Giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 12 trường THPT lang chánh qua một số tác phẩm văn xuôi hiện đại - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT
LANG CHÁNH QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI

Người thực hiện:
Phạm Thị Phượng
Chức vụ:
Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực:
Ngữ văn

PHẦN I : MỞ ĐẦU
THANH HOÁ NĂM 2017


Mục lục
Mục

Nội dung

Trang

I

Phần mở đầu


2

II

Phần nội dung

3

1

Cơ sở lí luận cơ sở thực tiễn của đề tài

3-4

2

Thực trạng trước khi tiến hành đề tài

5-6

3

Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

7 - 18

4

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm


và đánh giá tình hình thực tế; Phương pháp khảo sát bằng phiếu học tập; phương
pháp xử lí tình huống...
5. Những điểm mới của sáng hiến kinh nghiệm:
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về giáo dục đạo đức cho học sinh
thông qua giờ học văn đã giúp cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí xác định
đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở nhà trường để có
kế hoạch hoàn chỉnh, có sự quan tâm đúng mực trong việc giáo dục học sinh, từ
đó giúp cho tập thể sư phạm của trường thấy được nhiệm vụ quan trọng này để
ngoài việc dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm, hết lòng giáo dục các em phát triển
toàn diện cả tài lẫn đức.

2


Bên cạnh đó còn định hướng cho những giáo viên dạy bộ môn văn có
những phương pháp dạy hợp lí vừa phù hợp với đặc trưng thể loại vừa đáp ứng
yêu cầu của xã hội là dạy văn cũng là dạy đạo làm người.Một đất nước văn
minh, hiện đại thì những chủ nhân của đất nước đó không thể thiếu đức, thiếu tài
được.
***
PHẦN II: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của sáng kiến kinh nghiệm:
1.1. Về lý luận:
Nguyên tắc việc dạy văn là phải gắn với đời sống, phải phát huy vai trò
chủ thể của học sinh, phải chú ý đến mối quan hệ tái hiện, sáng tạo và tiếp nhận
mang tính độc lập của học sinh. Vì văn học là môn khoa học có tính nghệ thuật
ngôn từ, vì vậy người giáo viên cần vận dụng ngôn từ sao cho phù hợp với từng
đặc điểm học sinh.
Thông qua các phương tiện ngữ âm, từ vựng, các tác phẩm văn chương để
học sinh chiếm lĩnh được các hình ảnh, hình tượng tác phẩm văn chương . Do

đồng bào dân tộc thiểu số. Vì điều kiện cuộc sống nên thường thì gia đình phó
mặc việc giáo dục con em họ cho nhà trường. Trong mấy năm gần đây hành vi
đạo đức của học sinh trong trường đã có những biểu hiện không tốt. Hiện tượng
học sinh vô lễ với thầy cô giáo hoặc gây gổ đánh nhau, phá hoại cơ sở vật chất
của nhà trường có dấu hiệu gia tăng. Đi sâu vào chuyên đề giáo dục đạo đức học
sinh thông qua giảng dạy bộ môn mình phụ trách, tôi muốn đưa ra một số biện
pháp mà bản thân tôi đã làm, trường THPT Lang Chánh đã làm để đóng góp một
phần nhỏ bé của mình vào việc thực hiện mục tiêu của ngành giáo dục là đào tạo
các em trở thành con người toàn diện. Qua việc thực hiện đề tài này tôi nhận
thấy có nhiều kết quả khả quan, vấn đề đạo đức của học sinh trường THPT Lang
Chánh có những biến chuyển rõ rệt. Tôi thiết nghĩ nếu giáo viên chúng ta ai
cũng có nhận thức đúng đắn và kết hợp một cách có hiệu quả trong các môn học
của mình và các hoạt động trong nhà trường thì hiệu quả giáo dục đạo đức học
sinh của trường THPT Lang Chánh chắc chắn sẽ tốt hơn rất nhiều.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.1. Thực trạng vấn đề :
2.1.1 Về phía học sinh:
2


Là học sinh miền núi, hầu hết các em là con em gia đình lao động. Tuy
nhiên vì là con em gia đình lao động, có nhiều gia đình phụ huynh đi làm cả
ngày, có gia đình phụ huynh đi làm ở các nơi khác để các em lại ở với ông bà,
với cậu mợ, chú bác, cô dì… nên không được giáo dục chu đáo. Nhiều học sinh
học yếu, chưa ngoan, ham chơi điện tử, chưa tự giác trong học tập. Một số em
học sinh ở nhà, thường có hành vi đạo đức không tốt, nhà trường không thể kết
hợp với gia đình để giáo dục. Một số phụ huynh xem nhẹ việc học của con em
nên giáo viên rất khó khăn trong việc giáo dục các em.
Những biểu hiện của thực trạng đạo đức học sinh:
a. Tích cực: Đa số học sinh có đạo đức tốt, biết nghe lời cha mẹ, thầy cô,

thông chỉ thông qua môn Giáo dục công dân. Chúng ta biết rằng, kiến thức trong
những môn học nào cũng có tính giáo dục cả, vấn đề là người dạy phải biết lồng
trong mỗi bài học để định hướng cho học sinh. Nhiều giáo viên vẫn “nặng về
dạy chữ, nhẹ về dạy người”, chỉ tập trung giảng kiến thức chuyên môn, không
có thì giờ để uốn nắn chỉnh sửa những vi phạm của học sinh, nếu học sinh vi
phạm thì lập tức phê vào sổ đầu bài mà không nhắc nhở, những bài dạy, nội
dung có liên quan tới việc giáo dục đạo đức thì không linh hoạt áp dụng.
Chính vì vậy nên càng cần phải lồng ghép việc giáo dục đạo đức cho học
sinh trong mỗi giờ học, từ cử chỉ, tác phong, trang phục, ý thức học và làm bài,
nếu bài giảng có nội dung liên quan đến đạo đức thì cần khéo léo áp dụng, đặc
biệt như môn Ngữ văn… chứ không phải chỉ đặt nặng cho môn Giáo dục công
dân.
Qua nhiều năm đứng lớp, quan sát và đúc kết kinh nghiệm, kiến thức từ thực
tiễn, từ sách báo và bạn bè đồng nghiệp để góp phần giáo dục đạo đức học sinh
phù hợp với đặc điểm trường THPT qua giờ học Ngữ văn tôi tiến hành khảo sát
thực nghiệm trên ba lớp mà tôi đã dạy.
2.2. Số liệu điều tra xếp loại hạnh kiểm của học sinh trước khi thực
hiện đề tài:
Kết quả xếp loại hạnh kiểm năm học 2015-2016 của 3 lớp 11A6, 11A7, 11A8
như sau :
Lớp
11A6
11A7

Sĩ số
38
40

Tốt
16

Nghề giáo là một nghề đặc biệt. Hàng ngày, chúng ta thường xuyên tiếp
xúc với các em học sinh, những người không cùng lứa tuổi, thế hệ…với chúng
ta. Những quan sát hàng ngày cho thấy các em, ở lứa tuổi học sinh THPT thông
mà chúng ta đang trực tiếp giảng dạy có những rung cảm và những suy nghĩ
không giống người lớn. Vì vậy, một vấn đề đặt ra là chúng ta phải hiểu được các
em hiện có những gì, có thể làm được gì, các em sẽ thay đổi như thế nào và sẽ
có được gì trong quá trình sống và hoạt động theo lứa tuổi. Có hiểu được những
điều đó ta mới hiểu được nguyên nhân của những phẩm chất tâm lý đặc trưng
cho nhân cách. Mặt khác, ở mỗi lứa tuổi có những thuận lợi và khó khăn riêng,
đòi hỏi ta phải có phương pháp giáo dục thích hợp với từng lứa tuổi và từng cá
nhân. Trong quá trình dạy học và giáo dục nếu ta không chú ý tới điều đó thì dù
người giáo viên có am hiểu khoa học đến đâu cũng khó có thể đạt được kết quả
tốt trong công tác sư phạm của mình.
3.2. Tâm lí và phương pháp của giáo viên đứng lớp trong giờ học Ngữ
văn:
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học,
phải tạo tâm lí thoải mái, nhẹ nhàng cho học sinh trên nhiều phương diện: giọng
nói nhẹ nhàng, lượng kiến thức nhẹ nhàng, lượng câu hỏi vừa phải, học sinh có
giây phút được lắng đọng trong cảm xúc của tác phẩm, được suy nghĩ về một
vấn đề mà các em muốn tự mình khám phá…hoạt động của giờ học phải diễn ra
thật tự nhiên không hề gò ép, miễn cưỡng. Giáo viên phải làm sao khơi gợi hứng
thú say mê, có nhu cầu khám phá cho học sinh. Nói như nhà văn Tạ Duy Anh thì
“ bản chất của việc học văn là khám phá những bí mật về vẻ đẹp, khám phá
những bí mật về con người, khám phá sự kì lạ của ngôn ngữ… khi đó mỗi giờ
học văn giống như một cuộc thám hiểm vào những miền đất mới luôn hứa hẹn

2


vô số bất ngờ, thú vị”. Người thầy phải là người hướng các em đi đến những



cảm hướng thiện và tư duy phê phán, giúp trẻ có khả năng tự định hướng và lựa
chọn một lối sống tích cực. Lâu nay chúng ta thường nói về giáo dục đạo đức,
dạy làm người. Môn Văn là môn có điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện nhiệm
vụ này. Dạy Văn không phải là để dạy đạo đức, nhưng dạy Văn cũng không xa
lạ với dạy đạo đức, giống như dạy Văn không xa lạ với dạy cái hay cái đẹp, dạy
những hiểu biết về cuộc sống. Giáo dục về giá trị không phải là nội dung trực
tiếp và đặc thù của môn Văn, nhưng nó là một yêu cầu quan trọng và không thể
thiếu của dạy Văn.
Ví dụ khi dạy tác phẩm "Vợ nhặt"của Kim Lân, sau khi kết thúc nội
dung bài học, giáo viên đặt ra những câu hỏi vừa để củng cố kiến thức trọng tâm
vừa để lồng những bài học đạo lí cho học sinh như :"Từ câu chuyện nhặt vợ của
anh cu Tràng giữa những ngày đói khát, anh chị có suy nghĩ gì phẩm hạnh của
các nhân vật trong tác phẩm? Truyền thống nào ở những người nông dân trong
nạn đói mà anh,chị học tập được?". Cuối cùng GV đưa ra nhận xét và định
hướng cho học sinh những kiến thức sau: Thứ nhất, trước khi làm vợ Tràng, ở
người vợ nhặt cho thấy do cái đói dồn đuổi, thị đã bị méo mó về nhân cách và
hình hài,mạng người trở nên rẻ rúng. Thứ hai, ở nhân vật Tràng ta dễ dàng nhận
thấy niềm yêu sống và khát khao hạnh phúc đã khiến Tràng trở nên liều lĩnh
thách thức với cái đói. Thứ ba, tiềm ẩn ở bà cụ Tứ là tình yêu thương, sự bao
dung và niềm tin ở sự sống, hướng về tương lai ... Chính những điều đó làm hiện
lên chủ đề tư tưởng của tác phẩm qua đó giúp học sinh hiểu được trong hoàn
cảnh khó khăn, những người xấu xí như Tràng, như cô vợ “ham ăn” vẫn mong
cầu hạnh phúc. Ước muốn được có gia đình, có những bữa cơm sum họp, có mái
nhà chắn nắng, che mưa… là những ước muốn bình dị mà chân chính nhất. Dù
hoàn cảnh ra sao, khó khăn thế nào, tác phẩm này cũng nhắc nhở chúng ta, hãy
cứ lạc quan vào ngày mai tươi sáng, sống với ước mơ của mình, niềm tin của
mình, sống tốt với đời, với người bằng tất cả tấm chân tình mà ta có.
Còn ở truyện ngắn "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành ta thấy tinh

Hoài trên hai phương diện : Quê quán
và cuộc đời?
CH: Có những nhà văn nào có hoàn
cảnh như Tô Hoài mà em biết từ đó em
rút ra điều gì đối với các nghệ sĩ?
CH: Kể tên những tác phẩm chính của

NỘI DUNG CẦN ĐẠT
I. Tìm hiểu chung:
1. Tác giả:
- Quê: huyện Thanh Oai- Hà Nội->
Làng ven đô trở thành không gian nghệ
thuật quen thuộc trong nhiều sáng tác.
- Chỉ học hết bậc tiểu học, phải làm
nhiều nghề để kiếm sống trước khi cầm
bút.
2. Sự ngiệp sáng tác:
2.1. Tác phẩm chính: (sgk)
2


Tô Hoài?
CH: Từ tên gọi của tác phẩm, em hãy
cho biết những đề tài chính trong sáng
tác của ông?
CH: Nội dung chính trong sáng tác của
Tô Hoài là gì?

CH: Chỉ ra những nét đặc sắc về tài
năng nghệ thuật của Tô Hoài qua các

2.4. Nghệ thuật:
- Miêu tả tâm lí nhân vật
- Cách kể chuyện sống động, hấp dẫn.
- Lời văn giàu tính tạo hình và chất
thơ.
=> Vị trí : Cây bút văn xuôi tiêu biểu
của nền văn học Việt Nam hiện đại.
3. Tác phẩm:
3.1. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác.
- In trong tập " Truyện Tây Bắc"
(1953)
- Nhân chuyến đi dài 8 tháng cùng bộ
đội lên giải phóng Tây Bắc năm 1952.
3.2. Kết cấu: 2 phần
- Phần 1: Bức tranh thiên nhiên và
cuộc sống của người dân lao động
vùng núi cao Tây Bắc.
- Phần 2: Quá trình vận động từ tự hát
đến tự giác của người lao động.
3.3. Tóm tắt tác phẩm:
Mỵ và A Phủ -> Người Mông - Hồng
Ngài.
Mỵ - bị A Sử lừa bắt làm vợ -> Mỵ
phản kháng -> Thương cha chấp nhận
làm vợ A Sử -> Mỵ bị đày đọa cả thể
xác lẫn tinh thần -> Mùa xuân đến Mỵ
2


II. Hướng dẫn HS Đọc - hiểu văn

- Đầy khát vọng tự do, sự tự trọng,
hiếu thảo...
-> Mỵ là cô gái hội tụ đầy đủ điều kiện
để hưởng cuộc sống tự do, hạnh phúc.
1.2. Từ khi làm dâu
* Nguyên nhân:
- Vì món nợ " truyền kiếp" cha mẹ để
lại -> Mỵ - con dâu gạt nợ nhà giàu,
chịu kiếp sống như một nô lệ.
* Bị xã hội cũ vùi dập tàn khốc cả về
thể xác lẫn tinh thần:
-> Về thể xác:
+ “Con trâu con ngựa làm còn có lúc,
đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng
nhai cỏ, đàn bà con gái ở cái nhà ngày
thì vùi vào việc làm cả ngày lẫn đêm”
+ Bị trói đứng suốt đêm ngay giữa
ngày tết, bị đạp chân vào mặt, bị đánh
ngã xuống bếp khi ngồi sưởi lửa...
-> Về tinh thần:
+ “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó
cửa” . Tác giả cắt nghĩa: "Ở lâu trong
cái khổ, Mị quen khổ rồi"
2


CH:Như vậy Mị đã bị giai cấp thống
trị tước đoạt những gì?
CH: Hậu quả của chuỗi ngày bị đọa
đày ở nhà thống lí Pá Tra là gì?

* Bị vùi dập, bề ngoài Mỵ có vẻ cam
chịu nhưng tâm hồn cô luôn tiềm tàng
sức sống mãnh liệt.
- Phản kháng khi mới bị bắt về làm dâu
gạt nợ:
+ Khóc.
+ Trốn chạy.
+ Ý định tìm đến cái chết.
-> Nhận thức sâu sắc tình cảnh cùng
quẫn của bản thân, sống cũng như chết,
phản ứng tiêu cực của lòng yêu cuộc
sống và khát vọng tự do.
- Thể hiện trong " những đêm tình mùa
xuân đã tới"
+ Tác nhân:
. Cảnh vật:
. Rượu là chất xúc tác để tâm hồn Mị
trỗi dậy
. Tiếng sáo gọi bạn “vọng lại thiết tha,
bổi hổi"-> Tiếng sáo là biểu tượng của
khát vọng, tình yêu, tự do.

2


CH: Những biểu hiện phản kháng của + Diễn biến tâm trạng của Mị:
Mị trong " những đêm tình mùa xuân .Uống rượu
đã tới"?
.Thấy mình còn trẻ, muốn đi chơi
. Nghĩ lại cuộc sống không tình cảm

Sử trói Mị”, “Nhiều lần khóc, nước
mắt chảy xuống miệng, xuống cổ,
không biết lau đi được”
à Thương người
+ Nhận thức được tội ác của nhà thống
lí:
2


CH: Ý nghĩa nỗi sợ hãi của Mị khi
tưởng tượng ra cảnh A Phủ trốn được?

CH: Hành động cắt dây cởi trói cứu A
Phủ rồi cùng A Phủ chạy trốn khỏi
Hồng Ngài của Mị có ý nghĩa như thế
nào?

CH: Qua hình tượng nhân vật Mị, em
có nhận xét gì về tài năng của nhà văn
cũng như tư tưởng nhân đạo mà nhà
văn gửi gắm qua tác phẩm?

“Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến
chết. Chúng nó thật độc ác…”
+Thương cảm cho A Phủ:
“Cơ chừng chỉ đêm mai là người kia
chết, chết đau, chết đói, chết rét”
à Từ lạnh lùng thương cảm, dần dần
Mị nhận ra nỗi đau khổ của mình và
của người khác.


CH: Sự xuất hiện của A Phủ được
miêu tả qua chi tiết nào? Tác giả đã sử
dụng từ loại nào để khái quát nên con
người A Phủ qua đoạn văn?

CH: Hãy tái hiện lại số phận đặc biệt
của A Phủ?

CH: Số phận của A Phủ gợi cho em
liên tưởng đến nhân vật nào mà em
vừa được học?
CH: Qua những hành động của A Phủ
hãy khái quát nên tích cách của anh?

CH: Hãy tái hiện lại cảnh xử kiện và
cho biết dụng ý của nhà văn khi xây
dựng cảnh này trong tác phẩm?
(GV tích hợp phong tục xử kiện ở
Hồng Ngài và kiến thức về ma túy)

+ Nó tất yếu chuyển thành hành động
phản kháng táo bạo, chống lại mọi sự
chà đạp, lăng nhục để cứu cuộc đời
mình.
2. Nhân vật A Phủ
2.1.Sự xuất hiện
- " Một người to lớn... xé vai áo đánh
tới tấp"
-> Hàng loạt động từ chỉ hành động

CH: Qua cảnh A Phủ bị xử kiện, Tô
Hoài muốn phản ảnh tình trạng gì?
HĐ3: Hướng dẫn HS tổng kết bài
học.
CH: Tác phẩm đã thể hiện được những
giá trị gì? Biểu hiện của những giá trị
đó trong tác phẩm?

CH: Khái quát lại những thành công
về nghệ thuật của Tô Hoài khi viết "Vợ
chồng A Phủ"?

+ Hành động: đánh, quỳ lạy, chửi bới,
kể lể.
- Người bị kiện:
+ Tư thế : bị trói quỳ giữa nhà, im lặng
như tượng đá; mặt xưng, môi và đuôi
mắt chảy máu.
- Kết quả: A Phủ bị con ma nhà thống
lí nhận mặt con nợ -> A Phủ thành nô
lệ nhà thống lí Pá Tra.
-> Tố cáo sự tàn bạo của bọn chúa đất
và tình cảnh khốn cùng của người nông
dân trước cách mạng.
III. Tổng kết:
1. Nội dung:Giá trị hiện thực, nhân
đạo sâu sắc.
- Cảm thông sâu sắc với nỗi khổ vật
chất và nỗi đau tinh thần của các nhân
vật Mị và A phủ dưới chế độ thống trị

tới chúng ta, đừng cam chịu số phận,
hãy mạnh mẽ đứng lên. Chỉ có sự tự
chủ, lòng dũng cảm và thái độ kiên
quyết của chính bạn mới giúp bạn thay
đổi được vận mệnh cuộc đời. Ở đó, bạn
được quyền yêu ai bạn muốn yêu, lấy
ai bạn muốn lấy, sống cuộc sống nào
bạn muốn sống...Nếu chỉ chực chờ tia
sáng be bé lọt vào phòng từ khe cửa sổ
nhỏ hay cam chịu số phận đến nỗi ăn lá
ngón tự tử, một là bạn phải kết thúc
cuộc đời, bằng không bạn phải chấp
HĐ 4: Hướng dẫn HS củng cố kiến nhận sống cảnh lầm lũi, tù túng ấy.
thức bài học.
HĐ 5: Giao nhiệm vụ về nhà
1. Yêu cầu học sinh tìm đọc các văn
bản cùng loại, cùng chủ đề ngoài
chương trình(Cứu đất cứu mường,
Mường Giơn – Tô Hoài…)
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường:
Để kiểm tra lại những điều đã thực hiện và xem mức độ nhận thức của học
sinh như thế nào? Tôi đã đưa ra một số tình huống xoay quanh những vấn đề về
gia đình, tình yêu thương ông bà, cha mẹ , tình yêu thương giữa con người với
con người, tình yêu quê hương, đất nước…trong lớp học . Các em đã có cái nhìn
đúng mực hơn, thể hiện tình yêu thương sâu sắc đối với con người , quê
hương….qua cách trả lời của các em, tôi nhận thấy sự chân thực mà các em tự
bộc lộ. Các em đã thể hiện bằng hành động cụ thể “nhặt của rơi trả lại người
đánh mất” có em nhặt cả trăm nghìn vẫn mang lên nộp cho giáo viên để trả lại,


2
2

Tốt
35
36
31

Yếu
0
0
0

***
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Những học sinh cá biệt bước đầu có cái nhìn, cách ứng xử đúng đắn hơn
đối với thầy cô, bạn bè và mọi người xung quanh.
- Bồi dưỡng những tình cảm tự nhiên, trong sáng ở các em: yêu quê
hương , đất nước, yêu gia đình , làng xóm, yêu những tình cảm tốt đẹp , ghét cái
ác, cái xấu.
- Biết giúp đỡ , lễ phép đối với người tàn tật, người già yếu…
- Giảm bớt tâm lí chán học văn ở học sinh, nâng cao chất lượng học.
- Tổ chuyên môn cùng nhau đóng góp những ý hay, khắc phục những mặc
yếu của học sinh để nâng cao chất lượng chuyên môn hơn nữa.
2. Kiến nghị:
2.1. Đối với giáo viên:

2



Phạm Thị Phượng

2




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status