BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG THI THU HIỀN
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
2
VINH - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG THI THU HIỀN
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRUYỆN CỔ TÍCH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
Chuyên ngành:
Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. Phan Huy Dũng
xung quanh các truyện cụ thể ấy đã đặt các giáo viên vào tình huống có vấn
đề khi phân tích, lý giải một số truyện cổ tích ở cả hai cấp học. Phải chăng
những cách hiểu ngược chiều của các nhà nghiên cứu về một số truyện cổ
tích đã được tuyển chọn để dạy và học có nguyên nhân từ phương pháp dạy
học thể loại này?
6
1.3. Việc vận dụng các cách phân tích thể loại truyện cổ tích để góp phần
giải quyết những băn khoăn, vướng mắc của nhiều người, mà trước hết là của
các em học sinh lớp 6 và lớp 10 khi đến với các truyện đang gây tranh cãi và
cần có lời lý giải thỏa đáng, có sức thuyết phục là việc làm bổ ích và thiết thực.
Với những lý do như vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Phương pháp dạy
học truyện cổ tích trong chương trình môn Ngữ văn ở trường trung học
phổ thông” để làm đề tài luận văn cao học.
2. Lịch sử vấn đề
Cùng với việc nghiên cứu truyện cổ tích như là một thể loại phổ biến
nhất, tiêu biểu nhất, có nhiều vấn đề đáng quan tâm nhất trong loại hình tự sự
dân gian, các nhà Folklore học trong và ngoài nước ta đã và đang đưa ra
những phương pháp phân tích thể loại này trong các cuốn giáo trình, các
chuyên luận, các sách chuyên khảo, các tài liệu hướng dẫn giảng dạy, bồi
dưỡng giáo viên thường xuyên và nhiều bài báo được lần lượt công bố từ
trước tới nay. Trong luận văn này, chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình
được nhiều người chú ý đã tập trung trình bày trực tiếp hoặc gián tiếp phương
pháp phân tích truyện cổ tích nói chung và các truyện cổ tích được tuyển chọn
trong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở và
trung học phổ thông nói riêng.
2.1. Một số công trình nghiên cứu đề cập phương pháp phân tích
truyện cổ tích nói chung
Hầu hết các nhà cổ tích học có tên tuổi ở nước ta như Nguyễn Đổng
đầu đến cuối ở phần giới thuyết chung về thể loại. Cũng có một vài cuốn giáo
trình, các tập bài giảng, các tác giả trực tiếp nêu ra phương pháp nghiên cứu,
học tập truyện cổ tích bằng những yêu cầu, những câu hỏi khá cụ thể. Chẳng
hạn trong cuốn Giáo trình văn học dân gian (dùng cho hệ đào tạo từ xa) do
Phạm Thu Yến (chủ biên), Lê Trường Phát, Nguyễn Bình Hà (đồng biên
8
soạn), ở bài “Truyện cổ tích”, các soạn giả đã dành hẳn một mục để trình bày
“phương pháp phân tích truyện cổ tích” [55, 88]. Trong mục này, có sáu vấn
đề cụ thể được nêu ra: 1. Dựa vào các đặc trưng của văn học dân gian và đặc
trưng thể loại truyện cổ tích để phân tích; 2. Đặt truyện và các chi tiết của
truyện vào kiểu truyện, môtíp chung của truyện cổ tích để cảm nhận và phân
tích; 3. Triệt để khai thác các yếu tố nghệ thuật (công thức nghệ thuật), yếu tố
kỳ ảo, cấu trúc tác phẩm…) để làm nổi bật nội dung và ý nghĩa truyện. Đặc
biệt làm rõ quan niệm nghệ thuật về con người trong đó; 4. Tìm hiểu các dấu
ấn văn hóa, các lớp lịch sử của tác phẩm để xem xét tác phẩm từ nhiều góc độ
khác nhau, trong quá trình phát triển của nó; 5. Không nên quan tâm nhiều
đến lời kể, chủ yếu là khai thác cốt truyện và môtíp cổ tích; 6. Có thể phân
tích một số truyện cổ tích tiêu biểu: Chử Đồng Tử, Sự tích trầu cau, Thạch
Sanh [55, 88]. Trong tập bài giảng Văn học dân gian Việt Nam (dùng cho hệ
đào tạo tín chỉ của Trường Đại học Vinh, lưu hành nội bộ), tác giả Hoàng
Minh Đạo và Nguyễn Thị Thanh Trâm cũng dành hẳn một mục để trình bày
“phương pháp phân tích truyện cổ tích” [9, 52].
Về chuyên luận, có một số cuốn đáng lưu ý bởi vì trong đó các tác giả
đã có sự quan tâm đáng kể đến phương pháp phân tích truyện cổ tích. Trước
hết, đó là cuốn Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện
Tấm Cám của Đinh Gia Khánh. Cuốn sách này đã sưu tập được hàng chục dị
bản về kiểu truyện Tấm Cám ở Việt Nam, đã hệ thống hóa được các kiểu
truyện mang số 510 theo hệ thống A - T của thế giới và đã có phần tiểu luận
nhà cổ tích học nổi tiếng trên thế giới và Việt Nam như V. Taprốp (Nga),
S. Thompson (Ấn Độ), Hirokoo Ikeda (Nhật Bản) và Nguyễn Đổng Chi, Đinh
Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh… (Việt Nam). Ở bài viết này, tác giả đánh giá một
cách thỏa đáng cách phân tích truyện cổ tích của Đinh Gia Khánh và Nguyễn
Đổng Chi với thái độ khen chê đúng mức: “Đứng về mặt phương pháp, công
10
trình nghiên cứu của Đinh Gia Khánh có khuynh hướng sử dụng nhiều những
nguyên tắc của khoa học nghiên cứu, khoa học thành văn. Còn trong công
trình của Nguyễn Đổng Chi, phương pháp sử học đã nhiều khi làm tác giả xa
rời bản chất của truyện cổ tích, nhất là về mối quan hệ của truyện cổ tích với
thực tại” [5, 374]. Riêng bài Về cái chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện
“Tấm Cám” là bài có liên quan trực tiếp tới một truyện cổ tích được tuyển
chọn trong sách giáo khoa Ngữ văn 6 trước đây và Ngữ văn 10 hiện hành,
chúng tôi sẽ đề cập các phần sau trong luận văn này. Các bài viết trong công
trình của Chu Xuân Diên không dừng lại ở phương pháp phân tích truyện cổ
tích mà còn nêu lên được những vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận, đúng
như tiêu đề của cuốn sách đó. Đây là công trình quan trọng và bổ ích cho
những ai quan tâm tới việc nhiệm vụ, giảng dạy truyện cổ tích.
Trước chuyên luận của Chu Xuân Diên, nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn
Đắc cho xuất bản cuốn Truyện kể dân gian đọc bằng TYPE và MOTIF. Nội
dung cuốn sách này tập trung trình bày hướng phân tích truyện kể dân gian
mà chủ yếu là truyện cổ tích bằng phương pháp đối sánh TYPE và MOTIF.
Trong đó đáng chú ý nhất là mục “Đọc lại truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á”
[10; 163 - 198]. Trong mục này, tác giả đề cập năm vấn đề: “Từ truyện
Kajong và Halek của người Chăm đến TYPE truyện Tấm Cám ở Đông Nam
Á; Mối giao lưu và tương tác văn hóa giữa các dân tộc ở Đông Nam Á qua
TYPE truyện kể Tấm Cám, những biến đổi của truyện Tấm Cám Việt Nam;
truyện Tấm Cám và sự đánh tráo thân phận con người và kể lại truyện này của
đã chỉ ra.
2.2. Một số công trình đề cập phương pháp phân tích truyện cổ tích trong
sách giáo khoa Ngữ văn ở trường trung học cơ sở và trung học phổ thông
Những công trình thuộc loại này bao gồm các cuốn sách, các tài liệu
bồi dưỡng giáo viên thường xuyên, hướng dẫn giảng dạy và các bài báo…
12
Các hướng phân tích truyện cổ tích trong sách giáo khoa môn Ngữ văn ở
trường phổ thông thường có sự thay đổi qua mỗi lần thay sách.
Trong cuốn Giảng văn văn học dân gian, Nguyễn Xuân Lạc đề xuất
cách phân tích bộ phận văn học này nói chung, truyện cổ tích nói riêng theo
quan điểm thi pháp học. Tác giả viết: “Theo quan điểm này, chúng ta sẽ
hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích tác phẩm văn học dân gian theo
phương pháp hệ thống, ở ba cấp độ sau đây:
- Cấp độ tác phẩm - hệ thống dị bản
- Cấp độ tác phẩm - hệ thống môtíp
- Cấp độ tác phẩm - hệ thống văn hóa dân gian [28, 129].
Cách phân tích này đã và đang được nhiều người đồng tình, vận dụng
bởi vì nó “đảm bảo tính khoa học” trong việc nhìn nhận, đánh giá các tác
phẩm văn học dân gian, trong đó có truyện cổ tích. Sau đó, việc vận dụng
thành tựu nhiệm vụ truyện cổ tích của V. Ja. Propp vào việc tiếp cận truyện cổ
tích thần kỳ Việt Nam của Đỗ Bình Trị đã được trình bày ở trên thực chất
cũng là sự tiếp nối hướng tiếp cận mà Nguyễn Xuân Lạc đã đề xuất.
Trong cuốn Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học
Xã hội, 2003, tác giả Nguyễn Xuân Đức đã dành hẳn một phần để viết về
Văn học dân gian trong nhà trường (phần thứ ba, từ 233 - 283). Theo tác
giả: “Cần có một cách tiếp cận thích hợp đối với văn học dân gian” [12, 283]
và “đến với những nguyên lý văn học từ văn học dân gian” [12, 291]. Trong
phần thứ nhất của cuốn sách này, có tới sáu bài trong đó tác giả chuyên bàn
tôi triển khai luận văn này, nhất là phần “Phương pháp dạy học cụ thể một số
thể loại văn học dân gian ở trường trung học phổ thông”. Trong mục này, thể
loại truyện cổ tích được trình bày từ trang 347 - 362. Trong truyện cổ tích có
bốn truyện được đề cập là Thạch Sanh, Sọ Dừa, Tấm Cám và Cây tre trăm
14
đốt. Cả bốn truyện đó hiện đang được dạy ở trường trung học cơ sở và trung
học phổ thông.
Về phương pháp giảng bình, có hai cuốn sách cần lưu ý. Đó là cuốn
Bình giảng truyện dân gian của Hoàng Tiến Tựu và cuốn Phân tích, bình
giảng tác phẩm văn học 10, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), Lê Trường Phát, Lã
Nhâm Thìn… Trong cả hai cuốn sách, các tác giả đã phân tích một số truyện
cổ tích được tuyển chọn trong sách giáo khoa môn Văn ở trường phổ thông
bằng sự cảm nhận với phương pháp giảng bình (chỉ xoáy vào một số điểm đặc
sắc trong từng truyện chứ không phân tích toàn bộ truyện đó).
Trong tập Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kỳ 3
(2004 - 2007) phần Ngữ văn (lưu hành nội bộ) do Viện Nghiên cứu Sư phạm
Hà Nội ấn hành năm 2006, ở “Chuyên đề 1” với tiêu đề Đổi mới nội dung và
phương pháp nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường
(tr.1 - 42), bà Phạm Thu Yến cũng nhấn mạnh phương pháp tiếp cận văn học
dân gian từ góc độ thi pháp thể loại, phương pháp nghiên cứu theo típ và
môtíp (trong truyện cổ); phương pháp tiếp cận theo chức năng và theo bối
cảnh diễn xướng. Đến chương 2, tác giả chuyên đề có đề cập hướng tiếp cận
truyện cổ tích trong chương trình Ngữ văn với các định hướng đã được trình
bày trong chương 1 và lấy truyện Chử Đồng Tử và truyện Làm theo lời vợ
dặn để minh họa cho các hướng tiếp cận đó. Tập tài liệu bồi dưỡng thường
xuyên này một lần nữa khẳng định phương pháp tiếp cận các tác phẩm văn
học dân gian nói chung, truyện cổ tích nói riêng theo đặc trưng thể loại như
trong công trình Phương pháp dạy học văn của Phan Trọng Luận và Trương
thi pháp học. Đối với truyện Tấm Cám, sách nâng cao lưu ý: a) Truyện cổ tích
thường lấy mâu thuẫn gia đình để thể hiện mâu thuẫn xã hội. Mâu thuẫn giữa
Tấm và mẹ con Cám thực chất là mâu thuẫn giữa lao động và bóc lột, thật thà
và gian trá, thiện và ác trong xã hội. Khi giảng, giáo viên cần lưu ý cho học
16
sinh điều đó; b) Nhân vật của truyện cổ tích thường mang tính đại diện, tiêu
biểu cho một loại người, một tầng lớp trong xã hội… Vì vậy, khi phân tích
cần tránh suy diễn về thái độ, tình cảm, cảm xúc của nhân vật [44, 97]. Còn
trong sách cơ bản, các soạn giả cũng lưu ý: “Trong quá trình phân tích tác
phẩm, giáo viên cần dẫn dắt học sinh theo sự phát triển của mâu thuẫn giữa
Tấm và mẹ con Cám, nghĩa là phải theo sát tiến trình phát triển của cốt
truyện…, không sa vào yếu tố từ ngữ khác vì sẽ vi phạm nguyên tắc chung
đối với việc phân tích các tác phẩm tự sự dân gian. Cần lưu ý: Với học sinh
trung học phổ thông, không nên dùng khái niệm môtíp mà chỉ nên dùng từ chi
tiết hoặc sự kiện [32, 89 - 90]. Đó vừa là những định hướng vừa là những lời
khuyên khá cụ thể đối với người thầy giáo khi dạy truyện Tấm Cám nói riêng
và truyện cổ tích nói chung. Tuy nhiên, lời khuyên trong “sách cơ bản” về
việc không nên dùng khái niệm môtíp có lẽ cần xem lại, lý do vì sao chúng tôi
sẽ nói rõ ở chương hai của luận văn này.
Tóm lại, điểm qua một số công trình nghiên cứu và hướng dẫn giảng
dạy truyện cổ tích ở nước ta từ trước đến nay, chúng ta đã có thể thấy rõ:
phương pháp phân tích thể loại này đã và đang được giới nghiên cứu quan
tâm và đã thu được những kết quả đáng kể. Trong đó nổi lên là cách phân tích
bằng phương pháp so sánh (chủ yếu là so sánh loại hình, phương pháp xen
kẽ), tác phẩm truyện cổ tích từ góc độ thi pháp học, văn hóa học, theo đặc
trưng thể loại và phân tích liên ngành (phương pháp tổng hợp). Đối với
phương pháp dạy và học truyện cổ tích trên tiến trình đổi mới, truyện cổ tích
trong nhà trường trung học cơ sở và trung học phổ thông được phân tích từ
5. Phương pháp nghiên cứu
- Thống kê phân loại: dùng để hệ thống hóa cách phân tích truyện cổ
tích đã và đang được sử dụng phổ biến ở Việt Nam, nhất là trong việc dạy học
thể loại này ở trường phổ thông.
18
- So sánh: chủ yếu là so sánh loại hình để làm sáng tỏ đặc trưng thể loại
và những chỗ khác biệt trong cách phân tích truyện cổ tích.
- Phân tích, tổng hợp: áp dụng khi đi vào các tác phẩm cụ thể.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương 2. Cách phân tích truyện cổ tích từ các góc độ
Chương 3. Giáo án thể nghiệm
19
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Giới thuyết một số khái niệm
1.1.1. Truyện cổ tích
Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, truyện cổ tích là “một thể loại
truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng chủ yếu phát triển
trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải những
vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn
màu muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia
đình phụ quyền), có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt”.
Khái niệm truyện cổ tích có nội dung rất rộng, bao gồm nhiều loại
trăm đốt…).
1.1.4. Truyện cổ tích loài vật
Truyện cổ tích loài vật là truyện cổ tích lấy các loài vật (phần lớn là
động vật làm đối tượng phản ánh, tường thuật và lý giải chủ yếu). Loại truyện
này ở thời kỳ cổ xưa hầu hết các dân tộc đều có. Ở đây các loài vật được nhân
cách hóa một cách hồn nhiên trong trí tưởng tượng của nhân dân thời cổ. Ở
Việt Nam, do những truyện cổ tích loài vật không được sưu tầm và ghi chép
sớm nên tính chất cổ xưa, hồn nhiên, chất phác của chúng không còn nguyên
vẹn, nhiều truyện cổ tích loài vật đã biến tướng trở thành truyện ngụ ngôn (Ví
dụ: Sự tích con công và con quạ, Vì sao trâu không có hàm răng trên…).
1.2. Về các truyện cổ tích được tuyển chọn trong sách giáo khoa
Ngữ văn lớp 6 và lớp 10
1.2.1. Các truyện đã và đang được tuyển chọn để dạy và học
Trong sách giáo khoa môn Văn (hiện nay là Ngữ văn) ở trường trung
học cơ sở, các truyện cổ tích được đưa vào có sự thay đổi qua mỗi lần thay
sách. Các truyện đã được tuyển chọn để dạy và học bao gồm: Sự tích trầu
21
cau, Cây tre trăm đốt, Cây khế, Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa, Chàng ngốc,
Trí khôn của tao đây…Còn trong sách Ngữ văn 6 hiện hành chỉ còn các
truyện: Sọ Dừa, Thạch Sanh, Em bé thông minh (người Kinh) và hai truyện cổ
tích của nước ngoài: Cây bút thần (Trung Quốc) và Ông lão đánh cá và con
cá vàng (Nga).
Trong sách giáo khoa môn Văn (nay là Ngữ văn) ở trường trung học
phổ thông (lớp 10), trước đây, thể loại truyện cổ tích được chọn giảng khá
nhiều nhưng nay chỉ còn lại rất ít. Ở sách Văn cũ (chương trình chỉnh lý
hợp nhất) có các truyện: Sự tích trầu cau, sau đó được thay bằng truyện:
Sự tích cây nêu ngày tết, Từ Thức lấy vợ tiên, Sự tích núi Vọng Phu, Làm
theo lời vợ dặn… Trong sách Văn 10 hiện hành (chương trình phân ban)
Còn truyện cổ tích sinh hoạt cũng có nhiều truyện hay, lý thú nhưng trong
quan niệm phân loại vẫn còn có những ý kiến chưa thống nhất (trường hợp
Sự tích trầu cau là một ví dụ). Còn ở nước ta, tiểu loại truyện cổ tích loài vật
có số lượng không nhiều so với nhiều nước trên thế giới, hơn nữa một số
truyện thuộc tiểu loại này có xu hướng chuyển thành ngụ ngôn, nhiều khi
khó phân định. Vì thế số lượng tuyển chọn ít ỏi như vậy cũng là dễ hiểu.
Tuy nhiên, truyện được chọn là Trí khôn của tao đây đã thực sự tiêu biểu
cho thể loại truyện cổ tích loài vật hay chưa là điều mà chúng tôi sẽ đề cập
trong phần tiếp theo ở mục này.
Trong một số truyện được nói tới ở trên có hiện tượng giao thoa thể
loại. Nghĩa là những truyện đó vừa có đặc điểm của thể loại này vừa có đặc
điểm của thể loại khác. Đó là các truyện: Sự tích trầu cau, Chử Đồng Tử, Trí
khôn của tao đây. Về những truyện này, việc phân loại của giới nghiên cứu ở
nước ta chưa có ý kiến thống nhất. Chẳng hạn truyện Sự tích trầu cau, có
người xếp nó vào thể loại truyền thuyết (truyền thuyết thời Hùng Vương), có
người lại xếp nó vào thể loại truyện cổ tích. Tình hình đó diễn ra trong sách
23
giáo khoa môn Văn lớp 6 và lớp 10 trước đây. Ở lớp 6, truyện này được dạy
như là một truyền thuyết lịch sử, còn ở lớp 10 lại được giảng như là một
truyện cổ tích.
Việc phân loại truyện Chử Đồng Tử cũng diễn ra tương tự. Người ta
nhận thấy: trong truyện này mang nhiều đặc điểm của truyện cổ tích thần kỳ
nhưng trong đó vẫn có nhiều yếu tố của truyền thuyết, nhất là chi tiết Chử
Đồng Tử hiển linh giúp Triệu Việt Vương đánh giặc Lương ở phần kết thúc
truyện. Nhân vật này trở thành một trong tứ bất tử trong điện thờ đất Việt.
Với những chi tiết như vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng Chử Đồng Tử là
truyện cổ tích đã được truyền thuyết hóa.
Đặc biệt truyện Trí khôn của tao đây, trước đây có tên gọi “trí khôn” có
giống ai và xuất thân ở các tầng lớp, các giai cấp, các lứa tuổi, các giới tính
khác nhau nhưng đều đại diện cho cái thiện và cái ác trong xã hội cũ. Truyện
cổ tích phản ánh, nhìn nhận con người về mặt nhân cách trên bình diện đạo
đức qua hai phạm trù thiện - ác. Các truyện trong thể loại này có sự thống
nhất cao độ giữa phạm trù đạo đức và phạm trù thẩm mĩ. Con người biết sống
thiện như Sọ Dừa, Thạch Sanh, Chử Đồng Tử, Tấm cũng là những con người
đẹp. Ngược lại những kẻ sống ác như mẹ con Lý Thông, mẹ con con Cám, hai
người chị của vợ Sọ Dừa… cũng là những kẻ xấu. Mục tiêu đào tạo của nhà
trường ở nước ta hiện nay là giáo dục thế hệ trẻ biết sống đẹp, phải biết hướng
thiện, tránh làm điều ác. Đến với truyện cổ tích, học sinh không chỉ học được
nhiều điều hay lẽ phải, hình thành quan niệm sống đúng đắn mà còn có những
hiểu biết ban đầu về những nét độc đáo của văn hóa Việt Nam được đề cập
trong từng truyện cụ thể (về khía cạnh này chúng tôi sẽ trình bày ở một phần
trong chương hai của luận văn).
Phần lớn các truyện cổ tích đã và đang được tuyển chọn trong sách giáo
khoa môn Văn ở trường phổ thông đều có các dị bản, mang đặc điểm chung
25
của văn học dân gian. Đây là hệ quả tất yếu của phương thức sáng tác, lưu
truyền bằng miệng và do tập thể gia công sửa đổi của bộ phận văn học (trong
đó có thể loại truyện cổ tích). Về tính dị bản của văn học dân gian, theo ông
Nguyễn Xuân Kính có những dị bản thực và có những dị bản giả (ông gọi là
“ngụy dị bản”). Điều này có liên quan tới việc cắt xén phần kết thúc của
truyện Tấm Cám trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 hiện hành mà chúng tôi sẽ
đề cập ở những chương tiếp theo của luận văn này. Một trong những phương
pháp phân tích truyện cổ tích nói chung đã được trình bày ở phần “Lịch sử
vấn đề” là phương pháp so sánh thông qua việc đối chiếu các dị bản (phương
pháp này được tiến hành trong các công trình của Đinh Gia Khánh, Nguyễn
Đổng Chi, Chu Xuân Diên,…). Tuy nhiên, trong các tài liệu hướng dẫn giảng