống nhau.
Các nhóm trình bày bổ sung kiến thức cho nhau để cuối cùng giáo viên chốt
bằng sơ đồ tư duy sau:

2.3.2.5. Tổng kết, luyện tập, củng cố.
Giáo viên có thể sử dụng các hình thức sau:
Sử dụng phương pháp vấn đáp bằng câu hỏi trắc nghiệm.

16


Ví dụ khi tìm hiểu về nội dung của văn bản “Sài Gòn tôi yêu” (Lớp 7), giáo viên
có thể sử dụng câu hỏi trắc nghiệm nhanh như: Trong những nhận xét về nét
riêng của thiên nhiên và cuộc sống Sài Gòn nhận xét nào đúng, nhận xét nào sai
(Điền Đ vào ô nhận xét đúng, S vào ô nhận xét sai):
- Thời tiết trái chứng, đổi thay đột ngột.
- Nhiều hiện tượng thời tiết cùng có trong một ngày.

môn mà tôi phụ trách thay đổi rõ rệt. Điều đó càng thôi thúc tôi không ngừng cố
gắng, học hỏi, trau dồi, đổi mới phương pháp, cống hiến với nghề, với tình yêu
môn văn mà tôi đã chọn.
Việc áp dụng các phương pháp trên vào những giờ dạy Hướng dẫn đọc
thêm văn bản trong chương trình Ngữ văn 9 kỳ I và đã thu được kết quả như
sau:
Tỉ lệ học sinh nắm được nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa, tư tưởng mà văn
bản cung cấp:
Tỉ lệ trả lời %
Số học sinh
Tốt
Khá
Trung bình
Yếu
33
4 = 12,1% 10 = 30,3 % 13=39,5% 3 = 9,1%

Kém
0

Từ việc tiếp thu có hiệu quả các giờ Hướng dẫn đọc thêm văn bản cũng đã
góp phần nâng cao chất lượng học bộ môn.
Môn

Lớp

Giỏi

Khá


Tiếng Việt và Tập làm văn. Bởi hai phân môn này vẫn có những bài sử dụng ngữ
liệu ở các tiết đọc thêm. Chính vì vậy kết quả tổng kết học tập của học sinh kỳ I
là rất khả quan.
Như vậy các phương pháp đưa ra mang lại hiệu quả giảng dạy giúp học
sinh học tốt và yêu thích học môn Văn hơn. Còn giáo viên làm căn cứ để dạy
học tốt hơn.

18


GIÁO ÁN MINH HỌA
Ngày soạn:
Ngày dạy:
Tiết 112
Đọc thêm văn bản: CON CÒ
(Chế Lan Viên)
I. Mục tiêu cần đạt:
1. Kiến thức:
Học sinh cần:
- Cảm nhận được vẻ đẹp và ý nghĩa của hình tượng con cò trong bài thơ được
phát triển từ những câu ca dao để ngợi ca tình mẹ và những lời hát ru ngọt ngào.
- Thấy được tác dụng của việc vận dụng ca dao một cách sáng tạo trong thơ.
2. Kỹ năng:
Học sinh biết cách:
- Đọc – hiểu một văn bản thơ trữ tình.
- Cảm thụ những hình tượng thơ được sáng tạo bằng liên tưởng, tưởng tượng.
3. Thái độ :
- Giáo dục học sinh về lòng biết ơn cha mẹ và tình yêu đối với văn học.
II. Chuẩn bị:
- Giáo viên: Sách giáo khoa, Sách giáo viên, phiếu học tập, tư liệu liên quan đến

1. Tác giả:
? Giới thiệu vài nét về tác giả ?
Chú thích Sách giáo khoa.
- Học sinh trả lời.
2. Tác phẩm
? Tác phẩm được viết vào thời gian a. Hoàn cảnh sáng tác:
nào?
- Sáng tác 1962.
- Học sinh trả lời.
b. Đọc - hiểu chú thích
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc:
* Đọc
giọng thủ thỉ, tâm tình như lời ru.
- Giáo viên đọc mẫu sau đó gọi học
sinh đọc.
- Học sinh nghe, đọc bài.
- Giáo viên hướng dẫn các em tìm * Chú thích
hiểu từ khó trang 47.
- Học sinh chú ý.
? Bài thơ được viết theo thể thơ nào ? c. Thể thơ, bố cục:
- Tự do.
- Thể thơ: tự do, các câu thơ dài ngắn
không đều, theo mạch cảm xúc.
? Văn bản được chia làm mấy phần? - Bố cục: 3 phần
Nêu nội dung của từng phần?
20


- Học sinh trả lời: Ba phần tương
ứng với ba mục.

trình bày có sự nhận xét, bổ sung,
giáo viên kết luận và chốt ghi ý
chính trên bảng.
Nhóm 1:
? Nhận xét về cách vận dụng ca dao
và sử dụng nghệ thuật của Chế Lan
Viên đoạn thơ này?
? Hình ảnh con cò đến với tuổi thơ
bằng cách nào?

II. Phân tích.

1. Hình ảnh con cò trong đoạn 1.
- Vận dụng sáng tạo ca dao, sử dụng
điệp ngữ.
-> Con cò đến với tuổi thơ con qua âm
điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời du.
21


? Qua đó cho em thấy hình ảnh con
cò tượng trưng cho ai và về điều gì?
* Gợi ý trả lời:
1. Vận dụng sáng tạo ca dao, sử dụng
điệp ngữ.
2. Con cò đến với tuổi thơ con qua
âm điệu ngọt ngào, dịu dàng của lời
du.
3. Trong đoạn thơ qua ca dao con cò
không chỉ tượng trưng cho người mẹ,

=> Đó là tình mẫu tử che chở của mẹ
dành cho con.

2. Hình ảnh con cò trong đoạn 2.
- Nhịp ngắn, lặp cấu trúc.
-> Cánh cò trở thành bạn đồng hành của
con.
=> Mang ý nghĩa biểu tượng về lòng
mẹ.

3. Hình ảnh con cò trong đoạn 3.
- Con cò là biểu tượng cho tấm lòng
người mẹ luôn ở bên con.
-> Là quy luật tình cảm có ý nghĩa bền
vững, sâu sắc.

22


Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.
3. Là quy luật tình cảm người mẹ
luôn ở bên con, theo dõi từng bước
đi, chặng đường của con dù ở gần
hay xa. Đó là tình cảm có ý nghĩa
bền vững, sâu sắc.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tổng
kết giá trị nội dung và nghệ thuật qua
câu hỏi sau:
? Giọng điệu của bài thơ có gì đặc
sắc? Vai trò của nó trong việc thể

- Giáo viên chốt kiến thức và rút ra 3. Ghi nhớ:( Sách giáo khoa)
ghi nhớ (Sách giáo khoa), yêu cầu
học sinh đọc.
- Học sinh đọc.
IV. Luyện tập:
- Giáo viên tổ chức cho các nhóm
học tập chơi trò chơi: Sưu tầm 1 số
bài ca dao về con cò? Các nhóm sưu
tầm, thảo luận, nhóm nào tìm được
nhiều nhất sẽ chiến thắng, giáo viên
có thể cho điểm để khích lệ động
viên học sinh.
Sau đó giáo viên giới thiệu một số
bài ca dao như:
23


Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Chàng đi xa vợ xa con
Chàng đi đến tận nước non Cao Bằng
Chân đi nhưng dạ dùng dằng
Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con!
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non cùng người.
Hay thơ có liên quan như bài:
Thương vợ của Tú Xương......
4. Củng cố :
- Câu thơ nào trong bài em thích nhất? Vì sao?
- Giáo viên cho học sinh xem, nghe một số bài hát về cò, mẹ.

tới mọi mặt của đời sống con người, không gò bó vào mục đích giáo huấn thông
thường. Phương pháp dạy một văn bản đọc thêm có nhiều hình thức, đa dạng và
rất phong phú. Chính vì vậy mà đề tài được nghiên cứu với lý do là giúp dạy và
học hiệu quả hơn các văn bản đọc thêm nói riêng cũng như các văn bản khác nói
chung trong môn Ngữ văn. Đặc biệt là trong tình trạng hiện nay học sinh có biểu
hiện ngại học văn và yếu kém kiến thức môn Ngữ văn.
3.2. Kiến nghị:
* Đối với nhà trường và đồng nghiệp:
Trong tổ các đồng chí giáo viên nên đi dự nhiều tiết dạy học văn bản
Hướng dẫn đọc thêm để cùng nhau thảo luận và tìm ra biện pháp chung nhất để
nâng cao hiệu quả giờ dạy.
Mặt khác, giáo viên cũng phải kiên trì sưu tầm, chọn lọc tư liệu có giá trị
để cung cấp cho các em, đồng thời tìm cách hướng cho các em khả năng vận
dụng sáng tạo những tư liệu để biến thành cách diễn đạt riêng của bản thân mỗi
học sinh.
* Đối với Phòng giáo dục:
Tổ chức nhiều những hội thảo, chuyên đề trao đổi kinh nghiệm, đặc biệt
chuyên đề về cách giảng dạy các kiểu bài đọc thêm theo đặc trưng thể loại để
bàn luận tìm ra biện pháp tối ưu cho giờ giảng góp phần nâng cao chất lượng
dạy học môn Ngữ văn trong các trường THCS toàn huyện.
* Đối với Sở giáo dục và đào tạo:
Tổ chức nhiều hơn các buổi tập huấn để trao đổi kinh nghiệm giảng dạy
kiểu bài Hướng dẫn đọc thêm giữa các huyện trong tỉnh. Từ đó giáo viên có thể
học tập nhiều các phương pháp, hình thức để dạy tốt hơn kiểu bài này.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ của tôi trong việc giúp học sinh biết
cách học kiểu bài đọc thêm được bản thân rút ra trong quá trình dạy học. Với
những kinh nghiệm này, đã giúp cho tôi cũng như những đồng nghiệp dạy văn
trong nhà trường cải thiện được phần nào tình trạng chất lượng thấp và học sinh
chán học môn Ngữ văn. Đây là những kinh nghiệm nhỏ của tôi rất mong được
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status