A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử địa phương từ lâu được xem là bộ phận không thể thiếu của lịch sử
dân tộc, tuy nhiên lịch sử địa phương lại chưa được học sinh chú ý. Trước đây
trong phân phối chương trình môn lịch sử của cấp trung học phổ thông (THPT)
chủ yếu là tìm hiểu về lịch sử thế giới nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng.
Giáo viên và học sinh chỉ tuân thủ theo sách giáo khoa (SGK), lấy SGK làm tài
liệu cơ bản. Có những địa phương từng diễn ra những sự kiện lịch sử tiêu biểu,
song học sinh cũng chỉ nắm được chung chung và thậm chí các em cũng không
biết được địa phương mình có những di tích lịch sử và công trình văn hóa nào.
Sau này Bộ giáo dục có đưa vào phân phối chương trình tiết dạy lịch sử địa
phương, nhưng hầu như giáo viên đều lúng túng, vì không biết phải dạy như thế
nào cho đúng, cho đủ.
Môn Lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ, từ
những nhận thức về quá khứ lịch sử, học sinh hiểu rõ truyền thống dân tộc, quê
hương đất nước, tự hào về những thành tựu trong quá trình dựng nước và giữ
nước của tổ tiên. Cũng như các môn học khác trong trường phổ thông, môn Lịch
sử cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoa học lịch sử để học
sinh nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Do vị trí và ý nghĩa quan
trọng của môn Lịch sử, việc học tập, tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử là một môn
học rất cần thiết đối với học sinh. Trong đó phần lịch sử địa phương là một nội
dung không thể bỏ qua, bởi địa phương là nơi gắn bó chặt chẽ và gần gũi nhất
đối với các em.
Từ việc cảm nhận đến hiểu biết các em nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ
giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc, từ đó nâng cao lòng tự hào về truyền
thống quê hương, đất nước của mình. Học lịch sử địa phương để biết được cội
nguồn của dân tộc, quá trình đấu tranh anh dũng và lao động sáng tạo của ông
cha, để biết quý trọng những gì mình đang có, biết ơn những người làm ra nó và
biết vận dụng vào cuộc sống hiện tại để làm giàu thêm truyền thống dân tộc. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy, ngay cả bản thân tôi từ khi còn học phổ thông những tiết
học lịch sử địa phương không để lại ấn tượng gì đặc biệt. Bởi một phần các tiết
Quan Sơn qua tiết học Lịch sử địa phương”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm nêu lên kinh nghiệm tổ chức giảng dạy lịch sử địa phương
trong nhà trường THPT Quan sơn, giúp học sinh có những kiến thức cơ bản về
truyền thống yêu nước, truyền thống đấu tranh cách mạng, lịch sử về sự hình
thành và phát triển và những đặc trưng văn hóa của địa phương Thanh Hoá. Từ
đó góp phần hình thành tình yêu quê hương, đất nước và bồi dưỡng những phẩm
chất đạo đức tốt đẹp trong tư duy và hành động của học sinh. Đặc biệt là giáo
dục lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc ý thức giữ gìn di tích lịch sử, có thái
độ và hành động trân trọng lịch sử của học sinh nói chung và học sinh lớp 10A1
nói riêng.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu về “Giáo dục lòng yêu nước, tinh thần
tự hào dân tộc và ý thức giữ gìn di sản văn hoá thế giới Thành Nhà Hồ cho học
sinh lớp 10A1 trường THPT Quan Sơn qua tiết học Lịch sử địa phương”.
4. Phương pháp nghiên cứu
+ Để thực hiện tốt đề tài này tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu hỗ trợ.
- Phương pháp phát vấn, nêu vấn đề.
- Trao đổi ý kiến với các đồng nghiệp để tiến hành dạy.
2
- Áp dụng kinh nghiệm phương pháp mới trên lớp.
- Kiểm tra đánh giá kết quả học sinh và làm bài thu hoạch.
- Ngoài việc soạn giáo án thực hiện trên lớp, giáo viên phải chuẩn bị thật
chu đáo cho chuyến đi đến tại thực địa, xin ý kiến của Ban giám hiệu, Hội cha
mẹ học sinh, chuẩn bị kinh phí và phương tiện đi lại…
5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Từ sự thành công của chuyến đưa học sinh lớp 10A1 đi thực tế tại di tích
B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Chủ trương đổi mới của Đảng và nhà nước ta đối với sự nghiệp Giáo
dục và Đào tạo
Đại hội Đảng lần thứ VI tháng 12 năm 1986 đã mở ra một bước ngoặt cho
nước ta bằng đường lối đổi mới một cách toàn diện. Bắt đầu từ đây, vấn đề giáo
dục, khoa học và công nghệ được đặt đúng vị trí và được quan tâm một cách
thích đáng. Tiếp đó, Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX lần lượt củng cố và hoàn
thiện thêm đường lối đổi mới trong đó coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và đề
cao “chiến lược con người”. Để thực hiện được chiến lược này, rõ ràng không
thể xem nhẹ việc giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, tinh thần dân tộc và
đặc biệt là thái độ của lớp trẻ đối với lịch sử, đối với cội nguồn, đó chính là
những viên đá đặt nền móng cho sự nghiệp hiện đại hoá - công nghiệp hoá để
đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, trở thành giàu mạnh và phồn
vinh.
1.2. Vị trí, vai trò của Lịch sử địa phương
Lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc có một mối quan hệ biện chứng
không thể tách rời, nằm trong cặp phạm trù “cái chung và cái riêng”. Tri thức
lịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể, sinh động và đa dạng của tri thức lịch sử
dân tộc. Lịch sử địa phương là một bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc. Nói cách
khác, lịch sử dân tộc được hình thành trên nền tảng khối lượng tri thức lịch sử
địa phương đã được khái quát và tổng hợp ở mức độ cao.
Chúng ta đều biết rằng, bất cứ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xảy ra
đều mang tính chất địa phương, vì nó gắn với một vị trí không gian cụ thể của
một địa phương nhất định dù rằng các sự kiện đó có tích chất, quy mô và mức
độ ảnh hưởng khác nhau. Có những sự kiện, hiện tượng chỉ có tác dụng ảnh
hưởng ở một phạm vi nhỏ hẹp nhưng cũng có những sự kiện, hiện tượng mà tác
động của nó vượt ra khỏi khung giới địa phương, mang ý nghĩa quốc gia, thậm
chí là ý nghĩa quốc tế. Mặt khác, tìm hiểu về lịch sử địa phương không chỉ là
công nghiệp du lịch là đáng kể nhất. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới và mở rộng
giao lưu quốc tế, nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử địa phương lại càng được
chú trọng.
Ở nước ta, việc nghiên cứu lịch sử địa phương, với tư cách là một ngành
khoa học được bắt đầu từ sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc. Sau ngày miền
Nam giải phóng, công tác này được tiến hành trên phạm vi cả nước. Hầu hết các
tỉnh đã biên soạn được lịch sử của tỉnh và kể cả của huyện, xã. Tuy nhiên, việc
dạy và học lịch sử địa phương ở các trường THPT trên cả nước nói chung và ở
các trường THPT ở miền núi cao biên giới nói riêng thì công tác này hầu như
chưa được coi trọng. Hiện trạng trên là do nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn
chủ quan mà chúng ta đều đã biết như: địa hình phức tạp, giao thông cách trở,
thiếu cán bộ nghiên cứu, thiếu kinh phí đầu tư thích đáng, chế độ, chính sách đối
với những người làm công tác nghiên cứu chưa hợp lý… Trong điều kiện đó, tôi
thiết nghĩ rằng việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương là trách nhiệm của
đội ngũ giáo viên dạy bộ môn Lịch sử.
Môn Lịch sử vốn có vị trí, ý nghĩa đối với việc giáo dục thế hệ trẻ. Từ
những hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hào với
những thành tựu dựng nước của tổ tiên, xác định vị trí trong hiện tại, có thái độ
đúng với sự phát triển hợp quy luật của tương lai. Trong nghị quyết Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 khoá 8 (tháng 2 năm 1997) đã khẳng
định vai trò của môn Lịch sử cùng các môn khoa học khác trong công tác giáo
dục. Không những ngày nay, nhà nước mới quan tâm đến giáo dục mà ngay từ
năm 1998, luật giáo dục cũng đã xác định “phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực của học sinh, bồi dưỡng năng lực học tập, có lòng say mê học tập
và có ý thức vươn lên”. Cũng như các môn học khác, đặc điểm và chức năng của
mình, việc học tập lịch sử lại cần phát huy tính tích cực của học sinh.
Lòng yêu quê hương là biểu hiện quan trọng nhất của lòng yêu nước chân
chính. Từ thuở bé thơ mỗi chúng ta đều biết về con người, cảnh vật, quá khứ nơi
chôn nhau, cắt rốn của mình. Những câu hát ru, những câu chuyện cổ tích của
5
lượng không lớn chỉ có 4 tiết trong cả ba khối lớp (10, 11, 12 ) nếu không muốn
nói là khiêm tốn. Có lẽ vì thế mà nhiều giáo viên chưa chú trọng, đầu tư vào các
tiết dạy chương trình lịch sử địa phương hoặc có khi còn bỏ qua, cho nên không
tránh khỏi những khó khăn cho giáo viên trong việc sưu tầm và lựa chọn nội
dung dạy - học mang tính địa phương. Vấn đề đặt ra là mỗi giáo viên phải lựa
chọn, xác định cho mình những nội dung và cách thức học tập phù hợp.
Có thể nói phần lịch sử địa phương là phần chương trình có khả năng dung
nạp lớn nhất mọi hình thức học tập (trên lớp, ở nhà, nội khoá, ngoại khoá, điền
dã...), cũng là phần có điều kiện thuận lợi nhất trong việc phát huy tính năng
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với phương pháp dạy - học tích cực. Vì
vậy, không nên dạy một cách qua loa, đại khái hoặc bỏ qua các tiết dạy – học
lịch sử địa phương.
6
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi quyết định viết đề tài này để nêu
lên những kinh nghiệm bản thân trong quá trình giảng dạy và đóng góp một ý
kiến nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của tiết dạy - học lịch sử địa phương.
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
3.1. Các bước xây dựng một giáo án lịch sử địa phương trên phần mềm
Power point.
Để xây dựng được một giáo án điện tử nói chung và một giáo án Lịch sử
địa phương nói riêng, giáo viên phải xây dựng giáo án theo mục đích và hình
thức sử dụng. Việc xây dựng giáo án cơ bản gồm các bước sau đây:
Bước 1. Trước tiên, giáo viên phải chọn những kiến thức cơ bản, ngắn gọn
nhưng phải đảm bảo tính chính xác và phù hợp với mục đích và hình thức sử
dụng trong nội dung bài giảng (Dựa vào SGK, tài liệu tham khảo và đặc biệt là
tài liệu thu thập được liện quan đến nội dung bài giảng lịch sử địa phương)
Bước 2. Giáo viên chọn Microsoft office Power point/Design hoặc New
B. Chuẩn bị
1. Giáo viên:
- Các tài liệu, tư liệu có liên quan: tranh ảnh, câu chuyện liên quan đến Hồ
Quý Ly và quá trình xây dựng thành.
- Giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm học sinh
2. Học sinh:
- Sưu tầm những tư liệu lịch sử về Hồ Quý Ly và Thành Nhà Hồ.
C. Tiến trình Dạy - Học
1. Ổn định lớp và kiểm tra sỉ số (1 phút)
2. Kiểm tra bài cũ (2 phút): Giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị tài liệu của học
sinh.
3. Bài mới: (40 phút)
Tiết 51: Tìm hiểu về triều Hồ và di tích Thành Nhà Hồ
Nội dung 1
Trước hết giáo viên gợi nhắc lại kiến thức cũ thuộc phần lịch sử Việt Nam
từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, đặc biệt là thời kỳ cuối triều Trần (cuối thế kỷ XIV).
GV có thể mở bài như sau:
Cuối thời nhà Trần, cuộc đấu tranh giữa khuynh hướng bảo thủ quân chủ
quý tộc của tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần và khuynh hướng quân chủ tập
trung quan liêu của lực lượng quan liêu, tầng lớp nho sỹ, mà người đại diện tiêu
biểu nhất là Hồ Quý Ly, đã diễn ra rất quyết liệt. Cuối cùng Hồ Quý Ly đã thắng
thế, năm Canh Thìn 1400, Hồ Quý Ly quyết định phế truất vua Trần Thiếu Đế,
tự lên làm vua, lập ra một vương triều mới, đặt quốc hiệu là Đại Ngu, vương
triều nhà Hồ chính thức được thành lập [1, tr 149].
Nội dung 2
NHÀ HỒ VÀ CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY
Hoạt động của thầy và trò
Hoạt động 1.
- Giáo viên (GV) nhắc lại hoàn cảnh dẫn đến
người làm phò mã nhà Lý lấy công chúa
Nguyệt Đích. Đến đời thứ 12 Hồ Liêm, dời
đến Đại La (Hà Trung – Thanh Hóa), làm con
nuôi Lê Huấn đổi họ Lê. Hồ Quý Ly là cháu 4
đời của Lê Huấn, sau khi giành được ngôi vua
thì đổi tên lại thành họ Hồ [2]
- 1375, Giữ chức tham mưu quân sự.
- 1380, Ông giữ chức Nguyên nhung Hải tây
đô thống chế.
- 1388 Thái úy Trần Ngạc và một số quý tộc
nhà Trần mưu giết Hồ Quý Ly nhưng không
thành.
- 1395 Ông được phong chức Nhập nội phụ
chính thái sư bình chương quân quốc trọng
sự, tước Tuyên trung vệ quốc đại vương.
- 1397 xây kinh đô mới ở An Tôn (Vĩnh Lộc
– Thanh Hoá) [5].
Tiểu sử Hồ Quý Ly:
- Hồ Quý Ly sinh năm Bính
Tý (1336), mất năm Đinh Hợi
(1407), tự là Ly Nguyên, vốn
thuộc dòng dõi Trạng nguyên
Hồ Hưng Dật, ngụ ở làng Bào
Bột, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh
Nghệ An.
- Hồ Quý Ly là người thông
minh có tham vọng lớn, biết
nhìn xa trông rộng [5]
hoá, giáo dục, quân sự...
- HS làm việc theo nhóm như đã phân công và
nêu rõ những cải cách.
- HS đại diện trình bày theo sự chuẩn bị.
- GV: Em có nhận xét gì về những cải cách
của Hồ Quý Ly?
- HS trả lời, GV chốt ý: Đây là một cải cách
táo bạo và hiếm có trong lịch sử Việt Nam, tuy
nhiên không được thực hiện lâu dài do quân
Minh xâm lược [3].
Hoạt động 3
2. Những biện pháp cải cách
của Hồ Quý Ly
-
Về chính trị:...
Về kinh tế - tài chính...
Về xã hội....
Về văn hoá – giáo dục...
Về quân sự - quốc phòng...
3. Ý nghĩa, tác dụng của cải
cách của Hồ Quý Ly
* Ý nghĩa, tác dụng
- Góp phần hạn chế việc tập
- GV: Với tình hình đất nước thời đó, cải cách trung ruộng đất của địa chủ.
của Hồ Quý Ly có tác dụng ntn?
- Làm suy yếu thế lực
tinh xảo, vuông vức, xếp
chồng khít lên nhau.
- Về cấu trúc: Thành được xây
dựng trên bình đồ gần vuông.
Thành có diện tích 142,2ha.
11
Tường thành chiều Nam – Bắc
dài 870,5m, chiều Đông – Tây
dài 883,5m. Thành nội có 4
cổng được mở ở chính giữa
của bốn bức tường [5].
- Về kỹ thuật xây thành:
Những khối đá khổng lồ gắn
với nhau chồng khít mà không
hề dùng một chất kết dính nào.
Đặc biệt các cổng thành được
xây dựng hình mái vòm,
những phiến đá được dẽo theo
hình múi bưởi xếp xít nhau
nhưng rất vững trãi.
4. Củng cố (1 phút):
- Những hiểu biết cơ bản về Hồ Quý Ly và những cải cách của ông
- Nét đặc sắc trong cách xây dựng Thành Nhà Hồ
5. Bài tập, dặn dò (1 phút):
- Tìm hiểu thêm về những cải cách của Hồ Quý Ly
13
14
Qua phần giới thiệu của hướng dẫn viên, các em rất hứng thú và chú ý theo
dõi. Thành Nhà Hồ hiện nay chỉ còn lại phần cổng thành và hệ thống tường
thành đá bao quanh. Phần nền móng còn lại hầu như đều đang chìm lấp dưới
những lớp đất, những ruộng lúa của nhân dân quanh vùng.
Sau khi nghe xong phần thuyết minh giới thiệu của hướng dẫn viên, GV
dẫn HS đi tham quan tìm hiểu một số vị trí khác như cổng thành phía Bắc, phía
Đông, phía Tây, thăm ngôi nhà cổ, thăm phiến đá mà nàng Bình Khương đập
đầu kêu oan cho chồng… Các em rất thích thú và đặt ra nhiều câu hỏi thú vị
như: Làm thế nào mà Hồ Quý Ly có thể đôn đốc dân phu xây dựng xong thành
chỉ trong 3 tháng? Làm thế nào để có thể xếp những phiến đá to thành những
cổng thành hình vòm vững chắc mà không hề có một chất kết dính nào?... Trong
khả năng của mình tôi đã giải đáp một phần những thắc mắc của các em.
Điều cốt lõi của chuyến tham quan học tập của các em HS lớp 10A1 tại di
tích Thành Nhà Hồ đó là không phải các em được ngắm nhìn những lâu đài cung
điện nguy nga lộng lẫy mà là các em được nhìn tận mắt một công trình kiến trúc
kỳ vĩ độc đáo vào bậc nhất ở khu vực Đông Nam Á và thế giới.
Trải qua hơn 600 năm tồn tại dưới sự khắc nghiệt của thời tiết, của chiến
tranh và sự tàn phá của con người, TNH vẫn còn đứng đó sừng sững. Chỉ những
công trình cung điện, lầu gác là không còn mà chỉ còn lại nền móng đang ẩn
dưới những lớp đất ruộng. Điều này đặt ra một vấn đề vô cùng bức thiết là làm
sao để bảo vệ được di tích TNH còn lại và phục dựng lại những công trình kiến
trúc xưa kia.
4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
4.1. Đánh giá chung
cả các bạn trong lớp đều rất phấn khích. Tuy nhiên lúc đó các em cũng chỉ nghĩ
là “được đi chơi là sướng chư học tập gì”.
Nhưng rồi khi vào Google tìm kiếm thông tin cũng như là khi cô đưa cả lớp
đến thực địa thì em cảm thấy thật sự tự hào về quê hương Thanh Hoá mình. Có
thể nền kinh tế của tỉnh ta vẫn còn thua kém nhiều địa phương trong cả nước
nhưng một điều chắc chắn rằng chúng ta không hề thua kém họ về bề
dày lịch sử cũng như những công trình kiến trúc lịch sử mang tính đặc sắc và
độc đáo.
Em Ngô Hà Thanh viết như sau: Di tích Thành Nhà Hồ là một minh chứng
sống động về sự sáng tạo trong lao động của ông cha ta. Tại mảnh đất lịch
sử này đã thấm biết bao máu xương của những người dân lao động hơn 600 năm
trước và bây giờ để lại cho chúng ta một công trình kỳ vĩ như thế này. Có thể nói
nơi đây là địa điểm tham quan hết sức bổ ích và có ý nghĩa đối với các thế hệ trẻ
ngày nay, bởi lẽ có tận mắt chiêm ngưỡng công trình này, tận tay sờ vào những
hiện vật ta mới thấm những hy sinh của những người lao động, chúng ta mới
thấy yêu quê hương đất nước hơn, cảm thấy tự hào về quê hương mình đang
sinh sống. Em nhận thấy trách nhiệm của mình và các bạn cần phải có trách
nhiệm bảo vệ và giữ gìn di tích này.
Em Vi Thị Hà viết như sau: Sau khi được tìm hiểu về di tích Thành Nhà Hồ
em rất thán phục sự sáng tạo của ông cha ta trong quá trình lao động. Cũng như
nhiều di tích lịch sử khác như Kinh thành Huế hay Hoàng thành Thăng Long…,
di tích Thành Nhà Hồ thể hiện trí tuệ của nhân dân ta khi xây dựng một công
trình kỳ vĩ để chống ngoại xâm. Nhưng tiếc thay Hồ Quý Ly, một anh hùng
nhưng lỡ vận!
Trên đây chỉ là một số bài viết của các em, tôi xin trích lại để thấy được
tiết dạy lịch sử địa phương của tôi ít nhiều cũng có tác dụng trong việc giáo
dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc cho học sinh, và giáo dục ý thức bảo vệ di
16
Điểm dưới TB
(˂ 5đ)
Số
Tỉ lệ
lượng
(%)
Lớp
Sĩ
số
10A1
31
11
36
15
48
5
16
0
10A1 thì trong giờ học lịch sử địa phương các em cũng đã rất cố gắng nhưng kết
quả vẫn không cao. Kết quả tổng hợp chung lớp 10A2 là: Điểm giỏi = 11%,
điểm khá = 64%, điểm TB = 23%, điểm dưới TB = 2%.
Như vậy, qua bảng trên rõ ràng cho ta thấy, mặc dù không có sách hướng
dẫn, ít tài liệu tham khảo, là những tiết học gần cuối năm, nhưng nếu có sự đầu
tư thích đáng, sự nghiêm túc trong giảng dạy, học sinh sẽ hứng thú học và yêu
môn Lịch sử này nhiều hơn.
17
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận
Qua kinh nghiệm giảng dạy phần lịch sử địa phương ở khối lớp 10, lớp 11
và lớp 12, tôi đã xây dựng cho mình một bộ giáo án về phần này. Tôi rút ra một
số kết luận sau:
Muốn dạy học có hiệu quả trong tiết Lịch sử địa phương và có ứng dựng
công nghệ thông tin, mỗi giáo viên cần chú ý một số yếu tố sau:
- Là người biết sử dụng máy vi tính và biết ứng dụng phần mềm
Powerpoint
- Biết kết hợp tốt các thao tác giảng dạy và việc trình chiếu trên màn hình.
- Phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, trong dạy học luôn “lấy
học sinh làm trung tâm”, phát huy năng lực của học sinh.
- Phải không ngừng tìm tòi, học hỏi từ bạn bè đồng nghiệp.
- Giáo viên phải yêu nghề tâm huyết với nghề và lắng nghe học sinh.
- Phải thực hiện nghiêm chỉnh chương trình, không được xem nhẹ phần
nào.
- Thấy rõ được vị trí quan trọng của lịch sử địa phương, mối quan hệ của
lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc.
- Biết lựa chọn kiến thức phù hợp với đối tượng học sinh. Đặc biệt những
khảo hoặc đưa ra một số giáo án mẫu để giáo viên trong tỉnh tham khảo.
Đồng thời có thể đẩy các tiết học Lịch sử địa phương ngay sau phần học
Lịch sử thế giới, bởi cũng có thể hiểu trước khi biết về lịch sử dân tộc thì học
sinh cũng cần biết về lịch sử địa phương, và cũng sẽ phần nào tránh được việc
dạy học bỏ trống mảng này.
Đối với các cấp lãnh đạo nhà trường nên có thêm nhiều sách tham khảo bổ
sung vào thư viện trường, và cần phải có phòng đọc sách để học sinh có điều
kiện học tập tốt hơn. Và nếu lớp nào có kế hoạch chu đáo để đi học tập lịch sử
địa phương thì nhà trường sẽ hỗ trợ một phần nhỏ kinh phí để kích lệ HS.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 06 tháng 05 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết,
không sao chép nội dung
của người khác.
Phạm Thị Hằng
19
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ...........................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu......................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................2
5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.................................................3
Sách giáo khoa:
Thành Nhà Hồ:
Sáng kiến kinh nghiệm:
THPT
Giáo viên
HS
SGK
TNH
SKKN
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
Các triều đại Việt Nam, Quỳnh Cư, Nxb Thanh Niên, HN, 2001
Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb KHXH, HN, 2000
Lịch sử Việt Nam, Huỳnh Công Bá, Nxb Thuận Hoá, 2008
Sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 (Cơ bản), Nxb Giáo dục, HN, 2006.
Nguồn Internet:
http://thanhnhaho.vn/
http://loigiaihay.com/y-nghia-tac-dung-cai-cach-cua-ho-quy-ly
http://doc.edu.vn/tai-lieu/bai-giang-lich-su-bai-16-nha-ho-va-cai-cachcua-ho-quy-ly
thắng Hàm Rồng – Nam Ngạn năm
1965 trong giờ học lịch sử địa phương
bằng phần mềm Powerpoint.
Hướng dẫn học sinh lớp 12A2, 12A5
trường THPT Quan Sơn chủ động
trong giờ học lịch sử bằng việc sử
dụng các sơ đồ dạy học
Cấp đánh
giá xếp
loại
Sở
GD&ĐT
tỉnh
Thanh
Hoá
Sở
GD&ĐT
tỉnh
Thanh
Hoá
Sở
GD&ĐT
tỉnh
Thanh
Hoá
Sở
GD&ĐT
tỉnh
24