Nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên và kỹ năng sống cho học sinh lớp 12 thông qua “chiếc thuyền ngo - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH
SẢN VỊ THÀNH NIÊN VÀ KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH LỚP 12 THÔNG QUA “CHIẾC THUYỀN NGOÀI
XA” CỦA NGUYỄN MINH CHÂU.

Người thực hiện : Lê Thị Thanh Hương
Chức vụ
: Giáo viên
SKKN thuộc môn : Ngữ văn


THANH HOÁ NĂM 2018


MỤC LỤC

1. PHẦN MỞ ĐẦU …………………………………………………………..
1.1. Lí do chọn đề tài.........................................................................................
1.2. Mục đích nghiên cứu……………………………………………………...
1.3. Đối tượng áp dụng, phạm vi, tài liệu nghiên cứu ………………………...
1.4. Phương pháp triển khai đề tài…………………………………………….
2. PHẦN NỘI DUNG……………………………………………........
2.1. Cơ sở lí luận……………………………………………………………...
2.2. Thực trạng của vấn đề…………………………………………………….
2.3. Nội dung triển khai………………………………………………………

4
5
5
5
5
6
6
7
8
8
9
9
9
10
10
11
11
14
14
14
15


1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
- Từ vị trí của bộ môn văn trong cấp học THPT hiện nay:
Ngữ văn được xem là môn khoa học cơ bản có tác dụng to lớn trong việc
giáo dục ý thức, đạo lý làm người, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tình cảm thẩm
mỹ, kỹ năng sống... cho học sinh. “Đây vừa là bộ môn khoa học, vừa là bộ môn
nghệ thuật” [4]. Người học văn phải đáp ứng hai yêu cầu: tiếp thu kiến thức và

quả nghiêm trọng. Gần đây, nhiều cá nhân phải nghỉ học do không hiểu hết

về sức khỏe sinh sản vị thành niên, yêu nhưng không làm chủ được mình,
trở thành những bà mẹ khi chưa đủ tuổi trưởng thành. Nhức nhối hơn, nó
lại xuất hiện khá nhiều ở lứa tuổi học sinh lớp 12. Với tâm lí thích thể hiện
và khẳng định mình, làm những điều mình thích mà không ít những cá
nhân đã gây ra những tổn thương không nhỏ cho bản thân, gia đình và xã
1


hội. Bởi vậy, tôi thiết nghĩ việc giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên và
trang bị kỹ năng sống cơ bản cho học sinh là điều vô cùng cần thiết.
- Từ thực tế của việc học tập bộ môn:
Do xu hướng phát triển chung của xã hội, bộ môn Ngữ văn ngày càng ít được
học sinh quan tâm. Đa phần, các em lựa chọn những môn học khối A, B, D để
có hướng mở trong tương lai. Có những giờ dạy văn kém hiệu quả, không chỉ
chưa đáp ứng đủ kiến thức cho học sinh mà còn xem nhẹ giá trị giáo dục và
nhóm kỹ năng rút ra từ tác phẩm. Việc cung cấp đủ kiến thức cho học sinh chỉ
mới đáp ứng một nửa yêu cầu của bộ môn, nửa còn lại là thông qua tác phẩm,
bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, trang bị kỹ năng sống cơ bản, hướng học sinh
phát triển toàn diện là điều chúng ta cần bàn.
- Kết quả giáo dục nhân cách học sinh:
Trong quá trình giảng dạy bản thân đã không ngừng học hỏi, tích lũy được
nhiều kinh nghiệm hay để có thể áp dụng trong thực tế. Việc bồi dưỡng nhân
cách, sức khỏe sinh sản, kỹ năng sống cho học sinh thông qua tác phẩm văn học
hướng các em phát triển đầy đủ về “đức, trí, thể, mĩ” đã có nhiều thành tích
đáng ghi nhận. Có những tập thể gồm nhiều cá nhân kém về phẩm chất đạo đức,
yếu về kỹ năng sống, thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản… đã có nhiều chuyển
biến tích cực theo chiều hướng đi lên.
Từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả giáo dục sức

sinh vào các trường ĐH, cao đẳng…
- Khó khăn:
+ Phần đông là học sinh có học lực trung bình, khá. Chủ yếu là học sinh nữ,
chiếm hơn 2/3 tổng số học sinh cả lớp.
+ Gia đình ở xa, đi lại khó khăn nên việc đi chậm, vắng học diễn ra thường
xuyên
+ Phần lớn, số học sinh nữ của lớp đều thuộc vào đối tượng học sinh có hạnh
kiểm Khá. Ít trường hợp học sinh có hạnh kiểm Tốt. Cụ thể:
1/3 học sinh có nhu cầu thực sự - Học khá đều các môn
1/3 học để theo khối
- Học lực trung bình
1/3 không thể học các khối khác - Học yếu, ý thức kém
1.3.2. Phạm vi áp dụng
Đề tài được áp dụng vào việc: Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên và
kỹ năng sống cần thiết cho học sinh 12.
1.3.3. Tài liệu nghiên cứu: SGK Ngữ văn 12, Tài liệu Giáo dục học, Tài liệu
kỹ năng sống…
1.4. Phương pháp triển khai đề tài: Thực hiện giáo dục sức khỏe sinh sản
vị thành niên và kỹ năng sống cần thiết cho học sinh 12 thông qua các buổi học
chính, học bồi dưỡng, các giờ tự chọn.

3


2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Cơ sở của việc dạy học bộ môn:
“Dạy học là một tác động hai chiều giữa giáo viên và học sinh, trong đó học
sinh là chủ thể của quá trình nhận thức, còn giáo viên là người tổ chức các hoạt
động nhận thức và giáo dục cho học sinh” [2]. Nếu giáo viên có phương pháp

giữa kỹ năng với giá trị kiến thức nhằm tạo chiều sâu cho bài viết, tác động đến
nhận thức và rung cảm thẩm mỹ của người đọc.
- Việc ứng xử: Một thực trạng nhức nhối trong xã hội ngày nay, đó là căn
bệnh “vô cảm” trong học tập. Học sinh có lối ứng xử yếu về kỹ năng và nhận
thức , chưa thực sự hiểu về tình yêu và giới tính, sức khỏe sinh sản tuổi vị thành
niên nên sống theo cảm xúc nhất thời của bản thân, để lại những hậu quả đáng
4


tiếc, chặn đứng con đường học hành thi cử... Từ những lý do trên, việc bồi
dưỡng kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên và kỹ năng sống cho học
sinh là việc làm cần thiết. Đây là nhiệm vụ quan trọng đối với những giáo viên
trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn.
2.3. Nội dung triển khai
2.3.1. Định hướng chung:
- Không có một tác phẩm văn học mà giá trị giáo dục thể hiện ngay trên bề
mặt câu chữ. Ngược lại, nó nằm ở chiều sâu văn bản buộc học sinh rút ra.
- Thông qua một tác phẩm văn học, dù là tác phẩm thơ hay văn xuôi đều có
những giá trị giáo dục nhất định. Có tác phẩm chứa nhiều, có tác phẩm chứa ít.
Vì thế, môn Ngữ văn được xem là bộ môn nghệ thuật khơi gợi tình cảm thẩm
mỹ, bồi dưỡng, trang bị những kỹ năng cần thiết và hoàn thiện nhân cách cho
học sinh.
- Muốn phát hiện ra giá trị giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên và kỹ
năng sống của tác phẩm cần:
+ Đọc kỹ tác phẩm, đánh dấu lại những đoạn qua trọng về sự diễn biến tâm
lý, tình cảm, tình yêu, gia đình, lối ứng xử của nhân vật trữ tình trong tác phẩm.
+ Liên hệ với bản thân, xem xét kỹ năng xử lí vấn đề hợp lẽ thường trong
cuộc sống…
2.3.2. Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
2.3.2.1. Nỗ lực tạo lập giá trị bản thân để xây dựng một tình yêu lí

thay đổi chóng mặt những nấc thang giá trị của xã hội, tình yêu đôi khi đặt nhầm
chỗ sẽ trở thành món hời để kẻ xấu lợi dụng, gây đau khổ. Tác phẩm “Chiếc
thuyền ngoài xa” cũng đề cập đến việc cần thiết phải giữ gìn phẩm giá, sự trinh
trắng của người phụ nữ:
Từ nhỏ tuổi, tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt sau một bận lên đậu
mùa. Hồi bấy giờ nhà tôi còn khá giả, nhà tôi trước ở trong cái phố này. Cũng
vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng
chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới… [1]
Bước 1: Từ đoạn trích trên, giáo viên cần phân tích cho học sinh thấy được
sự đánh mất trinh tiết của người thiếu nữ trước hôn nhân là việc đi ngược lại
với phẩm giá tốt đẹp: công – dung – ngôn – hạnh mà người phụ nữ phải gìn
giữ.. Trinh tiết làm nên giá trị cao nhất của người phụ nữ. Có nó, người phụ
nữ được tôn trọng, ngưỡng mộ. Mất nó, người phụ nữ bị xem thường, khinh
rẻ. Thế nhưng, trong xã hội hiện đại ngày nay, không ít kẻ đang xem thường
điều đó. Bởi vậy, không có ý thức giữ gìn phẩm giá cao quý của bản thân.
Bước 2: Bên cạnh đó, giáo viên đưa thêm một số dẫn chứng từ thực tế cuộc
sống: Xem thường trinh tiết, sống thử, mang thai trước hôn nhân rồi bị chối bỏ,
để bản thân rơi vào bế tắc, vấp ngã, đau khổ …một số cá nhân bị phụ bạc, tiến
hành nạo phá thai để lại hậu quả đáng tiếc mà phần đời còn lại phải gánh chịu.
Thậm chí, có người muốn kết thúc tất cả bằng cái chết. Đồng thời, giáo viên cần
nhắc nhở học sinh biết bảo vệ và giữ gìn phẩm giá của bản thân. Mỗi học sinh
cần luôn tỉnh táo trước tình yêu, lí trí làm chủ cảm xúc để phẩm hạnh của
mình luôn giữ vững. Nó chính là nét đẹp, là giá trị, là chìa khóa hạnh phúc
cho hôn nhân sau này.
2.3.2.3. Chín chắn trong quyết định hôn nhân, sinh con đúng tuổi, đúng
kế hoạch:
Tuổi học trò với bao suy nghĩ ngây thơ và vụng dại, vội vã trong các quyết
định quan trọng. Đặc biệt là tình yêu và hôn nhân. Có không ít những em nữ tuổi
16, 17…do thiếu hiểu biết về tình yêu, giới tính tuổi dậy thì đã vấp phải những
sai lầm đau đớn, trở thành những người mẹ bất đắc dĩ mà tuổi đời chưa đủ. Đó là

quan trọng của việc sinh đẻ có kế hoạch để nuôi dạy chúng nên người.
2.3.2.4. Tự vệ và đẩy lùi bạo lực trong hôn nhân gia đình
Tình trạng bạo lực gia đình cũng là một vấn đề có diễn biến khá phức tạp
trong thời gian gần đây. Khi giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo viên
không thể bỏ qua vấn đề này. Từ đó, hình thành cho học sinh kỹ năng nhận thức
và tự vệ trước vấn đề có thể gặp phải trong tương lai:
…Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra
một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có lẽ như những điều phải nói với
nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng, lão trút cơn giận như lửa cháy bằng
cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh,
vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại
nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng
mày chết hết đi cho ông nhờ…
…Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không có một
người chồng nào như hắn…[1]
Bước 1: Từ đoạn trích trên, giáo viên cần chỉ rõ cho học sinh thấy được
hành động độc ác, vũ phu của người đàn ông hàng chài với người vợ chung chăn
gối với hắn. Đồng thời, giáo viên cần chỉ rõ hành động độc ác, vũ phu kia xuất
phát từ một cuộc sống đói nghèo, một cuộc hôn nhân vội vã, khốn khó vì sinh
nhiều con…chính mệt mỏi thức đêm kéo lưới và cuộc sống mưu sinh khổ cực đã
khiến người chồng sinh ra độc dữ. Giáo viên cũng cần chỉ cho học sinh thấy
được nếu cuộc sống bớt đói nghèo, túng quẫn, bớt đông con thì có lẽ cuộc sống
của họ đã khá hơn, hạnh phúc hơn.
Bước 2: Từ đó, giáo viên cần định hướng cho học sinh thấy được nguyên
nhân của thói vũ phu xuất phát từ đói nghèo và lạc hậu. Hướng các em nỗ lực
vươn lên trong học tập, thay đổi vận mệnh, làm chủ bản thân mình trong bất kì
7


hoàn cảnh nào. Cần phải tạo lập giá trị bản thân và công việc ổn định trong

định hướng cho học sinh tuổi vị thành niên về tầm quan trọng của nền tảng gia
đình. Đồng thời, động viên những học sinh đang trực tiếp chứng kiến, chịu đựng
vấn đề bạo lực trong gia đình mình hãy cố gắng vươn lên để đạt được ước mơ.
Giáo viên cần gieo vào lòng học sinh một nhận thức: Cần kiến tạo giá trị bản
thân, hướng tới xây dựng một gia đình hạnh phúc nhằm tạo nền tảng giáo dục tốt
thế hệ trong tương lai.
2.3.3. Giáo dục kỹ năng sống:
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu
ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc
về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động. Đặc biệt là
trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường
xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực như : nghiện
hút, bạo lực học đường, tự vẫn, quan hệ tình dục sớm, bỏ học, sống thiên về
8


hưởng thụ…[3]. Nguyên nhân chính là do các em thiếu những kỹ năng sống cần
thiết như: kỹ năng từ chối, kỹ năng kiên định, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ
năng thương lượng, kỹ năng giao tiếp... Nếu không được giáo dục kỹ năng sống,
nếu thiếu kỹ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực,
vào lối sống ích kỷ, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách.
2.3.3.1. Kỹ năng nhận thức:
Bước 1: Giáo viên đọc cho học sinh nghe đoạn văn viết về cuộc đối thoại
giữa Phùng, Đẩu và người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện.
Bước 2: Giáo viên phân tích để học sinh thấy được nghịch lí giữa một bên là
lòng tốt và một bên là sự chối từ lòng tốt. Đặc biệt, chú ý trọng tâm vào những
vấn đề mà Phùng và Đẩu nhận ra sau khi nghe câu chuyện của người đàn bà
hàng chài. Đó là trạng thái tâm lí ngạc nhiên, không thể hiểu nổi. Nhưng khi
nghe câu chuyện đời của người đàn bà, Phùng và Đẩu mới vỡ lẽ ra nhiều điều
quan trọng trong nhận thức: pháp luật đã thua lẽ đời. Lòng tốt không thôi chưa



… Ba hôm sau, cũng trong làn sương sớm, Phùng lại chứng kiến cảnh lão
đàn ông đánh vợ…[1]
Bước 2: Giáo viên chỉ rõ cho học sinh thấy được sự mất khả năng kiềm chế
cảm xúc của bản thân ở người đàn ông hàng chài. Chính nó là nguyên nhân gây
ra bao bi kịch đau đớn cho người thân.
Bước 3: Giáo viên cần khắc sâu kĩ năng kiềm chế cảm xúc cho học sinh.
Trong cuộc sống, không ai tránh khỏi sự tức giận. Trong cơn nổi nóng, nếu con
người không biết kiềm chế cảm xúc, chế ngự nó thì sẽ là đầu mối của bao tai
họa. Lời nói trong cơn tức giận sẽ giống như mũi đinh đâm vào tâm hồn người
khác, khó thể xóa nhòa. Hành động trong cơn tức giận sẽ để lại những sai lầm
đáng tiếc. Thậm chí có thể trả giá bằng tính mạng. Từ đó, học sinh cần nhận
thức đúng đắn hành động, biết kiềm chế cảm xúc của bản thân khi cần thiết để
tránh bất hòa, xung đột.
2.3.3.4. Kĩ năng xác định giá trị cuộc sống:
Bước 1: Giáo viên đọc cho học sinh nghe đoạn văn sau:
…Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho
mình như trên đất được. Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú
đừng bắt tôi bỏ nó! Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng
lên như một nụ cười – vả lại, ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái
chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ. [1]
Bước 2: Giáo viên chỉ ra cho học sinh thấy được phẩm chất tốt đẹp của
người đàn bà hàng chài. Đó là người phụ nữ biết chắt chiu, nâng niu hạnh phúc
gia đình. Từ một người đàn bà thất học nhưng giá trị cuộc sống mà mụ nhận ra
đáng để người đọc trân trọng biết nhường nào. Dù bị chồng ngược đãi, đánh đập
và hành hạ nhưng người đàn bà vẫn nghĩ đến lí do tốt đẹp để gắn bó. Đó là niềm
hạnh phúc giản đơn bình thường mà mấy ai nhận ra, mấy ai làm được như mụ.
Người đàn bà hàng chài tìm ra giá trị đích thực trong sự hi sinh: “có những giây
phút gia đình tôi cũng sống hòa thuận, vui vẻ”.

chài. Trước những lời đanh thép của vị bao công vùng biển, người đàn bà tỏ thái
độ ngược lại. Thay vì chấp thuận, người đàn bà van xin không bỏ chồng bằng
một giọng khẩn thiết, có phần hơi trách móc. Bởi Phùng và Đẩu không phải là
người làm ăn nên không hiểu hết được sự lam lũ, khó nhọc của nghề thuyền lưới
vó.Ngay sau đó, người dàn bà hàng chài có vẻ cảm thông hơn. Mụ thay đổi cách
giao tiếp gần gũi. Trong lời nói của mình, người đàn bà mong Phùng và Đẩu
thông cảm cho lẽ đời mụ đưa ra.
Bước 3: Giáo viên nhấn mạnh kĩ năng thể hiện sự cảm thông để học sinh
thấu hiểu. Bởi trong cuộc sống, có vô vàn vấn đề mà con người phải đối mặt,
cần sự cảm thông, thấu hiểu, sẻ chia. Trong giao tiếp, nếu ta học được cách cảm
thông, lắng nghe, thấu hiểu thì sẽ tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa người với
người, khổ đau được giảm bớt, niềm vui, lòng nhân ái… được nhân lên. Đây là
kĩ năng quan trọng và vô cùng cần thiết để học sinh có thể tạo lập các mối quan
hệ, sống vững vàng ở bước đường tương lai.
2.4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm
* Đối với hoạt động giáo dục:
Đề tài “Nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên và
kĩ năng sống cho học sinh lớp 12 thông qua “Chiếc thuyền ngoài xa” của
Nguyễn Minh Châu” giúp các em học sinh nhận thức đúng đắn về tình yêu, sức
khỏe sinh sản vị thành niên và trang bị những kĩ năng sống quan trọng và cần
thiết trước nhu cầu cuộc sống.
 Thuận lợi:
Sau khi vận dụng đề tài này tôi nhận thấy đa số học sinh nhận thức đúng
đắn về tình yêu, sức khỏe sinh sản vị thành niên và những kĩ năng sống cơ bản
cần có. Từ đó, hướng các em chín chắn trong nhận thức và suy nghĩ, đúng đắn
trong lựa chọn hành động. Không chỉ riêng đối với một số tác phẩm khác, tôi
đều kết hợp cả việc dạy chữ và dạy người, dạy kiến thức và dạy kỹ năng
sống cho học sinh. Trong các năm tôi nhận thấy một kết quả rõ rệt. Những lớp
mà tôi được trực tiếp giảng dạy còn tồn tại rất ít những biểu hiện sai lệch trong
tình yêu, giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên, thiếu văn hóa trong ứng xử.


Hạnh
kiểm
T12
13
11
13
2
1

Hạnh
kiểm T1
18
10
11
1
0

Hạnh
kiểm
T2
22
8
9
1
0

Hạnh
kiểm
T3

Đây là một đề tài sáng tạo có thể áp dụng trong phạm vi bộ môn nói riêng
và các môn học khác nói chung. Nó sẽ là một hướng tiếp cận gần gũi nhằm giáo
dục đạo đức cho học sinh một cách hiệu quả nhất. Đây là một đề tài tôi nghĩ có
lợi ích rất lớn hỗ trợ hoạt động dạy học và giáo dục của nhà trường. Góp phần
đổi mới và nâng cao trình độ chuyên môn của nhà giáo.
* Bài học kinh nghiệm:
- Việc bồi dưỡng sức khỏe sinh sản và kĩ năng sống cho học sinh 12
thông qua tác phẩm văn học là bài học kinh nghiệm quý giá, mở ra một hướng
tiếp cận giáo dục nhân cách học sinh ngay trong bản thân bài học.
12


- Việc phân tích kết hợp với bồi dưỡng, giáo dục đạo đức, lối sống cho
học sinh đã giúp cho giáo viên nắm vững mục tiêu, nhiệm vụ của người giáo
viên dạy văn từ đó cũng nâng cao chất lượng giảng dạy môn văn.
- Giúp giáo viên không ngừng tìm tòi, sáng tạo, từ đó nhằm nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên để tránh nguy cơ tụt hậu.
- Rèn cho học sinh phương pháp học tập tích cực, áp dụng kiến thức vào
thực tế cuộc sống. Kiến thức phải đi đôi với thực hành, trí tuệ phải đi đôi với đạo
đức, kĩ năng sống.

13


3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Trong cấp học THPT: Hiểu biết về tình yêu – giới tính, kĩ năng sống của học
sinh luôn được coi trọng vì nó phản ánh được hiệu quả chất lượng dạy người và
dạy chữ của giáo viên, là thước đo để đánh giá sự nỗ lực, phấn đấu của thầy và
trò.

Thanh Hóa, ngày20 tháng 5 năm
2018
Người viết

Lê Thị Thanh Hương
14


15


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. SGK Ngữ văn 12. (Cơ bản) Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 6/2011.
[2]. Tham khảo các tài liệu từ nguồn Internet.
[3]. Mô đun THPT 35 “Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học phổ
thông ” của Bộ giáo dục và Đào tạo.
[4]. Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm - Phan Trọng Ngọ, NXB Đại
học sư phạm Hà Nội.
[5]. Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, NXB Lao động.

16


SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
PHỤ LỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH

+ Tự nhận thức về cách tiếp cận và thể hiện hiện thực trong tác phẩm, về cảm
hứng thế sự và tấm lòng đầy ưu tư, trăn trở của nhà văn trước cuộc sống hiện tại,
qua đó rút ra bài học nhận thức về cuộc sống của mỗi cá nhân.
+ Tư duy sáng tạo: Phân tích, bình luận về cá tính sắc nét, về cách đặt vấn đề
và giải quyết vấn đề của nhà văn trong tác phẩm.
3. Thái độ:
- Ý thức đúng đắn mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, giữa các mặt trong
cuộc sống.
- Tự khám phá cho mình cách nhìn nhận cuộc sống khách quan, đúng đắn.
II. PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN:
- SGK, Sách giáo viên, Chuẩn kiến thức và kỹ năng 12
- Sách tham khảo...
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC:
- Thuyết giảng, diễn giảng, phân tích
- Nêu vấn đề, Thảo luận...
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1. Ổn định lớp:
2. Kiểm tra bài cũ: Không
3. Bài mới:
18


“Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn,
cốt truyện thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý
vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn
đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân
thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp”. Có thể nói “Chiếc thuyền
ngoài xa” là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khám phá trong văn của
Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và
cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời

nhất của văn học ta hiện nay”
(Nguyên Ngọc)
- Sau 1975, sáng tác của NMC đi
sâu khám phá sự thật đời sống ở
bình diện đạo đức thế sự.
- Tác phẩm chính: (SGK)
- Thao tác 2: Tìm hiểu Truyện ngắn 2. Truyện ngắn “Chiếc thuyền
“Chiếc thuyền ngoài xa”
ngoài xa” :
19


+ GV: Giới thiệu xuất xứ và hoàn cảnh a. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác:
sáng tác của tác phẩm.
- Sáng tác năm 1983
- Năm 1985, được in trong tập
“Bến quê”.
- Năm 1987, được in trong tuyển
tập cùng tên.
- Là một trong những sáng tác tiêu
biểu của văn học Việt Nam thời kì
đổi mới.
– Hoàn cảnh sáng tác: tác phẩm ra
đời khi đất nước đã thoát khỏi chiến
tranh, bước vào giai đoạn phát triển
kinh tế. Nhu cầu dân chủ hoá xã hội
trở thành mối quan tâm hàng đầu và
là nỗi trăn trở suy tư của giới văn
nghệ sĩ.
– Tác phẩm tiêu biểu cho hướng tiếp

buổi sáng tinh sương?

+ GV: Cảnh được miêu tả thế nào?

+ GV: Vì sao Phùng gọi đây là một
“cảnh đắt trời cho”?
+ GV: Người nghệ sĩ đã có những cảm
nhận gì khi được chiêm ngưỡng bức ảnh
nghệ thuật của tạo hoá?

a. Phát hiện thứ nhất về khung
cảnh thiên nhiên hoàn mĩ:
- Để có tấm lịch nghệ thuật về
thuyền và biển theo yêu cầu của
trưởng phòng, Phùng đã tới một
vùng biển từng là chiến trường cũ
của anh.
- Phùng đã dự tính bố cục, đã
“phục kích” mấy buổi sáng để chụp
được một cảnh thật ưng ý.
- Người nghệ sĩ đã phát hiện ra
một vẻ đẹp trên mặt biển mờ sương,
như “một bức tranh mực tàu của
một danh hoạ thời cổ”:
+ “Mũi thuyền in một nét mơ hồ
loè nhoè vào bầu sương mù màu
trắng sữa có pha đôi chút màu hồng
do ánh mặt trời chiếu vào”
+ “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con
ngồi im phăng phắt như tượng trên

+ GV: Trước hành động vũ phu của
người cha, thằng bé Phác đã có những
hành động nào để bảo vệ mẹ?
+GV: Trước hành động của Phác, em có
nhận thức như thế nào về yếu tố gia đình
ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách
con cái?

+ GV: Vì sao anh lại kinh ngạc khi
chứng kiến cảnh tượng trên?

chính là đạo đức”.
 Hạnh phúc chất ngất, cảm nhận
được cái Thiện, cái Mĩ của cuộc đời,
cảm thấy tâm hồn mình như được
thanh lọc, trở nên trong trẻo, tinh
khiết.
b. Phát hiện thứ hai về hiện thực
nghiệt ngã của con người:
- Phùng đã chứng kiến cảnh tượng:
+ Từ chiếc thuyền bước ra một
người đàn bà: khắc khổ, xấu xí,
mệt mỏi và chỉ biết “cam chịu đầy
nhẫn nhục”.
+ Lão đàn ông: thô kệch, dữ dằn,
độc ác, quật tới tấp vào lưng vợ như
một cách để giải toả uất ức, khổ
đau.
-> Cần phải lên tiếng đẩy lùi bạo
lực trong hôn nhân gia đình. Đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status