Một số giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn hóa học ở khối 10 trường THPT quan sơn 2 - Pdf 51

I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động sáng tạo, độc lập tiếp
thu tri thức là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục đã và đang quan tâm trong giai
đoạn lịch sử hiện nay. Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là tổ chức các
hoạt động tích cực cho người học. Từ đó khơi dậy và thúc đẩy lòng ham muốn,
phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh trong tự thân của người học từ
đó phát triển, phát huy khả năng tự học của họ. Trước vấn đề đó người giáo viên
cần phải không ngừng tìm tòi khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận
dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong các giờ học sao cho phù
hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh một
hướng tư duy chủ động, sáng tạo.
Bên cạnh đó, vấn đề học sinh yếu kém hiện nay cũng được xã hội quan
tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này, để đưa nền giáo dục đất nước
ngày một phát triển toàn diện thì người giáo viên không chỉ phải biết dạy mà
còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và
hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém.
Đối với bộ môn hóa học rất cần phụ đạo cho một số học sinh bị mất căn
bản từ cấp dưới. Bên cạnh đó cũng cần tạo hứng thú học tập môn hóa học cho
học sinh, để các em tự mình chiếm lĩnh lấy tri thức, vận dụng được kiến thức,
các công thức hóa học vào giải các bài tập có liên quan.
Sau đây tôi xin phân tích một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh
yếu kém môn Hóa học, để từ những nguyên nhân đó có thể tìm ra hướng khắc
phục khó khăn giúp học sinh vươn lên trong học tập thông qua đề tài sau đây:
"Một số giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn hóa học ở khối 10 trường
THPT Quan Sơn 2".
1.2. Mục đích nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu những nguyên nhân học sinh yếu kém môn Hóa ở lớp 10. Từ
đó tìm ra giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém.
- Nâng cao chất lượng giáo dục đại trà của trường THPT Quan sơn 2 ở bộ
môn Hóa học.

Như vậy cần ở học sinh phải hoàn toàn tự giác cao trong suy nghĩ và hành động,
tích cực phối hợp với giáo viên, có suy nghĩ, cân nhắc kĩ lưỡng những thông tin nhận
được để “vá lại lỗ hổng kiến thức” và phản hồi lại kiến thức một cách chính xác, khoa
học nhất. Muốn vậy giáo viên là người rất quan trọng cần phải có các hướng dẫn cụ
thể để giúp học sinh .
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Căn cứ điểm bài kiểm tra, điểm thi môn hóa học kết hợp với thực tế giảng dạy
ở học sinh khối 10 trường THPT Quan Sơn 2 năm học 2016 – 2017. Tôi nhận thấy
một số thuận lợi và khó khăn từ đó rút ra một số nguyên nhân học sinh học yếu môn
hóa học:
2.2.1. Thuận lợi
HS có thể nhận được sự giúp đỡ từ nhiều phía: gia đình, nhà trường và xã hội,
bạn bè qua chuyên đề: "Đôi bạn cùng tiến".
Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn, nhiệt tình, thân thiện, luôn quan tâm giúp đỡ học
sinh đặc biệt là học sinh yếu kém.
Được sự quan tâm, phối hợp của Ban giám hiệu cùng các đoàn thể.
Đặc thù môn học gần gũi, có thể vận dụng giải thích các vấn đề trong thực tế.
2.2.2 Khó khăn
Bề dày kinh nghiệm của một số giáo viên của trường chưa cao, việc dự giờ
thăm lớp còn hạn chế do bị động về thời gian.
2


Đối tượng học sinh yếu có những khác biệt về cách nhận thức, hoàn cảnh gia
đình, kinh tế, lười học hoặc thiếu sự quan tâm của cha mẹ,... Những điều này đã ảnh
hưởng nhiều đến vấn đề học tập của học sinh, từ đó dẫn đến các em chán nản việc
học, và hỏng kiến thức.
Đặc điểm của trường là ở vùng miền núi cao, điều kiện đi học của học sinh khó
khăn, nhà xa trường, đường vườn khó lưu thông, nhiều học sinh phải nghỉ học khi
mùa mưa hay lũ.



- Một số giáo viên chưa thật sự chịu khó, tâm quyết với nghề, chưa thật sự
“giúp đỡ” các em thoát khỏi yếu kém. Từ đó các em cam chịu, dần dần chấp nhận với
sự yếu kém của chính mình và nhục chí không tự vươn lên...
- Một số giáo viên còn thiếu nghệ thuật cảm hoá học sinh yếu kém, không gây
hứng thú cho học sinh thích học môn mình...
2.2.3.3. Về phía phụ huynh: Còn một số phụ huynh HS :
- Thiếu quan tâm đến việc học tập ở nhà của con em. Phó mặc mọi việc cho
nhà trường và thầy cô.
- Gia đình học sinh gặp nhiều khó khăn về kinh tế hoặc đời sống tình cảm
khiến trẻ không chú tâm vào học tập.
- Một số cha mẹ quá nuông chiều con cái, quá tin tưởng vào chúng nên học
sinh lười học xin nghỉ để làm việc riêng (như đi chơi, giả ốm,...) cha mẹ cũng đồng ý
cho phép nghỉ học, vô tình là đồng phạm góp phần làm học sinh lười học, mất dần
căn bản...và rồi yếu kém!
Trên đây là một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém mà
bản thân tôi nhận thấy trong quá trình công tác tại trường THPT Quan Sơn 2.
Qua việc phân tích những nguyên nhân đó, bản thân tôi đưa ra một số biện pháp
để giáo dục, phụ đạo học sinh yếu kém như sau:
2.3. Một số giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém
2.3.1. Giải pháp chung
2.3.1.1. Xây dựng môi trường học tập thân thiện
Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu quả
cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi, cảm giác
an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập, trong cuộc sống
của bản thân mình.
Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng, không
mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh cảm thấy sợ
giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình.

- Lập danh sách học sinh yếu kém thông qua bài kiểm tra chất lượng đầu năm
và quá trình học tập trên lớp.
- Điểm danh học sinh mỗi buổi học, ghi nhận và báo với GVCN những trường
hợp học sinh bỏ học phụ đạo để có biện pháp khắc phục.
2.3.2.1. Xác định kiến thức cơ bản, trọng tâm và cách ghi nhớ
- Xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức nền (những kiến thức cơ bản, có
nắm được những kiến thức này mới giải quyết được những câu hỏi và bài tập) trong
tiết dạy cần cung cấp, truyền đạt cho học sinh.
- Đối với học sinh yếu kém không nên mở rộng, chỉ dạy phần trọng tâm, cơ
bản, làm bài tập nhiều lần và nâng dần mức độ của bài tập sau khi các em đã nhuần
nhuyễn dạng bài tập đó.
- Nhắc lại kiến thức kiến thức cơ bản, công thức cần nhớ ở cấp THCS mà các
em đã hỏng, cho bài tập lý thuyết khắc sâu để học sinh nhớ lâu.
- Phụ đạo theo từng chuyên đề. Sau đây là một số kiến thức trọng tâm học sinh
cần nhớ theo từng chuyên đề mà tôi đã biên soạn:
Chuyên đề 1: Hóa trị của các nguyên tố
Rất nhiều học sinh, ngay cả học sinh 12 không thuộc hóa trị của các nguyên tố.
Trong khi đó, vấn đề xác định hóa trị của một nguyên tố rất quan trọng để: viết
phương trình phản ứng hóa học, giải các bài tập liên quan đến phương trình, hóa trị
5


liên hệ mật thiết với việc xác định số oxi hóa, điện hóa trị, cân bằng phản ứng, viết
công thức hóa học,...
Sau đây là kinh nghiệm dạy phần hóa trị cho học sinh đầu cấp của bản thân đã
thực hiện và có hiệu quả giúp học sinh nhớ một cách ngắn gọn nhất hóa trị của một số
nguyên tố kim loại cơ bản, thường gặp:
* Đối với kim loại: thường gặp nhất là hóa trị I, II, III
Hóa trị
Nguyên tố

Hóa trị
II
II
III

Gốc axit
HCO3
SO3
S

Tên
hidrocacbonat
sunfit
sunfua

Hóa trị
I
II
II

- Cách xác định hóa trị trong hợp chất 3 nguyên tố có oxi:

Axa B ybOzc → a.x + b.y = c.z
Ví dụ 2:
a) Xác định hóa trị của Cl trong KClO3
Ta có: K thuộc nhóm IA nên có hóa trị I , oxi có hóa trị II
→ I.1 + b.1 = II.3 → b = V (hóa trị của Clo là V)
b) Xác định hóa trị của Lưu huỳnh trong hợp chất H2SO4
Ta có: H có hóa trị I, oxi có hóa trị II
→ I.2 + b.1 = II.4 → b = VI (hóa trị của Lưu huỳnh là VI)

trước H) còn Cu không phản ứng (do Cu đứng sau H)
- Khí sinh ra là khí hidro, ở phương trình Zn + HCl
- Viết phương trình hóa học, tính số mol khí, áp dụng quy tắc tam suất tính số
mol Zn, sau đó tính khối lượng Zn và cuối cùng suy ra khối lượng Cu.
Bài giải:
nH 2 

V
6,72

0,3mol
22,4 22,4

Zn + 2HCl → ZnCl2 + H2
0,3 mol
0,3 mol
Cu + HCl →
Khối lượng Zn: mZn n.M 0,3.65 19,5 gam
Khối lượng Cu: mCu = mhh - mZn = 26 - 19,5 =6,5 gam
Chuyên đề 3: Các công thức hóa học liên quan đến bài tập tính toán
7


Đối với một bài tốn, tùy theo dữ kiện đề bài cho mà ta áp dụng cơng thức cho
hợp lí. Giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách xác định các dữ kiện đề cho, vận dụng
cơng thức và định hướng cách giải.
Các cơng thức thường gặp
* Cơng thức tính số Mol:
Chú thích :


CM

n
 ct
Vdd

M
MA

* Cơng thức tính khối lượng :
a.
m n M

chất

Đơn

mol
gam
gam

dung

gam

dung

gam

hỗn

hợp
Khối lượng

mdd

* Cơng thức tính nồng độ mol:

Tên gọi

MB
Vdd
Vđ(dktc)

Thể tích ở ĐK tiêu
chuẩn
Nồng độ phần
trăm
Nồng độ mol
CM

 D lượng
m

V
ml
b.D dd
;
c.
dd
Khối


g/mol
lít
lít
%
Mol/lít
g/ml
%
%

* Cơng thức về khối lượng hay thể tích các chất trong hỗn hợp:
a.

%A 

mA
100% ;
mhh

b. % B 

mB
100% hoặc
mhh

% B 100%  % A
c.
* Tỷ khối của chất khí :

mhh m A  m B

m 26,7

0,2mol
M 133,5

2Al

+

3Cl2 → 2AlCl3
0,3 mol
0,2 mol
Khối lượng của Al: mCl = n.M = 0,3 . 71 = 21,3 gam.
Ví dụ 2: Hòa tan 11 gam hỗn hợp 2 kim loại Al và Fe vào V lít dd HCl 0,5M
thì thu được 8,96 lít khí H2 (đktc).
a) Tính % khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp đầu ?
b) Tính thể tích (V) của dung dịch HCl đã dùng ?
Tóm tắt đề và định hướng cách giải:
- Dựa vào dãy hoạt động xét xem hai kim loại này có phản ứng với dd HCl →
cả 2 kim loại đều đứng trước H nên đều phản ứng.
- Cho thể tích khí H2 ở điều kiện tiêu chuẩn → tính được số mol dựa vào công
thức : V(đktc) = n.22,4 → n = V(đktc)/ 22,4.
- Đối với bài toán cả hai kim loại (chất) đều phản ứng và cho bản chất của sản
phẩm phản ứng tương tự nhau thì ta giải bằng cách lập hệ phương trình.
- Lập hệ phương trình và dùng các dữ kiện đó để giải.
- Đối với câu b) yêu cầu tính thể tích dung dịch HCl khi biết nồng độ mol/lít
2

(CM = 0,5M), ta áp dụng công thức C M 


2

9


Từ (1) và (2), ta có:
+ Số mol của H2: 1,5x + y = 0,4
+ Khối lượng hỗn hợp: mAl + mFe = 27.x + 56.y = 11
Ta có hệ phương trình:
 n Al 0,2mol
1,5 x  y 0,4
 x 0,2
  
  

 27 x  56 y 11
 y 0,1
 nFe 0,1mol

Tính khối lượng mỗi kim loại: mAl = n.M = 0,2.27 = 5,4 gam
m

A
Áp dụng công thức tính thành phần phần trăm : % A  m 100%
hh

m .100

Al
→ % Al  m

giải pháp để giúp các em.
Để giải quyết vấn đề đặt ra, yêu cầu các em phải hiểu hết các khái niệm
như phương trình hóa học là gì? Phản ứng hóa học là gì? Chất bị biến đổi gọi là
gì? Chất khác ở đây là gì? Như vậy phương trình hóa học được ghi như thế nào?
Ví dụ 1: Kẽm phản ứng với axit clohiđric tạo thành muối kẽm clorua và
hiđro
- Chất tham gia ở đây là kẽm và axit clohiđric.
- Chất tạo thành ở đây là muối kẽm clorua và khí hiđro
- Ta có sơ đồ phản ứng: kẽm + axitclohiđric → kẽm clorua + hidro
- Đây mới chỉ là sơ đồ phản ứng bằng chữ, nếu dựa vào đây để giải một
bài tập hóa học thì chưa được, cần phải có một phương trình hóa học bằng công
thức hóa học cụ thể, như vậy để viết được một phương trình hóa học đòi hỏi các
em phải có những kiến thức sau:
+ Công thức của các chất tham gia cũng như các sản phẩm phải viết như
thế nào cho đúng.
+ Các chất đó thuộc đơn chất hay hợp chất.
10


+ Công thức của đơn chất hay hợp chất viết như thế nào.
Để thực hiện được các vấn đề trên, học sinh cần phải luyện tập viết đúng
kí hiệu hóa học của các nguyên tố, công thức của đơn chất, hợp chất.
Để hình thành kĩ năng viết đúng kí hiệu hóa học, ngay từ những bài đầu
học về nguyên tố hóa học, kí hiệu hóa học, giáo viên yêu cầu học sinh tập nghe,
nhìn, viết, đọc. Học nhìn giáo viên viết kí hiệu và luyện tập chứ không phải viết
một cách tuỳ tiện.
Để hình thành kĩ năng sử dụng công thức hóa học học sinh cần lưu ý:
+ Viết đúng công thức hóa học khi biết số nguyên tử của mỗi nguyên tố
tạo nên một phân tử chất.
Ví dụ 2: Công thức hóa học của nước gồm 2 nguyên tử H và một nguyên

Trước hết ta thay dấu ? bằng công thức hóa học hợp chất của Fe với nhóm
OH, nhớ trong trường hợp có hoá trị III, nhóm OH có hoá trị I. Công thức cần
điền là Fe(OH) 3.
Sau đó viết sơ đồ phản ứng: KOH+Fe 2(SO 4) 3 → Fe(OH) 3 + K2SO4
Ta thấy số nguyên tử Na ở vế trái là một, Fe là 2 và ở vế phải Na là 2 và
Fe là một, nên ta làm chẵn số nguyên tử Na và Fe trước.
2KOH + Fe 2(SO4) 3 → 2Fe(OH) 3 + K 2SO4
Tiếp đó cân bằng nhóm – OH vì một bên là 2, một bên là 6, cho nên ta đặt
hệ số cân bằng số 3 trước KOH: 2.3NaOH, số nguyên tử K một bên 6, một bên
2, cho nên đặt 3 trước K 2 SO4.
3.2KOH + Fe 2(SO 4) 3 → 2Fe(OH) 3 + 3K 2SO4
Phương trình hoàn chỉnh: 6KOH + Fe 2 (SO4 )3 → 2Fe(OH) 3 + 3K 2SO4
Cần lưu ý cho học sinh trong quá trình cân bằng không được thay đổi các
chỉ số nguyên tử trong các công thức hóa học. Không được viết 2O, 3N, 4H,…
vì các khí này ở dạng phân tử.
Hệ số phải viết bằng kí hiệu.
Nếu sản phẩm không tan ta viết kèm theo dấu mũi tên xuống, đặt cạnh
công thức hóa học của chất đó. Nếu là chất khí đặt dấu mũi tên quay lên. Nếu
phản ứng cần đun nóng kèm nhiệt độ (t o) trên mũi tên.
Như vậy muốn luyện tập cho các em biết cách lập phương trình hóa học ta
phải luyện cho các em từ phương trình đơn giản đến phức tạp.
* Đối với phản ứng là phản ứng oxi hóa - khử: ta xác định sự tăng hay
giảm số oxi - hóa, sau đó chọn hệ số và đưa vào phương trình và cân bằng các
nguyên tố còn lại.
2.3.2.2. Vận dụng kiến thức Hóa học giải thích một số hiện tượng thực tiễn
có liên quan đến bài học.
Trong quá trình giảng dạy ở trên lớp cũng như dạy phụ đạo, tôi đã tích hợp các
câu hỏi thực tiễn trong cuộc sống hằng ngày mà các em gặp có liên quan đến bài học
để giải thích, từ đó giúp các em hứng thú hơn với môn Hóa học vốn được cho là khô
khan và trừu tượng. Dưới đây là một số ví dụ:

Ví dụ 3: Vì sao nước biển lại mặn
Đây cũng là một hiện tượng tự nhiên, có trong thực tế nhưng chưa chắc có
nhiều học sinh biết được. Ở đây giáo viên dạy bài clo có thể đặt câu hỏi này nhằm
kích thích tính tò mò và ham học hỏi ở học sinh.
Giải thích như sau:
Các con sông, suối,...các dòng nước trên lục địa đều chảy về biển, đại dương
và hòa tan mọi vật thể có thể hòa tan. Do quá trình bay hơi các nguyên tố, hợp chất
tích tụ trong nước biển ngày càng nhiều theo thời gian, thông thường là các muối,
NaCl. Vị mặn của nước biển chủ yếu do muối natri clorua (NaCl) gây nên.
Ví dụ 4: Tại sao khi nấu nước lại có lớp cặn ở dưới đáy ấm? Cách tẩy lớp cặn
này?
Trả lời
Nước tự nhiên ở khu vực Na Mèo, Sơn Thủy, Mường Mìn, Sơn Điện là nước
cứng tạm thời, tức là nước có chứa muối Ca(HCO 3)2, Mg(CO3)2. Khi nấu sôi có
phương trình hóa học:
Ca(HCO3)2 � CaCO3 �+CO2 +H2O
Mg(CO3)2 � MgCO3 �+CO2 +H2O
CaCO3, MgCO3 sinh ra đóng cặn.

13


Cách tẩy cặn ở ấm: Cho vào ấm một lượng giấm (CH 3COOH 15%) và rượu
đun sôi để nguội qua đêm thì tạo thành một lớp cháo đặc chỉ hớt ra và lau mạnh là
sạch.
Áp dụng:
Tôi đưa thêm vấn đề này khi giới thiệu về nhóm IIA. Mục đích là cung cấp
mẹo vặt trong đời sống cũng góp phần cho học sinh hiểu bản chất của vấn đề có trong
đời sống hàng ngày. Học sinh có thể ứng dụng trong đời sống gia đình mình tạo sự
hứng thú học tập. Đó là thí nghiệm tự làm được.

( Bài thi học kỳ II)

147

1

0,68

15

10,20

53

36,05

78

53,07

147

9

6,12

30

20,41


học sinh yếu kém, trên cơ sở chuẩn kiến thức kỹ năng áp dụng cho các bộ môn.
- Đối với nhà trường: Kiến nghị với nhà trường và tổ chuyên môn tuyển chọn,
kết hợp các đề tài đã nghiên cứu, các sáng kiến kinh nghiệm nhằm giúp giáo viên
tham khảo nâng cao hiệu quả giảng dạy.
- Đối với giáo viên: Cần chú trọng quan tâm và đề cao hơn nữa việc phụ đạo
học sinh yếu kém. Khuyến khích các em đọc sách, tìm kiếm thông tin chuẩn bị bài
trước nhằm phục vụ tốt hơn cho giờ học trên lớp.
Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong việc phụ đạo học sinh yếu kém ở
nhà trường. Mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi thiếu sót, rất
mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, của các bạn đồng nghiệp để
sáng kiến này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hóa, ngày 08 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan SKKN trên là của tôi, không
coppy của người khác
TÁC GIẢ

15


Nguyễn Mạnh Cường

Phạm Thành Luân

MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG
1. THPT : trung học phổ thông
2. GV : giáo viên
3. HS : học sinh

Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên - Trường THPT Quan Sơn 2

TT

1.

Tên đề tài SKKN

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B, hoặc
C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

Sở GD &
ĐT Thanh
Hóa

C

2014 - 2015

Sở GD &
ĐT Thanh
Hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status