Đề tài kinh nghiệm dạy bài hướng dẫn đọc thêm trong chương trình ngữ văn THCS - Pdf 22

KINH NGHIỆM DẠY BÀI
“HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM”
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS
A. PHẦN MỞ ĐẦU.
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Hiện nay trong các nhà trường phổ thông nói chung và các nhà trường THCS nói
riêng, qua tiếp xúc với các em học sinh, qua dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp, chúng
tôi nhận thấy: việc Dạy bài hướng dẫn đọc thêm trong chương trình Ngữ văn là vô
cùng cần thiết.
Theo lí luận văn học đọc - hiểu là hoạt động trung tâm của hoạt động dạy - học
Ngữ văn đổi mới, bởi nội dung Văn trong bài học Ngữ văn là "Đọc - hiểu văn bản ".
Bản chất của đọc - hiểu là tìm hiểu phân tích để chiếm lĩnh văn bản bằng nhiều biện
pháp và hình thức dạy học Văn, trong đó biện pháp dạy học bằng hệ thống câu hỏi cảm
thụ văn bản được thực hiện dưới hình thức đối thoại, đây là hình thức dạy học chủ đạo
trong một giờ “ Hướng dẫn đọc thêm văn bản”
Văn bản đọc thêm nói chung có một tác dụng lớn trong giờ học Ngữ văn, giúp cho
việc phân tích thơ văn trở lên sống động có tính truyền cảm, giúp cho giáo viên, giúp
cho các em học sinh có được niềm vui sướng trong lao động sáng tạo. Giờ đọc thêm
còn có tác dụng giáo dục thẩm mĩ, làm cho các em thêm yêu thích văn học, nảy sinh ý
muốn tìm đọc thêm các tác phẩm văn học nghệ thuật đã làm mình rung động.
Xuất phát từ cơ sở đó, việc hướng dẫn đọc tác phẩm không chỉ diễn ra ở các tiết
học đọc - hiểu văn bản mà còn được chú trọng trong các tiết học : Hướng dẫn đọc thêm
của chương trình Ngữ văn THCS. Vậy cần dạy bài đọc thêm như thế nào trong các tiết
dạy này để rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu cho các em học sinh chính là hướng mà chúng
tôi muốn đưa ra.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.
1. Hệ thống văn bản hướng dẫn đọc thêm trong chương trình ngữ văn hiện
nay.
Khi thực hiện đổi mới trong dạy - học Văn hiện nay, chương trình SGK môn Ngữ
văn tập trung nhiều vào các tiết đọc thêm và các tiết hướng dẫn đọc thêm được điều
chỉnh ở hầu hết 4 khối lớp . Điều này cho thấy việc rèn luyện kỹ năng đọc - hiểu trong

65
Muốn làm thằng cuội; Hai chữ nớc nhà.
Lớp 9
56,57
84,85
111,112
136,137
Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ ( dạy cùng bài:
Bếp lửa ).
Những đứa trẻ.
Con cò.
Bến quê.
Từ hệ thống có thể thấy các tiết dạy: hớng dẫn đọc thêm chú trọng ở từng khối lớp, đề
cập đến tầm quan trọng của tất cả các kiểu văn bản, thể loại văn bản, giai đoạn văn học.
2. Nhận thức của giáo viên và học sinh.
Bắt đầu từ năm học này, hệ thống các bài đọc thêm đợc điều chỉnh, nhng là vấn đề
không mới, bởi trớc đó đã có ở các lớp 6,7,8,9 của môn Ngữ văn.
Qua dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp trong và ngoài huyện chúng tôi thấy xung
quanh vấn đề dạy các bài hớng dẫn đọc thêm này có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau;
Có ngời cho là không cần thiết lắm để thời gian dạy kỹ hơn các tác phẩm chính; Lại có
ý kiến dạy các bài đọc thêm chủ yếu cho học sinh đọc, tóm tắt nội dung.Còn các em học
sinh, khi giáo viên yêu cầu chuẩn bị bài đọc thêm việc các em thờng làm là đọc tác
phẩm.
Nh vậy, thì việc dạy tiết hớng dẫn đọc thêm quả là nan giải. Từ thực tiễn và căn cứ
vào lí luận văn học, chúng tôi mạnh dạn đa ra vấn đề Một h ớng dạy bài hớng dẫn đọc
thêm trong chơng trình Ngữ văn THCS .
B. PHN NI DUNG
I. CN C CHUNG.
1. c trng b mụn.
a. Mc ớch yờu cu c - hiu.

dòng. Mức cao hơn là buộc phải suy nghĩ và sử dụng những thông tin trong văn bản, là
trình độ đã biết đọc giữa các dòng.
Cao hơn nữa là yêu cầu khái quát, liên hệ giữa cái mà học sinh đã đọc với thế giới
bên ngoài bài học, đó là trình độ biết vượt ra khỏi dòng để đọc văn bản. Khám phá
theo hướng này thì học sinh không chỉ hứng thú, hiểu sâu văn bản mà còn liên hệ được
một cách sinh động tự nhiên việc học văn với những vấn đề của cuộc sống ".
3
Nh th, bn cht ca hot ng c - hiu vn bn trong cỏc gi hc Ng vn
chớnh l s tỡm tũi, phõn tớch cm v hiu vn bn theo mc tiờu c th ca mụn Ng
vn hin hnh.
2. Yờu cu dy Ng vn hin nay.
Phng phỏp c - hiu vn bn khỏc vi cụng vic ging vn lõu nay ca giỏo
viờn thng lm. Tỏc gi SGK lp 9, giỏo s Ngc Thng cú nờu ra mt vi im
khỏc bit nh sau:
GING VN C - HIU
+ Nghiêng về công việc của thầy.
+ Thầy nói cái hay, cái đẹp mà thầy cảm
nhận đợc cho học sinh nghe.
+ Nghiêng về khai thác nội dung, t tởng
của văn bản, ít chú ý đến ngôn từ và các
hình thức nghệ thuật cụ thể.
+ Học sinh , nhiều khi không cần đọc văn
bản.
+ Chỉ biết văn bản đợc học.
+ Tổ chức cho trò thực hiện.
+ Trò tự khám phá ra cái hay, cái đẹp của
văn bản theo ý mình.
+Tập trung khai thác vẻ đẹp nội dung qua
hình thức: bám sát câu chữ của văn bản
để chỉ ra nội dung t tởng.

Việt ).
Ví dụ:
+ Khi đọc : "Sau phút chia ly" ( tiết 26- Ngữ văn 7 ).
Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang
Bến Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cần hiểu được: Hàm Dương, Tiêu Tương là gì?
+ Đọc - hiểu bài "Vọng Lư sơn bộc bố " ( tiết 34 - Ngữ văn 7 )
Phi lưu trực há tam thiên xích.
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.
Các từ ngữ Hán trong các câu có nghĩa như thế nào cần phải hiểu được qua tra cứu
sách vở mới hiểu được nội dung bài thơ.
* Đọc - hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả được thể hiện trong tác phẩm.
Có lúc tác giả bộc lộ trực tiếp tư tưởng tình cảm. Có lúc tác giả lại gửi gắm cảm
xúc, ý nghĩa qua hình tượng nghệ thuật.
Ví dụ: đọc - hiểu bài " Con cò " của Chế Lan Viên( tiết 111- 112 Ngữ văn 9 ). Cần
hiểu được tư tưởng tình cảm của tác giả qua hình tượng nghệ thuật: con cò.

* Đọc - hiểu cấu trúc văn bản.
Trong thực tế giảng dạy môn Ngữ văn ở THCS, chúng ta thấy bài thơ có nhiều
đoạn, vở kịch có nhiều hồi, nhiều lớp, truyện có nhiều phần, nhiều tình tiết, truyện có
kết thúc có hậu như truyện cổ tích. Vậy có thể so sánh đọc - hiểu cấu trúc văn bản như:
- Vào xem cái đình, đền cổ mà chỉ xem hai ông tướng trấn cửa đền thì coi như
chưa hiểu biết gì.
- Cũng như cô gái thi hoa hậu mà chân đi vòng kiềng, bàn chân bàn cuốc dù có
mặt hoa da phấn cũng khó mà lọt vào vòng trong.
5
Do vậy đọc - hiểu cấu trúc văn bản là cần thiết, chưa nắm được cấu trúc văn bản
thì cảm thụ văn sẽ bị hạn chế.

mùa hạ .
III. XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CÂU HỎI DẠY BÀI “ HƯỚNG DẪN ĐỌC
THÊM “ .
6
1. Hỏi về thể loại.
Giáo viên có thể nêu câu hỏi yêu cầu học sinh nêu đặc điểm của thể loạivà tìm
hiểu vai trò, tác dụng của thể loại trong việc biểu đạt nội dung tư tưởng.
2. Hỏi hướng vào các yếu tố của văn bản bao gồm nhiều lớp câu hỏi:
* Câu hỏi đọc lướt, đọc thông chẳng hạn: tìm bố cục, nêu nội dung mỗi đoạn, lập
dàn ý sự việc, thuật lại cốt truyện, thống kê nhân vật, nêu cảm nhận chung.
* Câu hỏi đọc sâu, cảm nhận ngôn từ như: ý nghĩa của tên văn bản, câu then chốt
của bài, giải nghĩa từ khó, câu văn, thơ, chi tiết, hình ảnh hiểu các biểu trưng, biểu
tượng, phân tích vai trò các điểm nhìn không gian, thời gian, giọng điệu
* Câu hỏi đọc - hiểu, là các câu hỏi yêu cầu chỉ ra tư tưởng khái quát của văn bản,
nhận định, đánh giá chung về nội dung xã hội, giá trị thẩm mĩ, kết cấu nghệ thuật.
3. Hỏi về yếu tố ngoài văn bản.
* Câu hỏi về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
Hoàn cảnh xã hội chung và hoàn cảnh sáng tác cụ thể của mỗi nhà văn, mỗi tác
phẩm.
* Câu hỏi về tác giả như quê hương, gia đình, bản thân tác giả.
4. Hỏi về vai trò của người tiếp nhận( người đọc ).
* Khai thác kinh nghiệm, vốn sống, gia đình, quê hương.
* Khai thác năng lực, trí tuệ phân hoá khác nhau của học sinh.
IV. ĐỊNH HƯỚNG DẠY BÀI “ HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM “
Có nhiều thể loại văn học được đưa vào dạy - học trong nhà trường THCS,
song trong phạm vi hạn chế, chúng tôi chỉ đưa ra hướng dạy các văn bản đọc thêm của
của thơ và truyện nói chung.
1. Hướng dẫn đọc thêm văn bản thơ.
a. Tiếp xúc với văn bản.
+ Đọc diễn cảm: mục đích là biến văn bản thành tác phẩm trong từng học sinh,

+ Đọc - hiểu cốt truyện( tóm tắt truyện )
+ Phát hiện tình huống
+ Phân tích kết cấu
+ Tìm hiểu sự kiện - nhân vật( nhân vật chính, nhân vật phụ )
+ Phân tích các chi tiết về hành vi, lời nói của nhân vật làm bộc lộ nét bản chất của
con người mà tác phẩm hướng tới. Các trình tự này như một định hướng chung còn cụ
thể từng loại truyện; truyện ngắn, tiểu thuyết mà có cách đọc - hiểu cụ thể. Đặc biệt ở
từng giai đoạn văn học, truyện có cách đọc- hiểu cũng khác nhau như: truyện cổ, truyện
trung đại, truyện hiện đại
III. MÔ HÌNH GIỜ DẠY : HƯỚNG DẪN ĐỌC THÊM.
1. Quan niệm chung.
Để giờ dạy hướng dẫn đọc thêm đạt kết quả và mang tính tích hợp trong bộ môn,
theo chúng tôi cũng giống như một giờ dạy văn bản nói chung. Có điều, trong hệ thống
bài hướng dẫn đọc thêm có bài được dạy trọn vẹn ở 1 tiết, hoặc 2 tiết nhưng có bài lại
8
dạy kèm trong các tiết học văn bản chính thức. Vậy làm thế nào để vừa đảm bảo yêu
cầu chung, yêu cầu riêng của từng tiết? Nếu bài đọc thêm được dạy kèm trong cùng tiết
với một văn bản khác, nên đưa bài đọc thêm vào phần sau tiết học và với thời lượng
vừa phải đủ để lưu ý các em một số nội dung như câu hỏi định hướng SGK.
Nhưng muốn làm được tốt ở các tiết học trước phải có sự hướng dẫn các em chu
đáo. Còn các bài hướng dẫn đọc thêm được tách thành tiết nên đi theo mô hình chung
của giáo án Ngữ văn, trong đó chú trọng phần đọc - hiểu. Để dạy tốt và các em tham gia
tốt khâu chuẩn bị vô cùng quan trọng, có lẽ sự chuẩn bị còn công phu hơn tiết dạy đọc -
hiểu thông thường, nhất là các em học sinh phải rất tự giác trong việc chuẩn bị.
Đó là quan điểm chung của chúng tôi, song ở từng bài, từng tiết, từng thể loại văn
học có thể linh hoạt vận dụng sao cho mục đích cần đạt có hiệu quả: Rèn kỹ năng đọc -
hiểu cho các em trong giờ dạy: hướng dẫn đọc thêm.
2. Mô hình giờ dạy.
* MỤC TIÊU CẦN ĐẠT( YÊU CẦU ).
+ Nội dung, nghệ thuật.

1. Đọc( 5 phút )
- Giáo viên đã hướng dẫn các em tự đọc ở nhà để có hiểu biết sơ lược về tác phẩm
trên lớp giáo viên tổ chức cho học sinh tự đọc: đọc cá nhân, đọc theo từng nhóm, đọc
thầm, đọc to, đọc diễn cảm( diễn xuất ).
- Các nhóm cử đại diện đọc, nhóm khác nhận xét về câu, nhịp, giọng điệu.
- Nếu là truyện thì đọc - hiểu phải tóm tắt được sự việc, nhân vật hướng tới chủ đề.
Một số truyện dân gian, thơ trữ tình có thể sử dụng băng hình, băng đĩa cho học
sinh cảm nhận giọng đọc, hình ảnh minh hoạ.
Ví dụ: Dạy tiết 2 - Bánh chưng, bánh giầy - Ngữ văn 6.
Có thể dùng đĩa tiếng cho học sinh nghe đọc diễn cảm, đĩa hình để xem hoạt cảnh(
băng, đĩa là đồ dùng của môn Ngữ văn 6 ).
Lưu ý: Với các tiết dạy hướng dẫn đọc thêm giáo viên nên dành thời gian hướng
dẫn học sinh đọc toàn bộ tác phẩm.
2. Chú thích (1 phút ).
- Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào sự đọc - hiểu nghĩa từ ngữ để tự đặt ra câu
hỏi và tự trả lời. Với hình thức tổ chức hoạt động nhóm: Nhóm 1 nêu từ ngữ cần giải
đáp, nhóm 2 hoặc các nhóm khác nêu nghĩa của từ ngữ.
- Có thể tích hợp với Tiếng Việt ở giải nghĩa từ, thành ngữ, thuật ngữ, nói quá
Ví dụ: Trong dạy bài" Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ " có thể học sinh
sẽ nêu câu hỏi: Trong phần chú thích có những từ nào được hiểu theo nghĩa chuyển?
Các nhóm học sinh tham gia trả lời.
3. Bố cục( 2 phút ).
Sử dụng kiểu câu hỏi đọc lướt để định hướng cho học sinh.
- Giáo viên giao nhiệm vụ cho từng nhóm. Từng nhóm thực hiện yêu cầu: tìm bố
cục, nêu nội dung chính từng phần.
10
- Giáo viên lưu ý các em về thể loại: nếu là thơ có cách xác định bố cục, kết cấu
khác với truyện
Ví dụ: Dạy bài " Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ ".
Nhân vật trong thơ trữ tình bao giờ cũng là trung tâm cảm nghĩ của tác giả trong

" Cái cò sung chát đào chua,
11
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru".
Sau khi định hướng cho học sinh đọc - hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật, các em có
thêm được khả năng cảm thụ văn học. Từ đó các em tự rút ra được những vấn đề cơ bản
về nội dung, nghệ thuật mà văn bản cần đạt( vấn đề này được khái quát ở nội dung ghi
nhớ).
Ghi nhớ:
- Giáo viên dùng câu hỏi khái quát về nội dung, nghệ thuật tác phẩm.
- Lưu ý: Giáo viên có thể mở rộng một số thông tin ngoài nội dung ghi nhớ trong
SGK.
III. LUYỆN TẬP( 10 PHÚT ).
Tiết dạy hướng dẫn đọc thêm, cần coi trọng luyện tập để rèn kỹ năng cho học sinh.
Đây là bước các em vận dụng quá trình đọc - hiểu ở trên để bộc lộ khả năng cảm thụ
của mình.
Do đó giáo viên phải thiết kế hệ thống bài tập theo cấp độ từ nhận diện đến cảm
thụ, từ rèn kỹ năng nghe, đọc, nói đến viết. Đặc biệt chú ý các bài tập so sánh, đối chiếu
và các bài tập tạo lập văn bản.
Đây là lúc các em phát huy tính tổng hợp, tích hợp để đọc- hiểu có kết quả.
Ví dụ: Phần luyện tập bài đọc thêm" Bến quê". Có thể đưa ra hai bài tập:
Bài 1. Liệt kê các câu văn, các hình ảnh về thiên nhiên và cho biết ý nghĩa hàm ẩn
của các hình ảnh đó?
Bài 2. Qua truyện ngắn" Bến quê" , em rút ra được những bài học gì cho bản
thân? Hãy viết một đoạn văn ngắn theo cách diễn dịch để nêu ra bài học đó?
Ví dụ : Trong tiết dạy văn bản “ Khúc hát ru những em bé lớn trênlưng mẹ “ dạy
cùng với văn bản “ Bếp lửa “ có thể sử dụng câ hỏi so sánh như sau :
? Điểm gặp gỡ giữa Nguyễn Khoa Điềm và Bằng Việt qua 2 văn bản “ Khúc hát
ru những em bé lớn trênlưng mẹ “và “ Bếp lửa “

6,7,8,9; ở hầu hết các kiểu văn bản, thể loại. Mong góp thêm một hướng dạy làm phong
phú hơn về phương pháp của bộ môn Ngữ văn.
Có thể, vấn đề chúng tôi đưa ra chỉ phù hợp với thời điểm hiện nay khi cả một số
lượng lớn tác phẩm được đưa vào đọc thêm. Song chúng tôi đã cố gắng để hoàn thành
chuyên đề này.
Rất mong sự góp ý chân thành, quý báu của các đồng nghiệp trường bạn, của các
quý vị để chuyên đề của chúng tôi hoàn thiện hơn./.
Cẩm Giàng, ngày 9 tháng 11 năm 2006.
NHÓM THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ
Ninh Thị Loan - THCS Tân Trường
Vũ Thị Thuỷ - THCS Tân Trường
13
Đỗ Thị Thanh Nhàn – THCS Cẩm Phúc .
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status