Nâng cao hiệu quả của thí nghiệm biểu diễn trong dạy học hoá học 8 ở lớp 8b của trường THCS phước thạnh - Pdf 22

A.MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài :
oá học trong khi hình thành cho học sinh, học vấn hoá học. Đồng thời bằng
con đường trí dục, đó là làm phát triển năng lực nhận thức một cách toàn
diện từ cảm giác, tri giác đến biểu tượng và tư duy. Thông qua thí nghiệm hoá học,
giáo viên có điều kiện làm phát triển nhận thức một cách toàn diện hơn hẳn các
môn khoa học khác. Vì rằng bản chất hoá học được ẩn dấu sau các hình thức biểu
diễn bên ngoài. Từ hiện tượng bên ngoài học sinh phải phân tích, tổng hợp để có
biểu tượng và hình thành khái niệm. Khi đó, tư duy có dịp được hoạt động.
H
Đối tượng của hoá học ứng với những khái niệm cơ bản về hoá học cần lĩnh hội
đều có kích thước vi mô (nhỏ và mắt thường không thấy được đó là nguyên tử,
phân tử, tính chất của chất . . .). Khi hình thành khái niệm hoá học cho học sinh
chúng ta luôn phải sử dụng những mô hình cụ thể có kích thước vĩ mô (to và mắt
thường có thể nhìn được). Như vậy, từ dấu hiệu bên ngoài quan sát được như :
trạng thái, màu sắc, mùi vị mà suy ra những biến đổi bên trong sâu xa ở tầm cở vi
mô của bản chất hoá học. Để đảm bảo hình thành vững chắc mạng lưới khái niệm
nền tảng về hoá học làm cho việc nghiên cứu hoá học mang tính lập luận, chúng ta
cần đảm bảo ở mức độ cao tính thực nghiệm. Qui luật lĩnh hội kiến thức hoá học
là qui luật thuận nghịch sau đây : Dấu hiệu bên ngoài D Tính chất D Bản chất bên
trong.
Như vậy, thí nghiệm hoá học phải được coi trọng trong quá trình dạy học hoá
học ở các trường trung học cơ sở và là cơ sở cho phương pháp nghiên cứu có lập
luận của môn hoá học. Có rất nhiều loại thí nghiệm như : thí nghiệm biểu diễn, thí
nghiệm nghiên cứu bài mới, thí nghiệm thực hành, thí nghiệm luyện tập, thí
nghiệm ngoại khoá. Trong đó, thí nghiệm biểu diễn là phương tiện trực quan tối
thiểu, quan trọng nhất trong giảng dạy hoá học.
Qua thực tế tìm hiểu tôi nhận thấy học sinh tích cực hơn khi giờ dạy có sử dụng
đồ dùng dạy học trong đó có thí nghiệm biểu diễn. Các em rất thích, rất hứng thú,
tiếp thu kiến thức nhanh hơn so với một bài dạy không sử dụng thí nghiệm. Thông
qua thí nghiệm học sinh tự tìm tòi, phân tích, tổng hợp suy ra được kiến thức cần

những hoài nghi.
Phát triển tư duy của học sinh : Nếu giáo viên làm thí nghiệm, thì sự biểu
diễn của thí nghiệm kèm theo các dấu hiệu bên ngoài như sự thay đổi trạng thái,
màu sắc, mùi vị, tính tan, sự thoát khí, sự toả nhiệt, sự phát sáng . . . đập vào các
giác quan của học sinh, làm học sinh nảy sinh trong đầu những câu hỏi “Vì sao?”,
“Tại sao?”. Và như vậy là tư duy của học sinh được hoạt động. Và để trả lời được
câu hỏi đặt ra buộc học sinh nhớ lại, có khi phải phân tích, tổng hợp mới tìm được
lời giải đáp. Như vậy là năng lực nhận thức của học sinh được phát triển.
Học sinh dễ tiếp thu kiến thức, nhớ lâu nội dung học tập : Trong giảng dạy
có sử dụng thí nghiệm biểu diễn, lời nói của giáo viên được thí nghiệm minh hoạ,
nên học sinh dễ tiếp thu hơn. Mặt khác khi dùng thí nghiệm để giảng dạy thì sự
tiếp thu kiến thức ở học sinh cùng một lúc được huy động nhiều giác quan tham
gia, không chỉ có tai nghe mà mắt thấy, tay có thể được sờ mó nên thông tin được
tiếp thu sẽ trở nên vững chắc hơn, chẳng những dễ nhớ mà còn nhớ lâu hơn.
Hình thành những kỹ năng thí nghiệm đầu tiên cho học sinh một cách
chính xác : Động tác thí nghiệm của thầy khi biểu diễn thí nghiệm tác động trực
tiếp đến giác quan của học sinh, làm cho học sinh hiểu, ghi nhớ và nhờ vậy mà
hình thành trong trí nhớ các em kỹ năng thí nghiệm chính xác.
Tiết kiệm được thời gian, hoá chất và dụng cụ : Thao tác thí nghiệm của giáo
viên đã trở thành kỷ xảo nên tốn ít thời gian. Hoá chất giáo viên sử dụng đúng
theo hướng dẫn kỹ thuật và với một bộ dụng cụ hoá chất, đem sử dụng, giúp học
sinh cả lớp hiểu được vấn đề nghiên cứu. Như vậy thí nghiệm biểu diễn của giáo
viên còn tiết kiệm được cả hoá chất và dụng cụ.
II.Cơ sở thực tiễn :
Học sinh mới bắt đầu làm quen với thí nghiệm hoá học nên còn bở ngỡ, lúng
túng, các thao tác chưa chính xác, chưa biết quan sát hoặc sợ làm thí nghiệm, mất
nhiều thời gian hướng dẫn. Một số học sinh còn lơ là gây mất trật tự trong giờ học.
Chưa có phòng thí nghiệm, mất nhiều thời gian tìm kiếm dụng cụ cho giờ dạy có
thí nghiệm. . .
@ Số liệu thống kê :

chất ).
 Làm đúng hướng dẫn, nói khác đi là tuân thủ nghiêm ngặt chỉ dẫn của
thí nghiệm (phải hiểu được vì sao lại phải thế này mà không làm thế
kia . . .).
 Phải trau dồi kĩ năng thí nghiệm : Sau khi đã nắm vững kĩ thuật làm
đúng hướng dẫn thì phải làm nhiều lần cho quen, cho thành thạo.
 Luôn luôn cẩn thận, bình tĩnh, đề cao tinh thần trách nhiệm.
 Hiểu kĩ nguyên nhân của những trường hợp xảy ra nguy hiểm.
Ví dụ : Trong thí nghiệm điều chế khí H
2
từ kim loại và dung dịch axit, giáo
viên phải hiểu vì sao chỉ dùng dung dịch axit loãng (HCl và H
2
SO
4
) mà không
dùng axit đậm đặc. Vì sao không được cho hoá chất vào quá nữa ống nghiệm. Vì
sao khi thu khí H
2
phải thử độ tinh khiết của nó rồi mới thu? . . .
Hoặc trong thí nghiệm Lưu huỳnh tác dụng với khí oxi, thực tế giáo viên làm
như sau : Lấy Lưu huỳnh và đốt trực tiếp trong không khí sau đó đưa vào bình
đựng khí Oxi. Có giáo viên muốn thí nghiệm cho học sinh quan sát được hiện
tượng rỏ nên đã lấy lượng Lưu huỳnh quá nhiều cho nên khi đốt khí SO
2
sinh ra
gây ho và khó thở cho học sinh. Chưa tính trường hợp xấu nhất nếu giáo viên
không bình tĩnh giải quyết vấn đề có thể làm học sinh nguy hiểm. Vì thế, tuỳ thuộc
vào cơ sở vật chất của phòng thí nghiệm người giáo viên phải chịu khó tạo lựa
dụng cụ thí nghiệm để có thể tiến hành thí nghiệm được an toàn, chẳng hạn với

xúc phạm. Để đảm bảo được kết quả và tính khoa học của thí nghiệm giáo viên
phải :
 Chuẩn bị tỉ mỉ và chu đáo (thử trước nhiều lần).
 Không nên chủ quan, khi thí nghiệm đơn giản hoặc đã làm quen nên
không cần thử trước.
 Kiểm tra cẩn thận số lượng, chất lượng hoá chất, dụng cụ cho từng thí
nghiệm, cần chuẩn bị sẵn dụng cụ dự trữ để thay thế nếu những dụng cụ ấy
dễ bị hư. Những sự sơ suất như đèn cồn hết cồn, bấc cháy kém, quên bật
lửa, quên giấy quỳ . . . đều để lại những ấn tượng không tốt trong đầu học
sinh.
 Trong trường hợp thí nghiệm không thành công thì phải bình tĩnh giải
thích đúng thực tế thí nghiệm cho học sinh, chỉ ra nguyên nhân của sự thất
bại. Uy tín của giáo viên sẽ được tăng lên đáng kể nếu giáo viên bổ khuyết
cho thí nghiệm và làm lại thí nghiệm cho đạt kết quả tốt. Trái lại uy tín của
giáo viên sẽ bị giảm sút một cách nhanh chóng nếu chúng ta lừa dối cưỡng
ép học sinh công nhận thí nghiệm đạt kết quả trong khi thí nghiệm không
thành công.
Thí nghiệm phải rõ ràng, học sinh quan sát đầy đủ : Khi biểu diễn thí
nghiệm biểu diễn tất cả học sinh trong lớp phải quan sát được dấu hiệu bên ngoài
của thí nghiệm. Muốn vậy, chúng ta phải tiến hành thí nghiệm vào trong các dụng
cụ có kích thước đủ lớn, hoá chất lấy vừa phải, bố cục thiết bị và động tác biểu
diễn làm sao cho cả lớp quan sát được tốt nhất. Khi cần thiết có thể dùng phông,
dùng thiết bị đặc biệt để làm nổi bật kết quả của thí nghiệm.
Thí nghiệm phải đơn giản, mỹ thuật, vừa sức học sinh : Các thí nghiệm được
chọn làm thí nghiệm phải đơn giản về thiết bị, thời gian tiêu tốn không nhiều
(thường không quá 5 phút). Khi lắp ráp dụng cụ thí nghiệm phải làm sao có được
bộ dụng cụ vừa đẹp mắt, vừa đơn giản mà thuận lợi cho việc quan sát của học
sinh, đảm bảo được an toàn trong khi tiến hành thí nghiệm. Nội dung thí nghiệm
vừa sức với học sinh. Muốn vậy giáo viên phải thường xuyên có ý thức cải tiến
dụng cụ thí nghiệm. Nội dung thí nghiệm sao cho đơn giản, mỹ thuật mà tiện lợi.

học sinh quen quan sát các hiện tượng và đó là cơ sở để học sinh giải thích được
hiện tượng và rút ra những kết luận khoa học của vấn đề nghiên cứu.
Trong biểu diễn thí nghiệm thì thí nghiệm là nguồn thông tin đối với học sinh,
còn lời nói của giáo viên giữ vai trò hướng dẫn sự quan sát và chỉ đạo sự suy nghĩ
của học sinh để đi tới kết luận đúng đắn hợp lí, qua đó học sinh lĩnh hội được kiến
thức. Lý luận dạy học đã tổng kết được bốn hình thức kết hợp lời nói của thầy với
biểu diễn thí nghiệm :
Hình thức 1 (Biện pháp quan sát) : Theo hình thức này, giáo viên vừa biểu diễn
thí nghiệm vừa hướng dẫn học sinh quan sát. Học sinh trên cơ sở quan sát trực tiếp
nhận thức được tính chất của đối tượng nghiên cứu mà không cần suy lý. Ở hình
thức này nếu học sinh thấy được hiện tượng thí nghiệm là họ sẽ giải thích được
hiện tượng đó, không cần sự giúp đỡ gì thêm của giáo viên (học sinh tự quan sát
và tự lực rút ra kết luận).
Hình thức này áp dụng cho các sự kiện và quá trình đơn giản, chẳng hạn thí
nghiệm khí SO
2
tan vào nước tạo ra dung dịch làm cho quỳ tím hoá đỏ.
Hình thức 2 (Biện pháp qui nạp) : Theo hình thức này, giáo viên vừa biểu diễn
thí nghiệm, vừa hướng dẫn học sinh quan sát. Học sinh trên cơ sở quan sát, kết
hợp với vốn hiểu biết của học sinh trước đó, giáo viên dẫn dắt họ làm sáng tỏ và
trình bày ra được những mối liên hệ ẩn tàng giữa các hiện tượng của thí nghiệm
mà học sinh không thể nhận thức được trong quá trình tri giác (học sinh nhìn thấy,
nhận thấy hiện tượng nhưng chưa giải thích được học sinh cần có sự giúp đỡ của
thầy, gợi ý cho học sinh nhớ lại kiến thức cũ có liên quan tới hiện tượng của thí
nghiệm, nhờ đó học sinh hiểu được, giải thích được hiện tượng quan sát).
Trong hình thức này lời nói của thầy không chỉ có hướng dẫn quan sát như hình
thức 1 mà có tới 2 chức năng : hướng dẫn sự quan sát trực tiếp của trò để giúp học
sinh nắm vững dấu hiệu chính và những giai đoạn chính của thí nghiệm. Gợi ý cho
học sinh tái hiện lại kiến thức cũ cần thiết để giải thích hiện tượng (những hiện
tượng). Dựa vào 2 chức năng trên mà hướng dẫn trò giải thích hiện tượng và tự đi

2
đã biến thành chất gì ? Vậy chất gì
được tạo thành ?. H
2
đã làm gì nguyên tố oxi của CuO ?
Với sự gợi ý như trên học sinh nhớ lại được hệ thống kiến thức cũ và giải thích
được các hiện tượng của thí nghiệm :
CuO tác dụng với khí H
2
có đun nóng tạo thành Cu màu đỏ gạch và hơi nước
sinh ra theo phương trình phản ứng sau :
CuO + H
2

o
t

Cu + H
2
O.
Học sinh rút ra nhận xét qua thí nghiệm này. H
2
đã chiếm Oxi của CuO, tạo
thành kim loại Cu và nước. Vậy H
2
là chất khử.
Hình thức 3 : (Biện pháp minh hoạ) : Giáo viên dùng lời nói thông báo kết quả
thí nghiệm, sau đó biểu diễn thí nghiệm để minh hoạ cho thông báo của mình.
Hình thức này được áp dụng cho những sự kiện và quá trình đơn giản như trong
hình thức 1. Nhưng khác với hình thức 1, trong hình thức này lời nói của thầy là

chỉ bị biến đổi khi nào, khó phát biểu được định luật, cũng như viết phương trình
hoá học sẽ gặp nhiều khó khăn, lúng túng, không phân biệt đâu là sản phẩm, đâu
là chất tham gia
Học sinh quan sát giáo viên làm thí nghiệm và tự tay làm thí nghiệm, mô tả
hiện tượng, giải thích, và viết các phương trình hoá học. Từ đó, học sinh rút ra
nhận xét về tính chất hoá học, qui tắc, định luật …nên học sinh dễ tiếp thu và nhớ
lâu trong học tập và khi đến tiết thực hành, các em lại được tự tay tiến hành thí
nghiệm từ đó các em cảm thấy hứng thú với bộ môn yêu thích học tập bộ môn hoá
hơn. Vì vậy mà chất lượng học tập của học sinh được nâng cao hơn .
Học sinh tin vào những điều thầy nói vì có thí nghiệm chứng minh vào lời nói
của thầy, vì tin thầy nên học sinh cũng tin vào khoa học
Dựa vào hiện tượng thí nghiệm, sự thay đổi những dấu hiệu bên ngoài (màu sắc,
trạng thái, …) đập vào các giác quan của học sinh nên trong đầu học sinh sẽ nảy ra
những câu hỏi vì sao ? … Để trả lời những câu hỏi đó buộc các em phải phân tích,
tổng hợp, tìm tòi và giải đáp, nhờ vậy mà năng lực nhận thức của học sinh được
nâng cao.
2.Giải pháp :
Để phát huy tốt tác dụng của thí nghiệm biểu diễn trong dạy học hoá học kết
hợp với trình bày bài giảng thì giáo viên và học sinh cần phải :
Đối với giáo viên :
Giáo viên phải giải thích thứ tự tiến hành các động tác và trình bày cách thực
hiện. Chẳng hạn thí nghiệm điều oxi bao gồm các động sau : chuẩn bị hoá chất
(giáo viên nói rỏ cách chuẩn bị). Chuẩn bị dụng cụ (dụng cụ điều chế, dụng cụ
thu). Thu oxi. Trong từng động tác giáo viên phải giải thích cho học sinh hiều vì
sao phải làm như vậy và có thể làm cách khác được không. Khi giải thích cần thiết
có thể vẽ hình để làm nổi bật một vài khía cạnh của động tác.
Giáo viên báo trước sai lầm có thể xảy ra khi thực hiện động tác, chẳng hạn thu
khí H
2
vào ống nghiệm, học sinh thường vấp phải sai lầm cơ bản là đặt ống dẫn

một cách nhanh chóng nếu chúng ta lừa dối cưỡng ép học sinh công nhận thí
nghiệm đạt kết quả trong khi thí nghiệm không thành công.
Kết hợp logic giữa thí nghiệm với tranh ảnh, phiếu học tập, phương pháp dạy
học tích cực khác, công nghệ thông tin để tổ chức tốt hơn hoạt động nhận thức
cho học sinh, tăng hiệu quả và chất lượng bộ môn.
Vận dụng phương pháp thí nghiệm để phát huy tính tích cực là gợi mở cho học
sinh suy nghĩ, sáng tạo và phát huy tối đa tư duy trong tiết học, nhưng không lạm
dụng quá nhiều thí nghiệm trong một giờ, mà phải lựa chọn thí nghiệm phù hợp
với đặc trưng của bài. Đáp ứng được ý đồ mà giáo viên mong muốn. Mỗi bài học
chỉ nên tiến hành tối đa 3 thí nghiệm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status