Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh lớp 10 trường THPT quan sơn giúp các em nâng cao kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe sinh sản bản thân - Pdf 44

SKKN năm học 2015 - 2016

Nguyễn Trọng Năm
MỤC LỤC
Nội dung

Phần 1. Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
Phần 2. Nội dung
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng vấn đề
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Phần 3. Kết luận và kiển nghị
1. Kết luận
2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo

Trang
2
2
4
4
5
6
6
7
8

Di truyền, biến dị, cơ thể và môi trường
Sinh học tế bào và vi sinh vật
Sinh học cơ thể
Biến dị, di truyền, chọn giống, tiến hóa, sinh thái học
Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản được đề cập tới trong chương trình
lớp 8 (Chương XI: Sinh sản) và lớp 11 (Chương III: Sinh trưởng và phát triển;
Chương IV: Sinh sản) tuy nhiên nội dung chưa nhiều, chủ yếu nói về cơ chế sinh
học sinh giao tử, thụ thai và các biện pháp tránh thai. Trong sách giáo khoa chưa
đi vào tâm lý học của lứa tuổi nên việc giáo dục này trong 1 tiết có nhiều hạn
chế. Chủ yếu chỉ nói rằng có nhiều thay đổi mạnh mẽ về thể chất và tâm lý chứ
chưa đi vào cụ thể về diễn biến, hành vi và cách điều chỉnh bản thân cho phù
hợp với ngoại cảnh và được an toàn.
Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản chỉ được giáo dục tích hợp ở một số
bộ môn như Hóa, Sinh, Văn, Địa, GDCD và hoạt động ngoài giờ lên lớp, không
phải là môn học chính thức. Các tài liệu về sức khỏe sinh sản chưa nhiều và
chưa đi vào từng đối tượng cụ thể là học sinh theo từng cấp, từng lớp học. Nội
dung các tài liệu còn dài nên học sinh khó có thể khai thác những kiến thức cơ
bản liên quan đến bản thân mình.
Hiện nay chưa có tài liệu nào bàn sâu về vấn đề này cho học THPT, đặc
biệt là học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng cao biên giới. Các đồng
nghiệp, các nhà trường còn nhiều lúng túng trong việc tiếp cận, triển khai vấn đề
này nên hiệu quả giáo dục sức khỏe sinh sản còn nhiều hạn chế.
Một số giáo viên, các tổ chức cứ nói rằng học sinh thiếu kỹ năng sống khi
học sinh có những sai phạm hoặc hạn chế. Tuy nhiên không phải các giáo viên
đều hiểu thế nào là kỹ năng sống, vì vậy có thể dẫn đến nói chung chung mà
không đưa ra được cách thức thực hiện cụ thể để giải quyết vấn đề được thích
hợp và kịp thời.
Trường THPT Quan Sơn là một trường nằm trên vùng núi cao biên giới,
địa hình phúc tạp, hiểm trở, dân cư thưa thớt. Học sinh chủ yếu là người dân tộc
Thái, một số là dân tộc Kinh, Mường và số ít là dân tộc H ’Mông. Mặt bằng

TT
Nội dung
Thực trạng
Ghi chú
1. Vệ sinh kém
Có, đặc biệt nữ
2. Bệnh đường tình dục

3. Mang thai sớm
Có, thậm chí lớp 10
4. Mua bán dâm

Chiều hướng tăng
5. Hiếp dâm

Chiều hướng tăng
6. Buôn bán người

Chiều hướng tăng
Bản thân tôi đã nhiều đã quan tâm đến vấn đề này và đã thử nghiệm nhiều
phương cách khác nhau để giải quyết và thấy từng bước có hiệu quả và dễ triển
khai, mở rộng quy mô, phạm vi thực hiện góp phần nâng cao kỹ năng sống tự
chăm sóc sức khỏe sinh sản bản thân các em. Việc giáo dục này là rất cần thiết
và càng sớm càng tốt để các em có được an toàn hơn. Nên tôi đã chú trọng giáo
dục ngay từ lớp 10 với phương châm “phòng hơn chống”.
Chính vì các lý do trên nên tôi đã đúc rút thành sáng kiến kinh nghiệm với
đề tài:
“Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
lớp 10 trường THPT Quan Sơn
giúp các em nâng cao kỹ năng

xử phù hợp với người khác, ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc
sống. Đảm bảo sức khỏe sinh sản được tốt, tâm hồn luôn được trong sáng của
tuổi học trò.
Các kỹ năng này cần được trang bị ngay từ khi các em mới vào cấp hoc
THPT Quan Sơn. Một môi trường mới có nhiều điều mới lạ mà học sinh cần tiếp
cận ngay. Chứ không để có hậu quả rồi mới rút kinh nghiệm.
3. Đối tượng nghiên cứu
Tôi chọn là học sinh lớp 10 trường THPT Quan Sơn. Là ngôi trường mà
tôi đã công tác nhiều năm, đã chứng kiến nhiều các sự kiện của nhà trường.
Trong đó có vấn đề sức khỏe sinh sản của học sinh. Nhận thấy kỹ năng của các
em còn nhiều hạn chế.
Học sinh lớp 10 mới vào trường còn nhiều bỡ ngỡ, đa số xa gia đình, sống
tại các nhà trọ đơn sơ, khu bán trú nhiều thiếu thốn. An ninh trật tự phức tạp,
nhiều cái cám dỗ nên dễ bị tổn thương hơn cả.
Phương pháp giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh là những nội dung
gì và cách thức tổ chức như thế nào cho hiệu quả.
Từ đó học sinh có được các kỹ năng tự chăm sóc cho bản thân mình và
những người thân xung quanh. Đó là các kỹ năng tưởng chừng đơn giản nhưng
lại rất quan trọng trong cuộc sống đời thường hằng ngày của mỗi học sinh lớp 10
trường THPT Quan Sơn. Từ đó các em phải tự chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
sinh sản cho chính bản thân mình. Học sinh có thể nhận ra các thủ đoạn của tội
phạm để ứng phó hiệu quả.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này tôi đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau
để có cái nhìn tổng quan, khách quan hơn để đưa ra các giải pháp cho hợp lý với
đối tượng học sinh của mình. Với đặc thù là vấn đề nhạy cảm nên tôi chọn các
phương pháp cũng nhạy cảm để thu thập số liệu như sau:

4


……………………………………..
biện pháp nào là tốt nhất?
Kể tên các bệnh lây truyền qua đường
sinh sản và tình dục. Nêu các phòng ……………………………………..
tránh.
Thế nào là mại dâm? Cách phòng,
……………………………………..
chống
Thế nào là buôn bán người? Đối
tượng? Thủ đoạn và cách phòng ……………………………………..
chống?
Kết quả cho thấy đa số các em hiểu biết quá ít về các vấn đề này.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Qua các năm học có số liệu thu thập như
sau
+ Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Bệnh viện Đa khoa Quan Sơn và Trung
tâm Y tế dự phòng nhận định
+ Mại dâm: Lấy số liệu từ Ban quản lý bán trú, Ban cờ đỏ, thông tin từ Ban nữ
công, nữ sinh, ý kiến của học sinh ở trong khu bán trú và khu nhà trọ gần
trường, ý kiến từ lễ tân nhà nghỉ
+ Buôn bán người: Xin nhận định của Công an huyện Quan Sơn.
(Không công bố số liệu chi tiết, đích danh vì là vấn đề cần bảo mật)
Phần 2. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Hiện nay giáo dục kĩ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa
vào dạy học cho học sinh các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau.
Chương trình hành động Dakar về Giáo dục cho mọi người (Senegal – 2000) đã
5


SKKN năm học 2015 - 2016

trong các mối quan hệ xã hội, các tình huống trong cuộc sống. Đó là những kỹ
năng thiết thực mà người học cần có để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh và
hiệu quả.
Trong quá trình dạy học, giáo dục bên cạnh việc hình thành các kỹ năng
mang tính học tập, gắn với chuyên môn, như kỹ năng thực hành kỹ năng đọc
sách, quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp... các kỹ năng đôi khi không chủ
động vẫn được hình thành như diễn đạt trôi chảy, biểu lộ tình cảm, ứng xử nhanh
nhẹn làm chủ bản thân, giải quyết vấn đề, ứng phó, thương lượng... Những kỹ
năng này được hiểu là mục tiêu tiềm ẩn trong quá trình giáo dục nhưng lại là
những thứ mà người học cần có, cần sử dụng dụng trong cuộc sống hàng ngày
để họ trở thành những công dân đích thực trong xã hội hiện đại.
Kỹ năng sống thường gắn với một bối cảnh để người ta có thể hiểu và
thực hành một cách cụ thể. Nó gắn với nội dung nhất định. Các môn học trong
trường THPT Việt Nam đều ít nhiều có khả năng thực hiện giáo dục kỹ năng
sống, trong đó Sinh học là một môn học có nhiều thuận lợi trong giáo dục kỹ
năng sống.
6


SKKN năm học 2015 - 2016

Nguyễn Trọng Năm

Giáo dục kỹ năng sống có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong giai
đoạn hiện nay:
- Kỹ năng sống thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội: thực tế cho thấy có
khoảng cách giữa nhận thức và hành vi của con người, có nhận thức đúng chưa
chắc đã có hành vi đúng. Kỹ năng sống còn góp phần vào sự phát triển của xã
hội và bảo vệ con người. Thiếu kỹ năng sống của cá nhân làm phát sinh nhiều
vấn đề của xã hội như nghiện rượu, nghiện ma tuý, mại dâm, cờ bạc...

việc giao tiếp, học tập, sinh hoạt... vì vậy mà rất cần được giáo dục kỹ năng sống
cho các em.
Hiện nay vẫn chưa có môn học chính khoá về kỹ năng sống, việc tích hợp
vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đồng bộ ở các môn, các giáo viên. Tuy nhiên

7


SKKN năm học 2015 - 2016

Nguyễn Trọng Năm

bằng tâm huyết của người thầy mà không chỉ giảng dạy về kiến thức khoa học
mà tôi còn luôn quan tâm tới giáo dục kỹ năng sống cho các em.
Giáo dục kỹ năng sống không phải chỉ trên lớp mà ở mọi nơi, mọi lúc với nhiều
hình thức khác nhau. Tôi rất quan tâm đến điều này nên đã thử nghiệm nhiều, rút
kinh nghiệm qua các năm.
Kết quả cho thấy đa số các em hiểu biết quá ít về các vấn đề này.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Qua các năm học có số liệu thu thập như
sau
+ Bệnh lây truyền qua đường tình dục có chiều hướng giảm do vệ sinh môi
trường tốt hơn, dịch vụ y tế tốt hơn (Bệnh viện Đa khoa Quan Sơn và Trung tâm
Y tế dự phòng nhận định)
+ Mại dâm có chiều hướng gia tăng (do hệ thống nhà nghỉ phát triển, mặt trái
của công nghệ thông tin tác động, một bộ phận học sinh muốn ăn chơi, đua đòi,
gia đình khó quản lý do ở xa): Số học sinh để cho người ngoài vào ngủ qua đêm
tăng, số vụ bị phát hiện lập biên bản tăng, số học sinh đi qua đêm tăng; thậm chí
1 số học sinh còn đi xuống thành phố vào cuối tuần, học hành chểnh mảng, son
phấn lòe loẹt…
+ Buôn bán người có chiều hướng gia tăng với các chiêu bài dụ đi làm ăn với

- UNICEF: KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới
- UNESCO:
8


SKKN năm học 2015 - 2016

Nguyễn Trọng Năm

+ Học để biết (tư duy phê phán, sáng tạo, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả,
kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức…)
+ Học để sống với người khác (Kỹ năng xã hội: giao tiếp, thương lượng, hợp
tác, làm việc nhóm, cảm thông…)
+ Học để làm (Kỹ năng thực hiện công việc như đặt mục tiêu, đảm nhận trách
nhiệm…)
=> KNS là khả năng làm chủ bản thân, ứng xử phù hợp với người khác, ứng phó
tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
KNS được hình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong
cuộc sống. Vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội.
2. Phân loại KNS
- Giải quyết vấn đề - Suy nghĩ
- Giao tiếp hiệu quả - Ra quyết định
- Giao tiếp ứng xử cá nhân
- Thể hiện sự cảm thông
- Ứng phó với căng thẳng và cảm xúc…
* Kiến thức về SKKS và kỹ năng cơ bản
I. Giới tính và giới
1. Giới tính: là đặc điểm khác biệt về sinh học giữa nam và nữ, chủ yếu liên
quan đến chức năng sinh sản. Vốn có và không thay đổi qua không gian và thời
gian.

3. Hôn nhân: là sự cam kết về mặt pháp lý, với nam từ đủ 20 tuổi, với nữ đủ 18
tuổi. Tảo hôn là việc kết hôn của trẻ chưa đủ tuổi
IV. Sức khỏe tình dục
1. Tính dục: bản năng, muốn khoái cảm, thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lí rất phong
phú.
2. Tình dục: tất cả những gì hai người làm để đem lại cảm xúc, khoái cảm cho
nhau. Không theo công thức nào cả mà do sự sáng tạo.
Mềm như nước (cần cho sự sống, cho thêm tươi tốt, sinh động, sinh sôi nảy
nở…)
Mạnh như nước (nguy hiểm như bão lụt, sóng thần, ô nhiễm… bệnh tật).
Có nhiều dạng biểu lộ và lôi cuốn tình dục đang tồn tại ở mọi miền văn hóa, thay
đổi theo đời sống riêng mỗi người
3. Thủ dâm: Việc tự kích thích vào bộ phận sinh dục của mình để đem lại khoái
cảm
Quan niệm cũ bác bỏ: gây ra thần kinh, vô sinh…
Quan niệm mới: không gây bệnh tật…, nếu lạm dụng sẽ gây ảnh hưởng xấu.
4. Đồng tính luyến ái: yêu, thích, chú ý đến người đồng giới.
Nguyên nhân chưa rõ.
Nếu phát hiện sớm cần tìm đến các chuyên gia giúp đỡ
V. Sự thụ thai: trứng + tinh trùng -> mầm mống sống duy trì nòi giống.
Trứng tồn tại 12 – 24 giờ
Tinh trùng tồn tại 2 – 3 ngày
Tinh trùng vào tử cung (môi trường toan không thích hợp) cố tiến vào cổ tử
cung, vòi trứng, nếu gặp trứng sẽ thụ tinh ở 1/3 ngoài của vòi trứng -> di chuyển
đến tử cung làm tổ (5-9 ngày), nếu trứng bị tắc trong vòi gây chửa ngoài dạ con
(rất nguy hiểm) => mang thai (không kinh nguyệt)
Nếu là trứng X + tinh trùng X => XX => con gái (ngẫu nhiên, xác suất 0,5)
Nếu là trứng X + tinh trùng Y => XY => con trai (ngẫu nhiên, xác suất 0,5)
VI. Vệ sinh phụ nữ
1. Vệ sinh thân thể hàng ngày: tắm, rửa hàng ngày bằng nước sạch, không nên

- Chế độ lao động: cần hợp lí, nghỉ ngơi nhiều lần, tránh ngâm mình trong nước,
đề phòng trượt ngã, tránh độc hại.
- Sinh hoạt nghỉ ngơi: cần tinh thần thoải mái, yên tĩnh để ngủ ngon. Tránh căng
thẳng, xem các loại kích động, đi lại nhẹ nhàng (tốt nhất là đi bộ - dễ sinh). Tình
dục nên hạn chế và nhẹ nhàng.
VII. Mang thai sớm (trước 18 tuổi)
1. Dấu hiệu mang thai
- Chậm kinh (tắt kinh)
- Vú căng đau, to dần
- Cảm giác mệt mỏi khác thường
- Buồn nôn, muốn ngủ nhiều
- Ra huyết nhẹ hoặc huyết thấm ở âm đạo
* Để khẳng định cần xét nghiệm nước tiểu tại cơ sở khám thai tin cậy.
2. Nguyên nhân
- Thiếu kiến thức về SKSS (chưa được học, ngại nói đến…)
- Lần đầu tiên quan hệ không sử dụng biện pháp tránh thai
- Quan niệm sai lệch về tình yêu chân chính: “Yêu phải hết mình”, mới là thật
lòng
- Thiếu giáo dục, uốn nắn của gia đình, xã hội
- Cơ chế thị trường: văn hóa phẩm đồi trụy, “tìm miền đất hứa”, nhà nghỉ…
- Hoàn cảnh làm không kiềm chế được: picnic xa, ngày lễ hội (Valentin, Noel…)

- Đã xảy ra nhưng thiếu kiến thức để biêt, để xử lí: Không quan tâm đến kinh
nguyệt; biết có thai nhưng không biết cách giải quyết (Sợ dư luận, gia đình,
không có tiền, hai gia đình đổ lỗi cho nhau…
3. Hậu quả
- Nguy hại về sức khỏe: mẹ - con
- Với gia đình, xã hội:
- Tương lai mù mịt
- Phá thai có nhiều nguy cơ: Hút – Nạo - Phá

+ Phải phẫu thuật, cần can thiệp y tế đảm bảo, rất khó phục hồi sinh đẻ, không
tránh được bệnh lây truyền qua đường tình dục.
3. Dùng hoocmôn (thuốc tránh thai):
+ An toàn, dễ sử dụng, hiệu quả cao, nữ làm chủ
+ Phải uống đều đặn, vào 1 giờ nhất định (bắt đầu từ ngày 1 vòng kinh)
* Viên tránh thai khẩn cấp: biện pháp tình thế
+ An toàn, dễ sử dụng, dễ kiếm, hiệu quả cao trong trường hợp giao hợp không
được bảo vệ, cưỡng dâm, có vấn đề khi sử dụng biện pháp tránh thai (quên
thuốc, quên bao, bao rách, tính ngày sai…)
+ Không có tác dụng lâu dài, cần sử dụng trong thời gian nhanh sau giao hợp
(không quá 3 ngày), gây buồn nôn, rối loạn kinh, không được sử dụng liên tục
(Đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng)
IX. Các bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản
- Nhiễm khuẩn nội sinh: vệ sinh không tốt
- Nhiễm khuẩn do y tế: do cán bộ y tế
- Lây truyền qua đường tình dục
Nữ: Viêm âm đạo, tử cung, vòi trứng, buồng trứng
Nam: Viêm bao quy đầu, niệu đạo, tinh hoàn…
Cần có sự can thiệp y tế đảm bảo
X. Bệnh lây truyền qua đường tình dục
1.Nhiều loại bệnh: lậu, giang mai, HIV/AIDS…
12


SKKN năm học 2015 - 2016

Nguyễn Trọng Năm

2. Biểu hiện: khí hư âm đạo, đau bụng dưới, ngứa cơ quan sinh dục, loét cơ quan
sinh dục, đau cơ quan sinh dục, u cục hoặc sưng cơ quan sinh dục…

đình tan vỡ, gây mất ổn định trật tự an toàn xã hội. Mại dâm thường đồng hành
với các tệ nạn khác như tham nhũng, lãng phí…
3. Kỹ năng sống trong giáo dục phòng chống mại dâm:
- Nâng cao kiến thức và hiểu biết về giới, giới tính, SKSS, sức khỏe tình dục và
các biện pháp phòng chống mại dâm
- Tuyên truyền, giáo dục về phòng chống mại dâm
- Điều tra, thống kê, dự báo, phân tích
- Xây dựng xã phường, cơ quan, gia đình văn hóa
- Kiểm tra, truy quét, xử lý nghiêm
- Dạy nghề, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo
- Giáo dục và dạy nghề, hòa nhập cho đối tượng mại dâm
13


SKKN năm học 2015 - 2016

Nguyễn Trọng Năm

- Nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác phòng chống mại dâm.
Sau hoạt động học sinh phải được kiểm tra năng lực bằng hình thức vấn đáp nếu
đạt yêu cầu thì cho về, chưa đạt thì tiếp tục nghiên cứu. Giáo viên vấn đáp học
sinh bằng 2 loại:
- Kiến thức cơ bản
- Xử lý một tình huống
Câu hỏi dành cho mọi người
1. Sau khi triệt sản xong có thể làm mang thai được không?
2. Ai có nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục?
3. Khi nào phụ nữ có thể có thai? Nên có thai khi nào?
4. Có nên yêu khi đang là học sinh không?
5. Lỡ yêu rồi thì phải làm gì?



SKKN năm học 2015 - 2016

Nguyễn Trọng Năm

- Học sinh mệt mỏi, ngủ gục, không dám trả lời, không khí lớp trầm => giáo
viên nói to, rõ ràng, phát vấn liên tục và gọi học sinh trả lời liên tục, nếu không
trả lời được cho đứng đó rồi gọi em khác cho đến khi có câu trả lời đúng thì cho
các em đang đứng ngồi đồng loạt. Buổi chiều nếu có nhiều em buồn ngủ thì mời
cả lớp đứng dậy rồi cho ngồi xuống
- Học sinh chỉ chờ cho thầy đọc, viết lên bảng rồi chép vào vở => giáo viên
không đọc chép, viết lên bảng ngắn gọn theo các ý gạch đầu dòng, sơ đồ hoá để
giải thích các quá trình sinh học, vừa vẽ vừa vấn đáp, giải thích. Hướng dẫn học
sinh ghi chép theo ý hiểu.
- Học sinh xin đi ra ngoài trong giờ học cần xem xét nếu là vấn đề vệ sinh cần
tạo điều kiện. Cũng là cơ hội để nhắc nhở các em khác về vệ sinh cơ thể và môi
trường, ý thức học tập.
Địa chỉ
Bài 1
Bài 2
Bài 3
Bài 4
Bài 5
Bài 6
Bài 7
Bài 8
Bài 9
Bài 10
Bài 11

cụ thể theo nhóm nhỏ và hướng dẫn cách làm, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc.
- Không có phòng thực hành => có thể cho các em ra khu sân trường hoặc khu
bãi ven sông để không ảnh hưởng đến lớp khác, vẫn đảm bảo tính hiệu quả về
phương pháp. Coi trọng vấn đề an toàn và vệ sinh môi trường. Giáo dục ý thức
nô đùa giữa các bạn khác giới. Tránh đi một mình đến chỗ vắng. Chia nhóm phải
từ 3 người trở lên.
3.5. Giáo dục kỹ năng trong giờ kiểm tra, thi
- Trong đề kiểm tra, thi có tích hợp nội dung về giáo dục kỹ năng sống liên quan
đến sức khỏe sinh sản như nội dung tích hợp:
15


SKKN năm học 2015 - 2016

Nguyễn Trọng Năm

Về ý thức học tập, vệ sinh cơ thể, môi trường trong lớp, ngoài lớp
Vì sao cần phải bảo vệ sự đa dạng sinh học
Vai trò của nước trong vệ sinh cơ thể, môi trường sống
Vai trò của cacbohidrat, lipit trong bảo vệ sức khỏe con người
Vai trò của protein với con người
Cần an toàn với các tác nhân gây đột biến
Vì sao trị bệnh đường tình dục thường khó
Cần tắm thường xuyên để loại bỏ các tế bào chết
Coi trọng hô hấp (liên quan đến ti thể)
Việc đào thải trong ghép mô, tạng…
Rửa rau sống bằng nước mối trước khi ăn
Dịch tiêm phải là đẳng trương với máu, tránh nhầm nước cất
Huy động năng lượng hợp lý
Phối trộn thức ăn hợp lý cho dễ tiêu hóa, tránh hóa chất độc hại

- Trách móc
- Báo cáo với giáo viên…
- Tăng cường ý thức phòng vệ
- Dám phản kháng đến cùng (cảnh giác lời ngọt, chống cự, cắn xé, đám vào
+ Sau khi bị
phần mềm..)
làm nhục
- Tố cáo
- Dũng cảm làm lại cuộc đời, không căm thù tất cả và phải báo thù
- Hạn chế đi một mình, đặc biệt đêm tối nơi quãng vắng, nên rủ thêm người
thân, nhờ người đèo đi…
- Từ chối bữa tiệc với người lạ
+ Chống bạo
- Nghĩ cách tránh, bình tĩnh, đấu trí
lực, háo sắc
- Báo cáo
- Hét lên cầu cứu
- Ra sức vật lộn tự vệ, tấn công điểm yếu
+ Không dùng
tình dục đổi
Luôn nghĩ về hậu quả, tránh bị buôn người
công việc, tiền
bạc

16


SKKN năm học 2015 - 2016
+
Khi

- Tránh hiếu kỳ
- Tránh tâm lý may mắn
- Tâm lý chờ đón
- Tâm lý chiếm hữu
- Tâm lý phuc tùng
- Tâm lý phóng túng
- Tâm lý che dấu
- Nhận thức được tác hại
- Khống chế tâm lý, tìm kiếm hứng thú sang học tập, nghiên cứu…
- Rèn luyện sống tốt, giảm kích thích vào các cơ quan nhạy cảm, chất kích
thích tình dục
- Không xem phim ảnh đồi trụy

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
4.1. Đối với hoạt động giáo dục
- Không khí tiết học vui vẻ hơn
- Học sinh bớt căng thẳng, giảm ghi chép và tăng cường các hoạt động thảo
luận, vấn đáp, xử lý tình huống
- Thầy trò thân thiện và gần gũi hơn. Học sinh phải tự nghiên cứu, tiến hành các
thao tác thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên, không còn tình trạng đọc
chép.
- Học sinh được rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, ứng xử hiệu quả, kiềm chế cảm
xúc, tự chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng chống cưỡng dâm, buôn bán người.
- Học sinh rèn luyện xử lý tình huống xấu có thể xảy ra trong cuộc sống để
không bất ngờ khi có thể việc xấu rơi vào chính bản thân thì có cách ứng phó tốt
nhất.
4.2. Đối với bản thân
- Nâng cao, củng cố thêm kiến thức chuyên môn, kỹ năng dạy học và giải quyết
các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống.
- Rèn luyện cho chính mình các kỹ năng vượt qua khó khăn, kiềm chế cảm xúc,

- Học sinh có cách ứng xử tốt hơn trong các mối quan hệ với thầy cô, bạn bè và
xã hội.
- Góp phần giảm bớt các vấn đề nhức nhối đã xảy ra như:
+ Bỏ học về lấy chồng
+ Mang thai sớm
+ Phá thai không an toàn
+ Đánh ghen
+ Mua bán dâm
+ Buôn bán người
+ Nghiện điện tử, thuốc lá, rượu bia
+ Lạm dụng đồ uống có cồn gây những hậu quả đáng tiếc
+ Nhiều người không ý thức được vai trò của tiêm phòng
Như vậy mỗi học sinh trở thành tuyên truyền viên để truyền tải thông điệp về kỹ
năng sống.
Phần III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
SKKN được đúc rút trên cơ sở thực tế của bản thân qua 13 năm công tác,
vì vậy nó có ý nghĩa với thực tế bản thân trong quá trình giảng dạy. Tiết dạy trở
nên vui vẻ, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. Kích thích tính tự giác học tập, hăng say
phát biểu hơn, học sinh không phải ghi chép nhiều, không cần phải ghi nhớ máy
móc kiểu học thuộc để đối phó với các lần kiểm tra miệng hay kiểm tra viết.
18


SKKN năm học 2015 - 2016

Nguyễn Trọng Năm

Đồng thời giúp các em sớm định hướng nghề nghiệp, lựa chọn cho mình con
đường phù hợp, đúng đắn cho tương lai, tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe sinh

Chủ yếu là cần có kế hoạch, tuyên truyền, đôn đốc, tránh hình thức, đối phó của
một bộ phận giáo viên, làm cho có, chỉ 1 đêm có sáng kiến kinh nghiệm.
- Cần có chế độ đãi ngộ kịp thời và thích đáng với các đề tài có giá trị ứng dụng,
cho một công trình “khoa học trí tuệ”. Đặc biệt là các đề tài được xếp loại cấp
tỉnh thì cần được tuyên dương trước toàn trường và thưởng, ưu tiên trong bình
xét thi đua cuối năm nhiều hơn nữa.
- Cần tổ chức hội thảo một cách hoành tráng để mọi người biết và qua đó thảo
luận như là vấn đề chuyên môn, bồi dưỡng thường xuyên để mọi người được
học tập, nghiên cứu, ứng dụng cho bản thân trong cuộc sống và trong giảng dạy.

19


SKKN năm học 2015 - 2016

Nguyễn Trọng Năm

- Các SKKN có chất lượng cần được trưng bày tại thư viện trường để mọi người
biết, cần chống làm đối phó, sao chép của nhau, đặc biệt là copy từ trên mạng
rồi sửa thành của mình.
2. Với Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hoá
- Tôi xin đề nghị cần phổ biến sáng kiến kinh nghiệm của toàn thể các đề tài
được xếp loại cấp tỉnh qua các năm để các giáo viên được nghiên cứu, học hỏi,
ứng dụng trong giảng dạy và trong cuộc sống của bản thân mỗi người giáo viên
như tôi.
- Tôi rất mong muốn thầy Hoàng Văn Giao – Chuyên viên môn Sinh tổ chức
thành lập trang wed “Diễn đàn sinh học Thanh Hóa” để toàn bộ giáo viên có cơ
hội giao lưu, học hỏi, chia sẻ với nhau về chuyên môn, phương pháp, kỹ năng
sống, tạo ngân hàng đề kiểm tra, thi khổng lồ… là nguồn tài nguyên quý giá cho
giáo viên giảng dạy môn sinh toàn tỉnh, tôi sẽ nhiệt tình hưởng ứng.


2. Giáo dục dân số sức khỏe sinh sản vị thành niên. Viện chiến lược và
chương trình giáo dục, 2006.
3. Tài liệu giáo dục giới tính, phòng chống tệ nạn mại dâm cho học sinh sinh
viên. Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2007.
4. 1000 câu hỏi kiến thức cuộc sống dành cho thiếu nữ. Hương Quỳnh, NXB
Văn hóa – Thông tin, 2009.
5. Tích hợp giáo dục dân số sức khỏe sinh sản vị thành niên trong trường
THPT. Viện chiến lược và chương trình giáo dục, NXB Hà Nội, 2006
6. Tài liệu tập huấn giáo viên THPT, Chương trình phòng chống HIV/AIDS
và buôn bán người. Dự án nâng cấp Quốc lộ 217 tỉnh Thanh Hóa. NXB
Hà Nội, 2015.

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status