Thiết kế và sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong dạy học sinh học tế bào sinh học 10 cơ bản nhằm tạo hứng thú và nâng cao hiệu quả - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 4

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM BIỂU DIỄN TRONG
DẠY HỌC SINH HỌC TẾ BÀO – SINH HỌC 10 CƠ BẢN
NHẰM TẠO HỨNG THÚ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌC
TẬP CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT THẠCH THÀNH 4

Người thực hiện: Mai Thị Mai
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Sinh Học

THANH HOÁ, NĂM 2018


MỤC LỤC

1. MỞ ĐẦU

Trang

1.1. Lí do chọn đề tài…………………………………………………………. 2
1.2. Điểm mới của đề tài……………………………………………………… 2
1. 3. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………… .. 2
1.4. Đối tượng nghiên cứu …………………………………………………… 2
1.5. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………………. 2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM....................................................2
2.1. Cơ sở lí luận của việc sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong dạy học SH…. .2

HS

Học sinh

SH

Sinh học

THPT

Trung học phổ thông

ĐC

Đối chứng

SGK

Sách giáo khoa

SGV

Sách giáo viên

TB

Tế bào

XHCN


có những hiểu biết mơ hồ, những lí thuyết suông không thực tế. TN là phương
tiện kích thích hứng thú học tập tích cực, tự lực, sáng tạo của HS. Qua TN còn rèn
luyện cho HS phương pháp học tập và tư duy khoa học giúp HS có cái nhìn đúng
đắn về thế giới quan. Đối với một trường THPT miền núi với hầu hết học sinh là
con em có chất lượng đầu vào thấp, kiến thức ở các lớp dưới còn khiếm khuyết,
trình độ tiếp thu hạn chế. Nên việc truyền thụ kiến thức sinh học cho học sinh là
một điều hết sức khó khăn. Vì vậy thí nghiệm biểu diễn cần phải được sử dụng
thường xuyên, hợp lí và có hiệu quả trong quá trình dạy học. Để nâng cao hiệu
quả giảng dạy GV cần bám sát mục tiêu của bài học để áp dụng các thí nghiệm
biểu diễn vào từng hoạt động, từng bài học cụ thể phù hợp, đảm bảo thời gian hợp
lí. Do đó, nhằm khai thác hết giá trị dạy học của dạy học, phát huy tính tích cực,
chủ động sáng tạo của HS, gắn lí thuyết với thực tiễn, giúp HS hiểu rõ bản chất
của các sự vật, hiện tượng sinh học tế bào thì GV cần thường xuyên sử dụng và
sử dụng có hiệu quả các TN trong quá trình dạy học SH. Việc nâng cao hiệu quả
sử dụng các TN biểu diễn là cần thiết và sẽ góp phần tích cực trong việc nâng
cao chất lượng dạy học.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, từ vị trí vai trò của
thí nghiệm trong dạy học, từ thực trạng của thí nghiệm biểu diễn trong nhà


trường THPT nên tôi đã chọn đề tài: “Thiết kế và sử dụng thí nghiệm biểu diễn
trong dạy học sinh học tế bào - Sinh học 10 cơ bản nhằm tạo hứng thú và
nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh trường THPT Thạch Thành 4”.
1.2. Điểm mới của đề tài:
Thiết kế một số thí nghiệm biểu diễn của phần sinh học tế bào ở lớp 10
THPT: Nguyên liệu dễ tìm, hóa chất phổ biến, đơn giản, dễ làm, biểu diễn kết
quả trong thời gian ngắn phù hợp với thời gian của 1 tiết học (45 phút).
1.3. Mục đích nghiên cứu:
Thiết kế và sử dụng có hiệu quả một số TN biểu diễn trong dạy học SH
tế bào để góp phần nâng cao chất lượng dạy học SH 10 ở trường THPT.

tính tích cực, chủ động trong hoạt động học.
Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học SH nói riêng, TN đóng
vai trò hết sức quan trọng :


TN là mô hình đại diện cho hiện thực khách quan, là cơ sở xuất phát
cho quá trình nhận thức của HS. TN là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn. Vì
vậy nó là phương tiện duy nhất giúp hình thành ở HS kĩ năng, kĩ xảo thực
hành và tư duy kĩ thuật[4,Tr 22].
Trong khoảng thời gian 45 phút của một tiết học, GV rất khó có thể giải
thích hết cho HS những vấn đề phức tạp mang tính bản chất, cơ chế của các sự
vật hiện tượng. Với tư cách là phương tiện giúp HS “khám phá” kiến thức, các
TN biểu diễn sẽ giúp HS hiểu rõ được bản chất của các vấn đề SH. Quan sát
diễn biến và kết quả TN giúp cho HS có cơ sở thực tiễn để giải thích bản chất
của các hiện tượng đó trong thời gian ngắn nhất.
TN có thể được sử dụng ở mức độ thông báo, tái hiện và ở mức độ cao
hơn là tìm tòi bộ phận, nghiên cứu. Ngoài ra, TN còn giúp HS thêm yêu môn
học có được đức tính cần thiết của người lao động như: Cần cù, kiên trì, ý thức
tổ chức kỉ luật cao…
2.1.2. Cở sở khoa học của việc sử dụng TN qua quá trình dạy học:
2.1.2.1.Cơ sở triết học:
Theo triết học Mác - Lênin: “Nhận thức là quá trình phản ánh biện
chứng tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới quan vào trong đầu óc của con
người trên cơ sở thực tiễn” [6,Tr58]. Quá trình nhận thức bao gồm cả việc học
tập và nghiên cứu. Ở cả hai mức độ này các hình ảnh trực quan đều đóng vai trò
đặc biệt quan trọng. Các hình ảnh trực quan vừa thực hiện chức năng nhận thức
(thông tin) vừa thực hiện chức năng điều khiển hoạt động của con người. Vai trò
của trực quan trong nhận thức không chỉ là thuộc tính của sự phản ánh hiện thực
khách quan trong nhận thức cảm tính mà còn là sự tái tạo hình tượng các đối
tượng hoặc hiện tượng nhờ các mô hình được kiến tạo từ các nhân tố của trực

tin vào chính bản thân mình, các em hiểu rằng cuộc sống tương lai của mình
gắn liền với việc lựa chọn nghề nghiệp.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1. Thực trạng của việc sử dụng TN trong dạy học SH ở trường THPT
2.2.1.1. Thực trạng việc nhận thức của GV về việc sử dụng TN trong quá trình
dạy học.
Để xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các biện pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng TN biểu diễn trong dạy học SH ở trường THPT, tôi đã tiến hành
điều tra về nhận thức, mức độ sử dụng, hiệu quả sử dụng cũng như việc cải tiến,
thiết kế các TN của GV. Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của GV về việc sử
dụng TN trong quá trình dạy học SH ở trường THPT thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1. Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng thí
nghiệm trong quá trình dạy học ở trường THPT
Số

Tỉ lệ

- Rất cần thiết.

15

75%

- Cần thiết.

5

25%

Mức độ nhận thức và lí do

Kết quả thu được cho thấy: Hiện nay, giáo viên THPT đều đánh giá cao
tầm quan trọng và sự cần thiết của việc sử dụng TN trong quá trình dạy học.
100% GV được khảo sát đều khẳng định không thể thiếu TN trong quá trình dạy
học SH. Theo đánh giá của giáo viên THPT, việc sử dụng các TN trong dạy học
SH đảm bảo cho HS nắm kiến thức vững chắc (90%), tạo được hứng thú cho
HS (50%), phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong quá trình
học tập (75%).
Từ sự phân tích trên cho thấy giáo viên THPT đã có sự nhận thức đúng
đắn về tầm quan trọng của TN trong quá trình dạy học SH. Điều đó có thể cho
phép khẳng định mức độ cần thiết và ý nghĩa của TN trong dạy học ở trường
THPT hiện nay.
2.2.1.2. Mức độ sử dụng thí nghiệm biểu diễn của giáo viên ở các trường THPT
trong quá trình dạy học sinh học hiện nay.
Để đánh giá mức độ sử dụng thí nghiệm biểu diễn của giáo viên ở các trường
THPT hiện nay tôi dựa trên cơ sở đánh giá của GV và kết quả điều tra được trình
bày trong bảng 1.2 như sau:
Bảng 1.2. Kết quả khảo sát mức độ sử dụng thí nghiệm trong dạy học Sinh học
ở trường THPT.
Mức độ sử dụng

Số phiếu

Tỉ lệ (%)

- Thường xuyên.

8

20%



45`

45%

- Được quan sát, được làm TN

40

40%

- Thầy (cô) vui tính, yêu quý HS.

15

15%

- Lísố
doliệu
kháctrên cho thấy, lí do hàng đầu khiến
8 HS thích7.05
Qua bảng
học môn SH là
phương pháp giảng dạy của GV và một lí do thứ hai khiến cho HS yêu thích
môn học đó là được quan sát, được làm TN. Điều này một lần nữa. Khẳng
định vai trò quan trọng của hoạt động TN trong dạy học SH.
2.2.1.4 Quá trình sử dụng thí nghiệm của GV trong quá trình dạy học sinh học
ở trường THPT hiện nay.
Kết quả kiểm tra tình hình sử dụng thí nghiệm trong dạy học sinh học
được thể hiện ở bảng 1.4 như sau:

Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thực hành TN ở nhiều trường THPT


chưa đảm bảo đặc biệt là các trường THPT miền núi. Trong đó, sự thiếu hụt về
chủng loại và suy giảm về chất lượng thiết bị, dụng cụ là nguyên nhân khách quan
cơ bản nhất.
Vấn đề cốt lõi dẫn đến hiệu quả sử dụng các TN chưa cao là do khả năng và
mức độ sử dụng của GV. Thực tế cho thấy, quá trình sử dụng các TN biểu diễn của
GV còn gặp nhiều khó khăn, việc chuẩn bị công phu mất nhiều thời gian, không áp
dụng theo đúng qui trình TN đã gây một số khó khăn cho GV về mặt thời gian cũng
như kết quả của TN. Hơn nữa, mặc dù nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của
TN nhưng mức độ sử dụng TN trong dạy học là không thường xuyên, GV chưa tự
giác trong việc khai thác, sử dụng TN trong giảng dạy, sợ nếu không có kết quả hoặc
kết quả thực hành khác với kiến thức chuẩn thì sẽ gây phản tác dụng đối với người
học. Do đó, GV rất ngại khi sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong các khâu khai thác
kiến thức mới của bài học. Vì vậy chất lượng dạy học không cao, chưa phát huy tối
đa tiềm lực của học sinh.
Từ kết quả điều tra, khảo sát thực trạng việc sử dụng TN trong quá trình
dạy học SH ở trường THPT cho phép đi đến kết luận: Việc thiết kế và sử dụng
hiệu quả sử dụng TN biểu diễn trong dạy học SH là vấn đề cấp bách, cần thiết
nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
2.3. Thiết kế và sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong day học sinh học tế bào
( sinh học 10 ).
2.3.1. Đặc điểm nội dung phần sinh học tế bào
Tế bào là đơn vị cơ sở của sự sống, được Robert Hooke phát hiện năm
1665 và năm 1839 Schleiden lần đầu tiên trình bày thuyết tế bào.
Chương trình SH ở trường THPT hiện nay, SH tế bào được dạy ở lớp
10, là phần khó nhưng rất quan trọng, đó là cơ sở khoa học để học các phần
về SH vi sinh vật, SH cơ thể, SH quần thể, SH quần xã, hệ sinh thái và sinh
quyển. Phần SH tế bào bao gồm những kiến thức về thành phần Hóa học

đôi với hành, kiến thức lí thuyết gắn liền với thực tiễn. Do đó, các TN thực
hành trong phần SH tế bào có vai trò quan trọng, giúp HS hiểu được sâu sắc,
toàn diện bản chất của các vấn đề SH, củng cố các kiến thức lí thuyết đã học,
rèn luyện tư duy, kĩ năng, kĩ xảo thực hành, hình thành và phát triển tư duy
kĩ thuật, giúp các em thêm yêu môn học.
2.3.2. Thiết kế các thí nghiệm biểu diễn sử dụng trong dạy học phần sinh
học tế bào.
Trong khâu nghiên cứu bài mới, TN được sử dụng có tính chất nêu
vấn đề GV có thể tổ chức dạy học trên lớp theo trình tự sau: Dựa vào nội
dung của bài học, thiết kế các TN hoặc các bài tập TN để tạo tình huống có
vấn đề, nghĩa là tạo cho HS những mâu thuẫn giữa những điều đã biết và
những điều chưa biết, mâu thuẫn giữa lí thuyết và thực tiễn…nhằm tạo ra
động lực cho HS học tập lành mạnh ( Cần chú ý những mâu thuẫn được tạo
ra phải đảm bảo tính lí thú và tính vứa sức).
Tổ chức cho HS quan sát TN và tham gia giải quyết vấn đề bằng cách
nêu lên các câu hỏi có tính chất dự đoán những hiện tượng sẽ xảy ra.
Tùy theo đặc điểm, tính chất bài học và đặc điểm của HS, GV có thể kết
hợp theo các cách sau đây:
+ GV đặt câu hỏi → GV làm TN biểu diễn → HS quan sát TN, trả lời câu hỏi
→ lĩnh hội tri thức mới.
+ GV vừa làm TN, vừa đặt ra câu hỏi → HS vừa quan sát, vừa trả lời câu hỏi
của GV → lĩnh hội tri thức mới.
+ GV biểu diễn TN → GV đặt câu hỏi → HS quan sát, trả lời câu hỏi→ lĩnh hội
tri thức mới.
+ GV đặt câu hỏi → GV làm TN biểu diễn → HS quan sát → HS tự rút ra kết
luận.
Đối với những hiện tượng phức tạp, đòi hỏi phải tái hiện những kinh
nghiệm đã có, sự quan sát trực tiếp chưa cho phép HS đi đến kết luận mà phải
dùng kiến thức đã có, suy lí, biện luận mới có thể giải thích được các hiện tượng
thì GV cần tiến hành dạy học theo lôgic sau:

đun nóng trên ngọn đèn cồn.
Hiện tượng gì sẽ xảy ra? Giải thích hiện tượng đó?
Bài tập TN này nhằm giúp HS biết các yếu tố gây biến tính prôtêin
GV có thể đưa ra hệ thống câu hỏi định hướng như sau:
Câu hỏi 1: Lòng trắng trứng có bản chất là gì?
Câu hỏi 2: Ở nhiệt độ thường, lòng trắng trứng có bị vón cục lại không?
Câu hỏi 3: Nhiệt độ có vai trò gì trong các hiện tượng trên?
Tính hiệu quả của TN:
+ Thời gian nhanh.
+ Kết quả tức thời( sau 1-2 phút).
+ So sánh với đối chứng HS đều quan sát và thấy rõ được sự khác biệt khi đun nóng
trên ngọn đèn cồn thì lòng trắng trứng không còn là 1 chất dịch nữa mà bị vón cục
có màu xanh của đồng→ biến tính protein ( do các bậc cấu trúc protein bị phá vỡ
ở nhiệt độ cao)
+ Dựa vào các kiến thức đã học về cấu trúc của protein HS tự khám phá kiến


thức mới → khi đun nóng (nhiệt độ cao) thì cấu trúc không gian của protein bị
phá vỡ → thay đổi cấu trúc ( vón cục).
+ Từ những ý kiến thảo luận của HS, GV cung cấp hiện tượng trên gọi là biến
tính protein→ HS nêu được nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng của
protein.
* Thí nghiệm 2, dạy mục “I. Khái quát về tế bào” (Bài 7: Tế bào nhân sơ).
GV cung cấp thông tin: Từ 1 tế bào vi khuẩn E.coli sau 1 ngày số tế bào vi
khuẩn trong môi trường thích hợp là 272 tế bào mới. Tại sao số lượng vi khuẩn
có thể tăng nhanh như vậy?
HS: do chúng có kích thước nhỏ.
GV: tại sao kích thước nhỏ lại có khả năng sinh sản nhanh như vậy?
HS: Vướng mắc về kiến thức và có nhu cầu được giải quyết vướng mắc đó.
GV có thể biểu diễn TN sau: [2]



để HS dễ nhận biết và so sánh độ bắt màu.
* Thí nghiệm 3: Dạy mục “VI. Lục lạp” (bài 9: Tế bào nhân thực(tt)).
Gv: chuẩn bị 3 mẫu vật là 3 loại lá khác nhau:
- Lá 1: lá mía ( cây 1 lá mầm sống ở vùng nhiệt đới).
- Lá 2: Lá mồng tơi ( cây 2 lá mầm sống ở nơi có ít ánh sáng).
- Lá 3: lá bàng ( cây 2 lá mầm sống nơi có nhiều ánh sáng).
Câu hỏi:
Câu hỏi 1: Nhận xét màu sắc của 2 mặt của lá của từng loại lá trên?
Câu hỏi 2: So sánh màu sắc lá của 3 loại lá trên?
Câu hỏi 3: Giải thích hiện tượng trên? Hãy rút ra kết luận về sự phân bố sắc tố
diêp lục của các lá có các cường độ chiếu sáng khác nhau?
* Thí nghiệm 4: Dạy mục “I. Vận chuyển thụ động” ( bài 11: Vận chuyển các
chất qua màng sinh chất).
GV: Tiến hành thí nghiệm biểu diễn : Nhỏ một giọt mực vào cốc nước lọc sau đó
đặt câu hỏi:
Câu hỏi 1: Hiện tượng gì đã xảy ra?
Câu hỏi 2: hiện tượng đó gọi là hiện tượng khuếch tán? Vậy thế nào là hiện
tượng khuếch tán? Do đâu có sự khếch tán?
Câu hỏi 3: Hiện tượng trên xảy ra đối với màng sinh chất của tế bào thì được gọi
là vận chuyển thụ động. Vậy thế nào là vận chuyển thụ động? Vận chuyển thụ
động diễn ra theo nguyên lí nào?
* Thí nghiệm 5: Dạy mục “I. Khái niệm về năng lượng và các dạng năng
lượng” (Bài 13: Chuyển hóa năng lượng)
Thí nghiệm 1: Gọi 2 học sinh có sức khỏe tương đương nhau lên bảng làm thí
nghiệm biểu diễn nâng tạ 2 loại 3kg và 7kg trong vòng 1 phút và đếm số lần
nâng tạ.
Câu hỏi 1: Nhận xét số lần nâng tạ của 2 em học sinh trong cùng 1 thời điểm
nhất định?

mỏng:
+ 01 lát khoai tây chín, để nguội và để ở nhiệt độ phòng.
Cách chuẩn bị các lát khoai tây trên như sau:
+ Khoai tây rửa sạch, cắt ngang củ khoai tây thành những lát nhỏ 5mm.
+ Cho vào 3 cốc thủy tinh, mỗi cốc 02 lát sao cho các lát nầy không chồng lên
nhau.
+ 03 cốc còn lại : 01 cốc nước đun sôi, 01 cốc nước đá, 01 cốc ở nhiệt độ
phòng.
- Tiến hành ngâm mẫu ở các nhiệt độ khác nhau.
*Kết quả và nhận xét:
+ Lát khoai tây chín không sủi bọt, 04 mẫu khoai tây còn lại sủi bọt nhưng tốc
độ và độ mạnh của hiện tượng sủi bọt khác nhau.
+ Đây là TN khó thực hiện, tuy nhiên, kết quả TN rõ, tính thuyết phục cao,
thấy được nhiệt độ tối thích của enzim và khi nhiệt độ tăng thì tốc độ của phản
ứng thay đổi như thế nào. Từ đó rút ra kết luận về sự ảnh hưởng của nhiệt độ
đến hoạt tính của enzim.
2.4. Hiệu quả của đề tài:
Chúng tôi đã tiến hành dạy 03 bài thuộc phần Sinh học tế bào – Sinh học
10 cơ bản bằng giáo án được thiết kế theo các phương pháp mà đề tài sáng kiến
đã đề xuất. Tiến hành đánh giá HS các lớp thực nghiệm qua 01 bài ki ểm tra 10
phút và các câu trả lời của HS sau khi được quan sát thí nghiệm biểu diễn.
Quá trình dạy học được tiến hành theo qui trình như đã nêu ở trên .
Bảng 2.4. Các bài dạy thực nghiệm
STT
TÊN BÀI DẠY
1
Prôtêin
2
Tế bào nhân sơ
3

trị trung bình để đánh giá khả năng hiểu bài và khả năng hệ thống hóa kiến thức
của 02 lớp thực nghiệm và ĐC đồng thời phân tích phương sai để khẳng định
nguồn ảnh hưởng đến kết quả của 02 lớp thực nghiệm và ĐC.
Tính giá trị trung bình ( X) và phương sai (S2): được tính nhanh chóng trên
excel bởi hàm Fx trên thanh công cụ. Các bước thực hiện: nhập điểm vào bảng
excel → đặt con trỏ ở ô muốn ghi kết quả→ chọn lệnh Fx trên thanh công
cụ→chọn lệnh tính trung bình X (AVAREGA) hoặc chọn lệnh phương sai
S2(VAL). Với quy trình này máy tính sẽ đưa ra kết quả so sánh.
2.4.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm:
Sau khi sử dụng phương pháp biểu diễn thí nghiệm vào các tiết dạy môn
Sinh học lớp 10 tại trường THPT Thạch Thành 4. Tôi đã lập phiếu điều tra học
sinh về mức độ hứng thú học tập trong tiết dạy có sử dụng thí nghiệm biểu diễn.
Kết quả thu được như sau:


Lớp

Rất thích

Thích

Bình thường

Không thích

10B2

89%

9%

1
Tn
90 0

3
3

4
6

5
39

6
17

7
8 9 10 X S2
15 5 2 0 5.63 1.67

0

2

4

16

33 27 5 3


14

35 26 7 4

7.32 1.28

ĐC

88 0

4

7

36

18

13

0

5.72 1.89

Tn

90 0

0



3

10

6 1
6 4

17 7 0

42 105 81 18 11 7.29 1.25

Bảng 2.4.2.2. Tần suất điểm các bài kiểm tra sau thực nghiệm
Lần
xi
kiểm Phương
tra
án
n

2

3

4

5

6


Tn

90

0

ĐC

88

1.14 5.68 7.95 39.77 18.18 15.92 7.95 3.41 0

Tn

90

0

ĐC

264 1.52 4.55 7.20 42.42 18.18 17.07 6.82 2.26 0

Tn

270 0

0

0
0


Biểu đồ tần suất của lớp Đc và Tn


Qua biểu đồ ta thấy kết quả kiểm tra ở các lớp thực nghiệm cao hơn so với các
lớp đối chứng. Từ đó cho thấy hiệu quả của các thí nghiệm biểu diễn trong dạy
học sinh học ở trường phổ thông.
Môn sinh học là môn khoa học thực nghiệm nên lý thuyết suông sẽ khiến
các em học sinh nhàm chán, không hứng thú với môn học dẫn đến kết quả học
tập và số lượng học sinh chọn môn sinh để thi giảm dần. Là giáo viên môn sinh
học tôi thấy được hiệu quả rõ rệt của thí nghiệm biểu diễn trong từng tiết dạy,
kết quả thực nghiệm là một minh chứng rõ ràng.

3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Thiết kế và sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong quá trình dạy học là quan
trọng và cần thiết. Để giờ học đạt hiệu quả cao nhất giáo viên phải trang bị cho
học sinh nền tảng vững chắc về kiến thức, gắn liền lí thuyết với thực tiễn. Vấn
đề bất cập hiện nay là đa số học sinh lười biếng, không học bài cũ, qua thí
nghiệm và làm bài tập học sinh mới có thể nhớ được kiến thức trong bài. Khi
làm thí nghiệm biểu diễn, giáo viên dẫn dắt học sinh quan sát từng giai đoạn,
hiện tượng của thí nghiệm; qua đó, giáo viên đặt ra những câu hỏi gợi ý, kích
thích óc tò mò, sáng tạo, tạo hứng thú trong giờ học. Điều này giúp học sinh tự
nhận xét, phán đoán và rút ra kết luận dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Học
sinh tự mình “tìm ra” kiến thức mà không thụ động tiếp nhận kiến thức đã có
sẵn.
Qua khảo sát ở 4 lớp 10 ( 2 lớp đối chứng và 2 lớp thực nghiệm) với 03
bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan chung tôi đã thu được kết quả sau:
Lớp


tìm tòi phương pháp dạy học thích hợp, dành thời gian chuẩn bị chu đáo các
nguyên liệu cần có thì thí nghiệm biểu diễn chính là phương tiện trực quan đạt
hiệu quả nhất.
3.2. Kiến nghị:
Bằng những kinh nghiệm đã thu được kết quả như trên, tôi mong rằng các
đồng nghiệp có thể áp dụng phương pháp này nhằm giúp các em học sinh học
tập tốt hơn, thu được kết quả cao hơn trong kiểm tra, thi cử.
Trên cơ sở này, kính đề nghị các giáo viên bộ môn tiếp tục nghiên cứu, mở rộng
phạm vi và hoàn chỉnh nội dụng. Thiết kế các thí nghiệm biểu diễn của các phần
còn lại trong chương trình sinh học cấp THPT.
Mong sự trao đổi góp ý của đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện

Mai Thị Mai


\

DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
CẤP SỞ GD&ĐT CÔNG NHẬN
STT

1

Xếp loại

C

C


3

Vận dụng tích hợp ứng phó với biến
đổi khí hậu và phòng chống thiên tai
cho học sinh trường THPT Thạch
2014-2015
Thành 4 vào giảng dạy phần sinh
thái học - Sinh học 12 cơ bản.

Sở
GD&ĐT
Thanh
Hóa

C

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (2001), Lí luận dạy học sinh học phần
đại cương, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2. Nguyễn Thành Đạt, Phạm Văn Lập (2006), Sách giáo viên sinh học 10, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
3. Nguyễn Đức Thành (2006), Chuyên đề “ Tổ chức hoạt động dạy học sinh học
ở trường THPT, Trường ĐHSP Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status