MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
V. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lý luận
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
1. Thực trạng chung
2. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài.
III. Một số giải pháp cụ thể
1.Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.
2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.
3. Vài lưu ý khi thực hiện các giải pháp.
4. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.
C. KẾT LUẬN
Trang
2
2
3
3
3
3
4
4
6
6
7
là một yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp phát triển giáo dục.
Thực ra điều này chúng ta đã làm bao năm nay, từ khi chúng ta đổi mới dạy
học theo chuẩn kiến thức kĩ năng nhưng nhìn lại đâu đó chúng ta vẫn còn quá chú
trọng nội dung bài học mà chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như khả
năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn.
Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THPT mà đặc biệt là giảng dạy
những tác phẩm tự sự dân gian, trước đây bản thân tôi cùng các đồng nghiệp vẫn quen
sử dụng phương pháp dạy học truyền thống. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức
lý thuyết và truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của
nhiều giáo viên. Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp
các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính
tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều. Việc rèn luyện kỹ năng sống,
kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng
tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm. Chính vì vậy mà quá trình dạy học môn
Ngữ Văn ở trường THPT vẫn còn nặng nề và chưa khai thác hết được tiềm năng sáng
tạo cho học sinh.
Trước những vấn đề đó bản thân tôi là một tổ trưởng chuyên môn cũng có nhiều
năm đứng trên bục giảng tôi luôn băn khoăn suy nghĩ, trăn trở làm cách nào có thể
2
nâng cao được chất lượng giáo dục học sinh và điều quan trọng hơn là học sinh qua
mỗi bài học các em có thể khám phá được những tri thức mới như thế nào và có thể
ứng dụng được gì vào trong thực tiễn cuộc sống. Chính vì điều đó tôi muốn cố gắng
nghiên cứu, tìm hiểu để có thể đưa ra được những phương pháp dạy học phù hợp với
thực tiễn dạy học Ngữ văn ngày nay. Đó là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu “Dạy học
theo định hướng phát triển năng lực học sinh qua chùm “Ca dao than thân yêu
thương tình nghĩa” trong chương trình Ngữ văn lớp 10.”. Tuy nhiên trong khuôn
khổ của sáng kiến kinh nghiệm nên trong đề tài tôi chủ yếu tâp trung nghiên cứu sâu
các phương pháp kỹ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực đối với một số
+ Dạy học đọc – hiểu.
+ Dạy học tích hợp
– Một số phương pháp dạy học tích cực:
+ Phương pháp thảo luận nhóm.
3
+ Phương pháp nghiên cứu tình huống
Từ những thu hoạch này, tôi hi vọng những cách tiếp cận, dạy – học theo
định hướng phát triển năng lực của người học sẽ trở nên có hiệu quả hơn, từ đó có thể
áp dụng rộng rãi cho việc dạy học các tiết đọc hiểu văn bản trong chương trình Ngữ
Văn lớp 10 nói riêng và chương trình Ngữ Văn THPT nói chung.
V. Phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm khoa học.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm.
- Phương pháp thử nghiệm để kiểm nghiệm một số kết quả mà đề tài đề xuất.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Dạy học được xem là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức
có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành
động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá
trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải
quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người
học. Trong giai đoạn hiện nay nền giáo dục của nước ta đã và đang thực hiện đổi
phận của họ vẫn bấp bênh như thế? Nhân vật trữ tình trong bài Ca dao có phải là một
trường
hợp
đặc
biệt
trong
xã
hội
cũ
không?
+ Phát hiện và đánh giá những khó khăn, thách thức đặt ra trong quá trình tạo lập văn
bản nói và viết.
- Năng lực sáng tạo : Mục tiêu cần hướng đến là hình thành cho học sinh khả năng
phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống để từ đó đề xuất các
giải pháp một cách thiết thực.
+ Có cách tiếp cận và cắt nghĩa độc đáo về nội dung, giá trị của tác phẩm
+ Phát hiện những nét nghĩa mới, giá trị mới của văn bản.
+ Có cách nói và cách viết sáng tạo, độc đáo, hiệu quả.
- Năng lực hợp tác: Mục tiêu cần hướng đến là hình thành cho học sinh khả năng
phối hợp, tương tác hỗ trợ nhau cùng thực hiện nhiệm vụ để cùng đạt mục tiêu chung (
chẳng hạn như thảo luận nhóm )
Thảo luận nhóm là phương pháp có thể áp dụng với nhiều bài học, điều quan trọng ta
phải chú ý là đề tài cho học sinh thảo luận phải là đề tài có tính phức hợp, có vấn đề,
cần huy động sự suy nghĩ của nhiều người.
Thông qua việc thảo luận nhóm có thể hình thành cho học sinh khả năng
+ Thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận cá nhân
+ Điều chỉnh thái độ, cách ứng xử
Ví dụ: Cảm nghĩ của em về tâm trạng của chủ thể trữ tình trong bài ca dao Khăn
thương nhớ ai?
- Năng lực tự quản bản thân (Thực chất là KNS). Mục tiêu cần hướng đến là hình
- Ca dao than thân ( bài 1; 2 ).
Việc dạy học các bài ca dao trong chùm Ca dao than thân yêu thương tình nghĩa
không chỉ yêu cầu học sinh nắm vững nội dung bài học mà còn phải biết cảm nhận
được cái hay cái đẹp của văn chương và những giá trị to lớn của văn hóa dân gian, từ
đó có thể hình thành những chuẩn mực trong suy nghĩ và trong hành động, có khả
năng giải quyết tình huống thực tiễn một cách linh hoạt.
II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM
1. Thực trạng chung
Từ những thực tế nói trên vấn đề dạy học gắn với phát triển năng lực học
sinh đã được đề cập nhiều và đã được áp dụng ở nhiều trường học, nhiều cơ sở
giáo dục. Ở trường THPT Mai Anh Tuấn, vấn đề này cũng hết sức được quan tâm từ
việc chỉ đạo của nhà trường đến việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng
nghiên cứu bài học và những đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên.
Phần Ca dao là một trong những nội dung lớn và quan trọng chiếm tỷ lệ cao trong tổng
số tiết học của chương trình Ngữ Văn lớp 10. Việc giúp học sinh đọc hiểu các văn bản
này không chỉ là để phát huy năng lực cảm thụ văn học của các em mà còn giúp các
em có thêm tình yêu đối với một di sản văn học của dân tộc, đồng thời góp phần phát
triển một số năng lực của người học. Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy của bản thân
và việc dự giờ đồng nghiệp, qua nhiều năm, tôi thấy việc dạy – học các văn bản Ca
dao trữ tình trong chương trình tại đơn vị chưa thật phát huy và khơi dậy tối đa các
năng lực của học sinh. Điều đó, thể hiện ở những tồn tại sau:
- Dạy học đọc – hiểu còn mang nặng tính truyền thụ một chiều những cảm nhận của
giáo viên về văn bản. Nhìn chung vẫn là chú trọng dạy kiến thức hơn là hình thành kỹ
năng.
- Dạy học tích hợp đã được chú trọng, tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn mang tính
khiên cưỡng, nội dung tích hợp vào bài học như giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng thực
6
A1.. khá là thơ ơ đối với môn Ngữ văn.
Chính vì vậy mà chúng ta cần phải thay đổi, thay đổi cả ở người dạy và ở người
học để sau mỗi bài dạy – học, học sinh không chỉ có được hiểu biết (kiến thức) mà
còn phải phát triển được năng lực bản thân , làm tăng thêm tình yêu đối với bộ môn
của các em, có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu về đổi mới giáo dục.
2. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài.
2.1 Thuận lợi:
Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá được lãnh đạo nhà
trường, tổ chuyên môn quan tâm chỉ đạo thực hiện một cách tích cực, có hệ thống,
bám sát chủ trương đổi mới nền giáo dục của Đảng và nhà nước.
- Đội ngũ giáo viên trẻ khỏe và có trình độ chuyên môn vững, được đào tạo chuẩn,
trên chuẩn và đã được tham gia các lớp tập huấn về chuyên môn do Sở giáo dục và
đào tạo tổ chức hàng năm.
7
Đa số học sinh học tập tích cực và có sự hợp tác chặt chẽ với giáo viên trong quá trình
dạy – học.
- Cơ sở vật chất được đầu tư: Mạng Internet, máy tính, máy chiếu được trang bị
phục vụ dạy học, học sinh được trang bị kiến thức về vi tính để khai thác thông tin
trên mạng Internet.
2.2 Khó khăn:
- Một số giáo viên chưa mạnh dạn thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, dạy học
còn mang nặng cách dạy truyền thống truyền thụ kiến thức mà chưa chú ý đến phát
triển năng lực ở học sinh.
- Một số học sinh chưa chăm học, thời gian dành cho môn học còn ít. Một số phụ
huynh cũng chưa thực sự quan tâm đến việc học của con cái. Cá biệt có phụ huynh còn
can thiệp vào những sở thích của con, áp đặt con phải đi theo khối này khối nọ dẫn đến
việc học sinh có thể quay lưng lại với bộ môn Văn.
- Nhiều gia đình học sinh chưa có máy tính, một số học sinh chưa biết khai thác
Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống. Các phương pháp dạy
học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại… luôn là những phương pháp quan
trọng trong dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các
phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến
để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của
các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu
cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như
tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải
thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm
thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học
truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học
truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những
phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh.
Chính vì vậy chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau đây:
2.1 Đổi mới khâu thiết kế hoạt động dạy học môn Ngữ Văn theo định hướng phát
triển năng lực của học sinh.
Định hướng thiết kế bài học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực của
học sinh. Một giờ dạy học thành công là do sự chi phối của nhiều yếu tố. Chuẩn bị một
giờ dạy học là một trong những yếu tố quan trọng, nó quyết định không nhỏ tới thành
công của một giờ dạy. Có chuẩn bị tốt, chu đáo, kĩ càng thì hiệu quả của một giờ dạy
sẽ được nâng lên một cách rõ ràng.
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực
hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác
động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học.
Để phát triển năng lực của học sinh trong giờ Ngữ văn cấp THPT, cần đổi mới
mạnh mẽ việc thiết kế bài học từ phía giáo viên. Trong thiết kế, giáo viên phải cho
thấy rõ các hoạt động của học sinh chiếm vị trí chủ yếu. Với giáo viên, phương pháp
thuyết cũng như thực tiễn, qua đó giúp học sinh khắc sâu hơn kiến thức mới.Theo tinh
thần trên, thiết kế bài học được biên soạn theo các chủ đề, tổ chức hoạt động cho học
sinh theo 5 bước gồm: Hoạt động trải nghiệm, hoạt động hình thành kiến thức mới,
hoạt động thực hành, hoạt động ứng dụng, hoạt động bổ xung. Trong mỗi chủ đề, các
đơn vị kiến thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất. Mỗi đơn
vị kiến thức được hướng dẫn học theo một cấu trúc thống nhất gồm các hoạt động,
trong đó có hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm; hoạt động với giáo viên và gia
đình. Mỗi hoạt động trong tiến trình học tập được xây dựng với mục tiêu, nội dung và
cách thức cụ thể như sau:
2.1.1. Hoạt động trải nghiệm
* Mục đích của hoạt động
- Hoạt động trải nghiệm giúp học sinh huy động vốn kiến thức và kỹ năng để chuẩn bị
tiếp nhận kiến thức và kỹ năng mới.
- Giúp học sinh tạo hứng thú để bước vào bài học mới
- Giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết như thế nào về những vấn đề trong
cuộc sống có liên quan đến nội dung bài học.
* Nội dung, hình thức trải nghiệm
- Câu hỏi, bài tập: có thể là quan sát tranh/ảnh hoặc sân khấu hóa để tìm hiểu sâu sắc
một vấn đề đó có liên quan đến bài học; hoặc trực tiếp ôn lại kiến thức đã học ở
cấp/lớp dưới, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi đơn giản, nhẹ nhàng.
VD: Trước khi học bài Ca dao than thân yêu thương tình nghĩa tôi hướng dẫn các em
về nhà tìm hiểu trên mạng Internet những bài dân ca quan họ, những bài hát ru. Yêu
cầu các em có thể học và tập để thể hiện một số làn điệu dân ca, hay hát ru.
- Thi đọc, ngâm, hát...: một số hoạt động yêu cầu học sinh đọc diễn cảm, diễn xướng
tác phẩm hoặc hát về chủ đề liên quan đến bài học. Các hoạt động này trong một số
trường hợp được thiết kế thành các cuộc thi, nhằm tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú
trước khi tiến hành học bài mới.
2.1.2. Hoạt động hình thành kiến thức mới
* Mục đích của hoạt động
10
viên.
2.1.3. Hoạt động thực hành
* Mục đích của hoạt động
Yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức vừa học được ở hoạt động hình thành
kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể. Thông qua đó giáo viên xem học
sinh đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm được ở mức độ nào.
* Nội dung và hình thức các bài tập/nhiệm vụ
- Hoạt động thực hành gồm các bài tập/nhiệm vụ yêu cầu học sinh củng cố các tri thức
vừa học và rèn luyện các kỹ năng liên quan.
- Các bài tập/nhiệm vụ trong phần thực hành cũng theo trình tự; Đọc hiểu văn bản,
Tiếng Việt và Tập làm văn.
- Các bài tập/nhiệm vụ trong Hoạt động thực hành tập trung hướng đến việc hình
thành các kỹ năng cho học sinh, khác với bài tập trong Hoạt động hình thành kiến thức
mới chủ yếu hướng tới việc khám phá tri thức. Đây là hoạt động gắn với thực tiễn bao
gồm những nhiệm vụ như: trình bày, viết văn...
11
Lưu ý:
Học sinh có thể được hướng dẫn hoạt động cá nhân hoặc nhóm để hoàn thành các câu
hỏi, bài tập, bài thực hành...Hoạt động cá nhân để học sinh hiểu và biết được mình
hiểu kiến thức như thế nào, có góp gì vào hoạt động nhóm và xây dựng các hoạt động
của tập thể lớp. Hoạt động nhóm để trao đổi, chia sẻ kết quả mình làm được, thông qua
đó học sinh có thể học tập lẫn nhau, tự sửa lỗi cho nhau, giúp cho quá trình học tập của
học sinh hiệu quả hơn. Kết thúc hoạt động này học sinh sẽ trao đổi với giáo viên để
được bổ xung, uốn nắn những nội dung chưa đúng.
2.1.4. Hoạt động ứng dụng
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyết các vấn
đề, nhiệm vụ trong thực tế. "Thực tế" ở đây được hiểu là thực tế trong nhà trường,
- Tìm đọc sách, báo, mạng internet ...một số nội dung theo yêu cầu.
12
Lưu ý:
- Các nhiệm vụ trong Hoạt động bổ xung được thiết kế cho học sinh tự làm việc ở nhà.
- Hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ theo nhóm, đồng thời yêu cầu học sinh làm
các bài tập đánh giá năng lực.
Thời gian cho mỗi hoạt động cần được xác định sao cho phù hợp với số tiết học được
phân bố cho từng cụm bài/chủ đề, thời khóa biểu lên lớp của giáo viên.
Trong thiết kế bài học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh cấp
THPT nói trên, giáo viên cần xác định và nêu rõ các cách thức tổ chức hoạt động cho
cá nhân, hoạt động cho cặp đôi, hoạt động nhóm, hoạt động chung cả lớp, hoạt động
với cộng đồng.
+ Hoạt động cá nhân: là hoạt động yêu cầu học sinh thực hiện các bài tập/nhiệm vụ
một cách độc lập. Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả năng hoạt động độc lập
của học sinh, diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là đối với các bài tập/nhiệm vụ có yêu cầu
khám phá, sáng tạo, hoặc rèn luyện đặc thù. Giáo viên cần đặc biệt coi trọng hoạt động
cá nhân vì nếu thiếu nó, nhận thức của học sinh sẽ không đạt tới mức độ sâu sắc và
chắc chắn cần thiết, cũng như các kỹ năng sẽ không được rèn luyện một cách tập
trung.
+ Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm: là những hoạt động nhằm giúp học sinh phát
triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộng đồng.
Khi tổ chức hoạt động này, giáo viên cần xác định rõ mục đích, nội dung bài tập/nhiệm
vụ cho phù hợp với hoạt động cặp đôi hay hoạt động nhóm. Thông thường, hình thức
hoạt động cặp đôi được sử dụng trong những trường hợp, những bài tập cần sự chia
sẻ. Ví dụ: kể cho nhau nghe, nói với nhau một nội dung cần chia sẻ, đổi bài cho nhau
để đánh giá chéo,...Hình thức hoạt động nhóm được sử dụng trong trường hợp cần sự
hợp tác.
+ Hoạt động chung cả lớp: là hình thức hoạt động phù hợp với số đông học sinh. Đây
được chắt lọc qua bao thế hệ. Vẻ đẹp của ngôn ngữ Ca dao là “cái đẹp trong sự giản
dị”
(M,Gorki).
Ca dao giáo dục nhân cách con người theo con đường riêng của nó. Từ những rung
cảm thẩm mĩ, con người tự biết sống một cách nhân nghĩa, tốt đẹp hơn. Như vậy Ca
dao không giáo dục theo cách của các nhà truyền giáo mà theo cách của người bạn
đồng hành: nhẹ nhàng, tâm sự, ngăn chặn, cảnh tỉnh thông qua những hình tượng nghệ
thuật thẩm mĩ. Nói cách khác Ca dao biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo
dục. Điểm độc đáo của nó là: hấp dẫn, vui tươi, không lên gân, không áp đặt.
Ca dao nói riêng, văn học dân gian nói chung là phần mở đầu cho chương trình Ngữ
văn phổ thông nói chung và cho chương trình Ngữ văn 10 nói riêng. Đến với Ca
dao các em đến với phần tình cảm và sáng tạo nghệ thuật sơ khai nhất nhưng cũng rất
tinh tế, sâu sắc của con người. Chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa vừa có ý
nghĩa rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu ban đầu cho học sinh, vừa tạo không khí thoải mái
để các em có hứng thú với Ngữ văn THPT.
2.2.1 Giải pháp thứ nhất: Xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm về Ca dao
nói chung và ca dao yêu thương tình nghĩa nói riêng. Giáo viên hướng dẫn cho
học sinh thực hiện.
Để giúp học sinh thực hiện được hoạt động này chúng ta có nhiều phương án để
lựa chọn. Chẳng hạn như giáo viên có thể báo cáo với Ban giám hiệu nhà trường tổ
chức cho học sinh đi thăm quan quê hương quan họ Bắc Ninh và giao lưu với các liền
anh liền chị. Tuy nhiên không phải giáo viên ở trường nào cũng có thể làm được điều
này vì còn liên quan đến kinh phí, thời gian tổ chức , cũng như các điều kiện khác. Do
vậy chúng ta có thể lựa chọn những phương án khác. Cách thông thường mà chúng tôi
thường làm sẽ lồng ghép nội dung này vào bài dạy Ca dao bằng cách trước khi hướng
dẫn học sinh đi vào bài học chúng ta có thể tranh thủ giới thiệu những nét khái quát về
ca dao thông qua các tư liệu tranh ảnh phim tài liệu để các em có thể hiểu thêm về loại
hình diễn xướng dân gian này. Bên cạnh đó giáo viên cũng có thể vận dụng làm việc
này vào các tiết tự chọn để tổ chức cho học sinh những hoạt động trải nghiệm về ca
dao đặc biệt là ca dao than thân yêu thương tình nghĩa.Với các hoạt động trên có thể
vừa hướng tới phát hiện đặc trưng của cả chủ đề.
Câu hỏi trong dạy học chủ đề Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa cũng
cần phải hướng đến việc giúp các em rút ra được những bài học, hoặc kiến tạo được
những giá trị sống cho mình, hoặc hướng tới rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận về
một vấn đề đặt ra trong Ca dao.
Sau khi định hướng cách thức đọc – hiểu chủ đề, hệ thống câu hỏi phải được sắp xếp
theo một hệ thống vừa bám theo cách thức đã được định hướng, vừa rèn luyện cho học
sinh kĩ năng đọc – hiểu, để cuối chủ đề học sinh vừa được hình thành tri thức vừa
được thành thạo kĩ năng đọc - hiểu chủ đề Ca dao.
Chủ đề Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa là một chủ đề có thể dễ dàng
đa dạng các hình thức hoạt động cho học sinh, chính vì thế câu hỏi đưa ra không phải
cứ bắt buộc học sinh phải trả lời mà có những câu hỏi hướng tới định hướng hoạt động
cho học sinh để tạo không khí vui vẻ, thoải mái
2.2.3 Giải pháp thứ ba là:Tăng cường thời lượng hoạt động của học sinh trong
các tiết dạy ở trên lớp.
15
Thông thường trong giờ dạy đọc hiểu văn bản theo cách truyền thống học sinh
rất ít khi được thực hành. Chủ yếu là các em thường hoạt động theo mô típ: Nghe thầy
cô hỏi – Suy nghĩ trả lời – Nghe thầy cô nhận xét kết luận – Ghi chép. Việc hỏi đáp ở
đây cũng diễn ra nhưng nhiều khi chỉ mang tính hình thức. Nhiều khi các thầy cô hỏi
rồi lại tự trả lời lấy và dần dần lại biến giờ dạy trở thành những giờ dạy độc diễn. Thực
trạng này dù không muốn nhưng vẫn cứ xảy ra khá nhiều trong những giờ dạy Ngữ
Văn và dần dần lại trở thành một thói quen cố hữu trong ta. Cũng cần phải nhìn nhận
một cách khách quan là có rất nhiều yếu tố tác động đến giờ dạy, song theo chúng tôi
vai trò tổ chức hoạt động của người thầy là vô cùng quan trọng. Việc tổ chức cho học
sinh hoạt động ở đây không chỉ đơn thuần diễn ra ở những tiết thực hành mà ngay cả
ở những tiết dạy đọc hiểu chúng ta vẫn có thể tổ chức cho học sinh hoạt động dưới
nhiều hình thức khác nhau. Một giờ dạy thành công là một giờ dạy mà giáo viên phải
chung hiện nay thì có nhiều học sinh không mặn mà với môn Văn lắm. Vì vậy khi giáo
16
viên giao nhiệm vụ cho các em thì các em thường không hoàn thành hoặc không tự
giác hoàn thành. Chính vì vậy việc kiểm tra mức độ hoàn thành nhiệm vụ của học sinh
là điều cần thiết. Việc đổi mới tư duy trong đánh giá kiểm tra của giáo viên cũng là
điều cần thiết. Chẳng hạn khi giảng tôi thường không kiểm tra bài cũ của học sinh và
tôi cũng không dùng thuật ngữ này. Thay vào đó tôi thường Kiểm tra mức độ hoàn
thành nhiệm vụ mà tôi đã giao ở tiết trước ( hay là kiểm tra sự chuẩn bị bài của các em
trước khi đến lớp). Cách đánh giá cũng sẽ thay đổi. Thông thường tôi chỉ đánh giá học
sinh ở ba mức độ: Hoàn thành tốt; Hoàn thành nhiệm vụ và Không hoàn thành nhiệm
vụ. Tất nhiên chúng ta cũng có thể quy các mức đánh giá này ra thang điểm để cho
điểm học sinh. Với cách làm như vậy giáo viên vừa có thể khuyến khích học sinh tìm
hiểu nghiên cứu bài học trước ở nhà vừa cũng có thể ràng buộc các em phải hoàn
thành nhiệm vụ trước những bài học. Lâu dần cũng có thể hình thành cho các em
những thói quen tự nghiên cứu chiếm lĩnh tri thức, kích thích niềm đam mê và sáng
tạo của học sinh.
3. Vài lưu ý khi thực hiện các giải pháp.
Có thể nhận thấy rằng: các giải pháp nêu ra gắn với trình tự của một giờ
dạy học, do vậy mỗi giải pháp được xem là một thành tố góp phần làm cho hoạt
động dạy học đạt kết quả cao. Để học sinh thực sự làm chủ quá trình học tập giáo
viên cần kết hợp một cách đồng bộ các giải pháp nói trên. Phát triển năng lực học
sinh không phải là dạy cho học sinh nắm bắt được kiến thức hoàn thành tốt bài kiểm
tra trong các kỳ thi mà phải giúp học sinh tự tìm ra những thắc mắc, những mâu thuẩn
và biết cách để giải quyết mâu thuẫn đó.
Để đề tài được áp dụng phổ biến trong dạy học Ngữ Văn ở trường THPT cần có
sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các cấp quản lý giáo dục và cần sự nỗ lực, cố gắng hết
mình của giáo viên giảng dạy với sự kết hợp của công nghệ thông tin và kiến thức liên
môn. Trong quá trình thực hiện đòi hỏi giáo viên cần phải nhiệt huyết với nghề, đầu tư
10K
40
10M
42
Năng lực
đọc hiểu VB
25/40
62.5%
36/42
85.7%
Năng
lực hợp
tác
19/40
47.5%
28/42
66.6%
Năng
lực giải
quyết
tình
huống
22/40
55%
33/42
Tuấn. Đồng thời có thể chia sẻ kinh nghiệm của bản thân với các đồng nghiệp. Mặc dù
rất cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu còn ngắn, năng lực bản thân cũng có hạn
nên ắt hẳn không thể tránh khỏi những sai sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp
của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn trong tương lai.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 18 tháng 5 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm
của mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Phạm Văn Khang
18
Xin chân thành cảm ơn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Tục ngữ ca dao, dân ca Việt Nam - Vũ Ngọc Phan – NXB Khoa học xã hội in lần
thứ 8, Hà Nội 1978.
[2]. Thi pháp pháp ca dao – Nguyễn Xuân Kính – NXB DHQG Hà Nội
[3]. Từ điển thuật ngữ văn học – Trần Đình Sử - NXB ĐHQG Hà Nội
[4]. Phương pháp dạy học văn – Phan Trọng Luận - NXB ĐH quốc gia Hà Nội
[5]. Sách giáo khoa Ngữ Văn10, Sách giáo viên Ngữ Văn 10 – NXB Giáo Dục
[6]. Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng
phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn – Bộ giáo dục đào tạo – năm 2014.
[7]. Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên - NXB Đà Nẵng. 1998
[8]. Các tài liệu trên mạng Internet
- Nguồn:
- Năng lực đọc - hiểu Ca dao theo đặc trưng thể loại.
- Năng lực trình bày cảm nhận của bản thân về ý nghĩa của các văn bản.
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về giá trị nội dung và nghệ thuật của văn
bản.
BƯỚC 4: Xác định và mô tả mức độ yêu cầu của mỗi loại câu hỏi/ bài tập cốt lõi có
thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học.
Mức độ vận dụng và vận
Mức độ nhận biết
Mức độ thông hiểu
dụng cao
Nêu những nét chính
về ca dao
Chỉ ra được nội dung của ca
dao trữ tình.
20
Phát hiện ra được dấu Cắt nghĩa một số từ ngữ,
hiệu ngôn ngữ trong ca hình ảnh, biện pháp tu từ
dao
trong các bài ca dao.
Đánh giá việc sử dụng ngôn
ngữ trong các bài ca dao.
Xác định thể thơ
Chỉ ra những đặc điểm về
kết cấu, vần nhịp của thể
thương tình nghĩa?
Qua các chùm ca dao than
thân, yêu thương tình nghĩa
cho em hiểu gì về tâm hồn
– Em hãy nhóm các bài ca của người lao động trong xã
dao từ 1-> 6 theo nội
hội xưa?
dung cac dao than thân,
yêu thương tình nghĩa?
Cắt nghĩa một số từ ngữ Em thấy việc sử dụng thể
hình ảnh trong các bài ca thơ đó có hợp lý không? Vì
dao?
sao?
– Những từ ngữ nào trong
các bài ca dao giúp em
xác định được nhân vật
trữ tình?
Em có nhận xét gì về tâm
– Tâm trạng của nhân vật trạng của nhân vật trữ tình
Nhân vật trữ tình trong các trữ tình trong bài ca dao là trong bài ca dao?
bài ca dao là ai?
gì?
Bài ca dao than thân: Bài1 – Hãy cắt nghĩa lí giải từ – Đọc những câu ca dao mở
– Mở đầu bài ca dao là
“Thân em, tấm lụa đào”? đầu có cụm từ Thân em?
hình ảnh nào? Biện pháp
21
Ý nghĩa của số chữ không
đều trong các câu?
Qua bài ca dao số 1,4 em có
cảm nhận gì về hình tượng
người phụ nữ trong xã hộ
xưa?
BƯỚC 6: Thiết kế tiến trình dạy học
– Xác định các văn bản được dùng dạy học đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại và
vấn đề trọng tâm cần đọc hiểu ở mỗi văn bản:
+ Bài 1: Chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa: Tập trung tìm hiểu ngôn ngữ
thơ và tiếng hát than thân.
+ Bài 4: Chùm ca dao than thân yêu thương tình nghĩa: tập trung tìm hiểu thể thơ,
ngôn ngữ thơ và tiếng hát yêu thương tình nghĩa của người dân lao động trong xã hội
xưa.
– Xác định các văn bản được dùng để học sinh luyện tập/ tự học. Các bài 2,3,5, 6 trong
chùm ca dao than thân yêu thương yêu thương tình nghĩa;
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
NỘI DUNG CẦN ĐẠT
HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG 5 phút
HS thực hiện được yêu cầu của GV, tìm
được các lời đáp cho các bài ca dao đã nêu.
– Hình thức: cả lớp
– Kĩ thuật: trò chơi
Bước 1:Chuyển giao nhiệm vụ học tập
Gv chia lớp thành 4 nhóm
B2: HS suy nghĩ, trả lời.
B3: HS trình bày.
B4: GV nhận xét, chốt lại.
I.Tìm hiểu chung về ca dao:
1.Khái niệm
Ca dao: lời thơ trữ tình dân gian, thường kết
hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng
tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con
người.
2. Phân loại
– Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa.
– Ca dao hài hước.
3. Nội dung, nghệ thuật
- Về nội dung:
+ Ca dao là tiếng nói tình cảm của người
bình dân
+ Tình cảm trong Ca dao giản dị, mộc
mạc, chân thành nhưng cũng rất đằm thắm,
tinh tế, sâu sắc.
+Tiếng nói tình cảm trong Ca dao là tiếng
nói chung. Ca dao là “Tiếng nói của vạn
nhà”, là “Tấm gương soi của tâm hồn dân
tôc”.
- Về hình thức:
+ Ca dao phần lớn sử dụng thể loại dân tộc:
lục bát, song thất lục bát
+ Ca dao sử dụng các biện pháp tu từ: so
23
B3: Đại diện 3 nhóm trình bày. Các
nhóm khác nhận xét, bổ sung.
B4: GV nhận xét, chốt ý.
sánh, ẩn dụ và các biểu tượng: giếng nước,
sân đình, bến đò..
+ Ngôn ngữ Ca dao mộc mạc, giản dị, trong
sáng, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày.
- Hình thức diễn xướng của Ca dao là hát
dân ca. Ca dao là lời của các bài hát dân ca,
nó gần gũi trong đời sống hằng ngày, hấp
dẫn sinh động và lôi cuốn
II. Đọc – hiểu chùm ca dao than thân,
yêu thương tình nghĩa
HS đọc diễn cảm văn bản.
HS nhận xét, đánh giá được việc đọc của
bạn.
1.Bài ca dao số 1: Tiếng hát than thân
– Hình thức mở đầu: Thân em như…gợi âm
điệu xót xa, ngậm ngùi.
→ Chủ thể than thân: người phụ nữ.
→ Mô tip mở đầu phổ biến trong ca dao.
– Sử dụng hình ảnh so sánh, ẩn dụ:
+ Thân em – tấm lụa đào: ý thức về sắc đẹp,
tuổi xuân, giá trị của người phụ nữ.
+ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai: Số
phận chông chênh, đầy may rủi, giống món
hàng để mua bán
nhớ ai”: nỗi nhớ triền miên, da diết.
+ Nỗi nhớ trải dài trong không gian: rơi
Nhóm 2:
xuống đất, vắt lên vai, chùi nước mắt. Các
Tìm hiểu hình ảnh biểu tượng “đèn”
động từ: rơi, vắt, xuống, lên diễn tả được
trong bài ca dao? (nghệ thuật, nội
tâm trạng ngổn ngang, bồn chồn, khắc
dung, ý nghĩa).
khoải của cô gái.
– Đèn: Hình ảnh nhân hóa, được nhắc đến 2
lần.
Nhóm 3:
+ Từ “khăn” đến “đèn”: Nỗi nhớ lan tỏa
Tìm hiểu hình ảnh biểu tượng “mắt”
theo thời gian từ ngày sang đêm.
trong bài ca dao? (nghệ thuật, nội
+ Đèn không tắt: Ẩn dụ: nỗi thương nhớ
dung, ý nghĩa).
không nguôi trong lòng cô gái.
– Mắt: Hình ảnh hoán dụ: cô gái, được nhắc
đến 2 lần.
+ Nếu “khăn”, “đèn” là biểu tượng gián tiếp
thì “mắt” là biểu tượng trực tiếp, là chính
bản thân cô gái, cô tự hỏi chính mình.
+ Mắt thương nhớ ai/ Mắt ngủ không yên:
Nhóm 4:
nỗi nhớ, nỗi ưu tư, trăn trở nặng trĩu trong
Phân tích hai câu cuối bài? Khái quát lòng.
đặc điểm kết cấu, nội dung trữ tình của + Điệp khúc “thương nhớ ai” thể hiện nỗi