SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TÔ HIẾN THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 10 KHẮC
PHỤC TÌNH TRẠNGNGHIỆN MẠNG XÃ HỘI
Người thực hiện: Lê Thị Chung
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Tin học
THANH HÓA, NĂM 2018
MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU ................................................................................................... 2
1.1. Lí do chọn đề tài.................................................................................... 2
1.2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................. 3
1.3. Đối tượng nghiên cứu............................................................................. 4
1.4. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 4
2. NỘI DUNG ................................................................................................ 5
2.1. Cơ sở lí luận ........................................................................................... 5
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm........... 7
2.3. Các giải pháp để giải quyết vấn đề....................................................... 8
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ...................................................20
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ........................................................................21
3.1. Kết luận..................................................................................................21
3.2. Kiến nghị.................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………….23
Đoàn TN
Đoàn thanh niên
5
CNTT
Công nghệ thông tin
6
GVCN
Giáo viên chủ nhiệm
3
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
* Vai trò tác dụng của vấn đề nghiên cứu:
Vài năm gần đây, mạng xã hội như cơn lốc xoáy cuốn lấy giới trẻ. Ở
đó, chúng ta chứng kiến vô số những câu chuyện, tình huống tiêu cực tác
động đến các em như nghiện mạng xã hội, gặp các sự cố trên mạng nhưng hậu
họa thật. Làm sao để trẻ “làm chủ” bản thân trong thế giới mạng phải không chỉ
là bài toán gây nhức đầu mỗi ông bố bà mẹ mà trở thành nỗi lo của xã hội.
Có thể nói, nghiện mạng xã hội, nghiện chơi game online đã và đang gây ra
rất nhiều ảnh hưởng đến mặt tinh thần, tâm lý của người dùng, đặc biệt là giới
Căn cứ vào thực trạng vấn đề của giới trẻ nói chung và HS trong trường nói
riêng; tình hình thực tế của Nhà trường và đặc trưng của bộ môn Tin học đề tài
thực hiện một số nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu tình trạng nghiện mạng xã hội của giới trẻ thế giới và giới trẻ
ở Việt Nam và các giải pháp khắc phục;
Xây dựng các nội dung học tập, kế hoạch hoạt động, thời gian, địa điểm
để triển khai đồng bộ, đầy đủ đến các em học sinh khối 10;
Triển khai nội dung dưới nhiều hình thức khác nhau như: lồng ghép vào
nội dung các bài học; tổ chức các buổi học tập ngoại khóa; thành lập các
câu lạc bộ nhằm tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh, các
hoạt động thể dục thể thao, hoạt động tình nguyện…
3. Đối tượng nghiên cứu.
Nội dung đề tài tập trung chủ yếu vào việc tuyên truyền, phổ biến đến HS
khối 10 trong trường THPT Tô Hiến Thành những tác hại của việc sử dụng
mạng xã hội và chơi game online nhiều tới mức nghiện đã và đang gây ra rất
nhiều hậu quả nghiêm trọng, điển hình nhất là tình trạng mắc bệnh tâm thần;
đồng thời đưa ra một số giải pháp phù hợp giúp các em khắc phục thói quen xấu
của bản thân.
4. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tôi đã tiến hành nghiên cứu các báo cáo thống kê về giới trẻ thế giới với
tình trạng nghiện mạng xác hội hiện nay; báo cáo về tình trạng nghiện mạng xã
hội của giới trẻ Việt Nam; các quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Viễn thông,
Luật Công nghệ thông tin và Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của
Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ intrernet và thông tin trên
mạng.
b. Phương pháp khảo sát
Dựa trên những tài liệu đã nghiên cứu tôi tiến hành khảo sát đối tượng học
Bác sĩ Mubarak Rahamathulla (chuyên gia về Internet và sức khỏe tâm thần ở
Trường ĐH Flinders - Úc) cũng đã khuyến cáo rằng những người sử dụng
Internet thường xuyên, nhất là người nghiện Internet thường dễ có xu hướng
lệch lạc hành vi. Đặc biệt, các mối quan hệ trên thế giới ảo của họ thường có ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống. Tại Mỹ, khảo sát mới của Hiệp hội
Tâm lý Mỹ cũng đã chỉ ra rằng có đến 86% người trưởng thành ở nước này cho
biết họ liên tục kiểm tra email, tin nhắn và mạng xã hội. Trong khi đó, thống kê
tại các thanh thiếu niên ở một số trường tư thục Anh đã cho thấy có tới 2/3 người
được khảo sát tỏ ra mệt mỏi vì sử dụng mạng xã hội thường xuyên. The Royal
Society of Public Health and the Young Health Movement (Anh) đã thực hiện
một cuộc khảo sát với gần 1.500 thanh thiếu niên ở độ tuổi từ 14 - 24 về tác hại
của các trang mạng xã hội đối với sức khỏe tâm thần người trẻ.
Bên cạnh những mặt tích cực của mạng xã hội, qua khảo sát thực tế đã cho
thấy rằng các trang mạng xã hội đã và đang gây ra rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực
cho giới trẻ dễ thấy như các chứng bệnh trầm cảm, ngại giao tiếp, chứng lo âu,
chứng mất ngủ, cảm giác cô đơn, hay bị ảo giác, mất cân bằng tâm, sinh lý, lệch
lạc hành vi, cơ thể suy nhược…
* Báo động về tình trạng nghiện mạng xã hội của giới trẻ ở Việt Nam [6]:
Theo thống kê năm 2015 của Facebook, ở Việt Nam, mỗi tháng có tới 30
triệu người dùng và những người này dành trung bình 2,5 giờ/ngày để vào
Facebook. 3/4 trong số đó là những người trẻ, nằm trong độ tuổi từ 18 – 34.
6
Điều này không chỉ gây ảnh hưởng đến kết quả học tập, làm việc, nó còn
gây ra rất nhiều hậu quả đối với sức khoẻ, trong đó điển hình nhất là tình trạng
mắc bệnh tâm thần. Bác sĩ La Đức Cương, giám đốc bệnh viện Tâm thần TW1
cho biết, bệnh viện thường xuyên tiếp nhận các trường hợp bệnh nhân đến khám
và điều trị tâm thần với nguyên nhân do "nghiện" mạng xã hội.
vào nhiều nhóm bạn đa dạng hơn.
Về đặc điểm nhận thức và phát triển trí tuệ ở HS THPT: nhận thức, hiểu
biết rộng và phong phú hơn. Cụ thể:
Tính độc lập và sáng tạo thể hiện rõ nét.
Sự phân hóa hứng thú nhận thức rõ nét và ổn định hơn.
7
Sự phát triển trí tuệ đạt đến đỉnh cao.
Về đặc điểm nhân cách của HS THPT: đặc điểm nổi bật trong nhân cách
của HS thể hiện ở tự ý thức và cái tôi. Ở HS THPT tự đánh giá thể hiện ở một số
đặc điểm nổi bật sau:
Đối chiếu bản thân với chuẩn mực xã hội
Sự đánh giá có tính phê phán và đòi hỏi cao ở bản thân
Tự đánh giá có chiều sâu và khái quát hơn
Tự đánh giá thể hiện theo 3 cách: So sánh mức độ kì vọng với kết quả của
bản thân; đối chiếu so sánh với ý kiến của người khác về bản thân; sự
thành thạo trong công việc, sự hấp dẫn trong tình yêu và tình bạn thân.
Đánh giá mang tính chủ quan và có chút cao hơn so với hiện thực.
Tuy nhiên, quá trình hình thành nhân cách bao gồm cả việc hình thành “cái
tôi”. Cái tôi hay hình ảnh về cái tôi có nhiều nội dung và nhiều mức độ như cái
tôi thể chất, cái tôi hiện thực, cái tôi lí tưởng.. Khi ở độ tuổi này, HS rất quan
tâm đến thân thể của mình trong con mắt người khác. Hình ảnh cái tôi được
đánh giá qua nhiều tiêu trí khác nhau: tính bền vững, tính tương phản, mức độ rõ
ràng.
Ở độ tuổi THPT thì tâm lí của HS về tính dục, căng thẳng tâm lí, lạm dụng
chất…HS THPT đang hình thành về sinh lí và hoàn chỉnh hơn về nhân cách. Đối
với vẫn đề tính dục thì có 3 mặt chúng ta cần quan tâm: hành vi tính dục, tâm
thế tính dục, các cảm nghiệm và ảo tưởng tính dục. Hiện tượng tính dục gắn với
việc lĩnh hội vai trò giới.
và sự thay đổi trong cách nhìn nhận của người lớn.
b. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi thì cũng có rất nhiều khó khăn thách thức đặt ra:
Thứ nhất: Đa số gia đình phụ huynh học sinh làm nghề nông, công nhân
các nhà máy, buôn bán, đi làm ăn xa…, nên không có nhiều thời gian, bên cạnh
đó trình độ bố mẹ còn thấp nên chưa thật quan tâm và đầu tư đến việc học hành
của con cái mà chủ yếu là phó thác việc học tập của con cho nhà trường. Vì vậy
các giáo viên đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm lớp gặp rất nhiều khó khăn trong
việc theo dõi quá trình học tập, rèn luyện của các em.
Thứ hai: Mặt khác, ở lứa tuổi lớp 10 là giai đoạn đầu của thanh niên
là tuổi của những người đang lớn, tâm sinh lý các em thay đổi bất thường, tính sĩ
diện, học đòi bắt đầu phát triển…trong khi đó xã hội bên ngoài đầy rẫy những
cám dỗ của cuộc đời nên rất khó khăn cho giáo viên chủ nhiệm, ban nề nếp, các
giáo viên trực tiếp giảng dạy trong việc giáo dục, định hướng cho các em.
Thứ ba: Cơ sở vật chất của Nhà trường còn nhiều thiếu thốn, khó khăn.
2.3. Các giải pháp để giải quyết vấn đề
a. Mục tiêu của các giải pháp
- Tuyên truyền đến các em HS những hậu quả nghiêm trọng của việc sử
dụng mạng xã hội quá mức;
- Nâng cao nhận thức, kĩ năng của các em HS trong vấn đề sử dụng mạng
xã hội nói riêng và Internet nói chung; Giúp các em HS hiểu lợi ích Internet
cũng như cách sử dụng internet một cách hiệu quả, bổ trợ cho quá trình học tập,
giao lưu, kết bạn.
- Phối hợp tốt giữa Nhà trường và gia đình để khuyến khích các em tham
gia các câu lạc bộ của trường, thành lập các câu lạc bộ mới nhằm giúp các em
hạn chế tối đa thời gian sử dụng mạng xã hội.
b. Nội dung và cách thức thực hiện của giải pháp
* Biện pháp 1: Giúp HS nhận biết các dấu hiệu cho thấy có thể bản
thân mình đã bị nghiện mạng xã hội, Internet.
9
2
Khó chịu khi bị làm gián đoạn: Nếu bạn thường xuyên cáu
kỉnh khi bị gián đoạn kết nối trực tuyến, đấy có thể là một dấu
hiệu cho thấy bạn đang chi tiêu quá nhiều thời gian trên internet.
3
Cảm giác tội lỗi: Bạn cảm thấy tội lỗi về số lượng thời gian
bạn dùng để trực tuyến.
4
Tách khỏi gia đình và bạn bè: Có phải cuộc sống xã hội của
bạn đang khốn khổ vì thời gian dành cho mạng trực tuyến số
lượng thời gian trực tuyến? Mất sự gần gũi với gia đình và bạn bè.
Có
Không
Ngày ….. tháng ..…. năm………
Cán bộ điều tra
Ngày ….. tháng ……. năm……….
Học sinh xác nhận
10
- Tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra :
1. Báo cáo lên Ban giám hiệu về kết quả khảo sát tình trạng nghiện mạng
xã hội của HS trong trường.
2. Kiến nghị Nhà trường vào cuộc để kịp thời ngăn chặn, giáo dục, định
hướng cho các em HS khắc phục tình trạng nghiện mạng xã hội, qua đó giúp các
em có cuộc sống lành mạnh, rèn luyện đạo đức và nâng cao chất lượng học tập.
* Biện pháp 2: Phổ biến những hậu quả nghiệm trọng của tình trạng
nghiện mạng xã hội của giới trẻ nhằm thức tỉnh các em HS.
Phối hợp với Ban giám hiệu, Ban chấp hành Đoàn TN tổ chức buổi hoạt
động ngoại khóa: “HS với tình trạng nghiện mạng xã hội” Trong buổi ngoại
khóa này giáo viên và học sinh được giao lưu trò chuyện cởi mở với nhau. Đưa
ra một số câu hỏi mở để thảo luận trên diễn đàn như:
Tại sao học trò "nghiện" mạng xã hội?
Mạng xã hội tốt hay xấu?
Giải thích các cụm từ “Sống ảo”, “Anh hùng bàn phím” , câu “like”, …
Với hình thức là một buổi ngoại khóa các em tỏ ra rất sôi nổi thể hiện cái
tôi của bản thân, nói lên suy nghĩ, mạnh dạn chia sẽ cách nghĩ, hiểu biết của
mình về vấn đề được hỏi.
Để giúp các em HS nhận thức được về hậu quả của việc lạm dụng và dành
Nghiện mạng xã hội gây nhiều hệ lụy về sức khỏe tâm thần.
Những tác hại của nghiện mạng xã hội
Trước hết, việc sử dụng facebook, twitter, instagram, zalo… lâu dài dẫn
đến suy giảm các hoạt động sống bình thường của cơ thể như giấc ngủ và ăn
uống. Lý do dẫn đến các rối loạn này do việc sử dụng facebook thường vào
những thời điểm nghỉ ngơi như bữa ăn, giờ nghỉ trưa, giờ đi ngủ. Khi sử dụng
vào các khung giờ bữa ăn sẽ làm xáo trộn nhịp sinh học, phá vỡ các cơ chế điều
hòa thể dịch, nội tiết của bản thân dẫn đến khó tiêu hóa, khó hấp thu, đầy bụng,
chán ăn, ăn không ngon miệng, dễ gây đau dạ dày - đại tràng. Sử dụng facebook
vào khung giờ ngủ dẫn đến hay mệt mỏi, khó ngủ, hay thức khuya, ngủ không
sâu giấc, dễ thức giấc… Những rối loạn này còn có thể do việc tác động từ
13
những thông tin trên facebook như nhận được những bình luận tiêu cực hay tự ti
về ngoại hình của bản thân mà nhịn ăn hoặc ăn uống không khoa học.
Là một kênh để thu nhận thông tin, tuy nhiên các thông tin trên facebook
đều không được kiểm chứng, dẫn đến có nhiều thông tin không chính xác, sai
lệch nội dung hoặc những thông tin “đùa”, “câu like”, “giật tít” làm cho người
dùng thường xuyên rơi vào trạng thái căng thẳng, hồi hộp, lo lắng… Điều này
dẫn đến những rối loạn bệnh lý như rối loạn lo âu, rối loạn ám ảnh cưỡng chế,
rối loạn stress… Một số người trẻ tuổi (dưới 26 tuổi) là độ tuổi chưa định hình
phát triển vỏ não, phát triển nhân cách khi sử dụng facebook sẽ dẫn tới những
rối loạn nhân cách kiểu hoang tưởng, tự đề cao bản thân, chống đối xã hội, tính
vị kỷ, ích kỷ, một số có các hành vi kích động và gây hấn.
Trầm cảm cũng là một hậu quả của facebook với người dùng. Việc giao
tiếp “ảo” làm giảm nhu cầu của giao tiếp trực tiếp, dẫn đến người dùng ít nói
chuyện, ít tiếp xúc với mọi người. Các thông tin và bình luận tiêu cực trên
facebook khi không được nhìn nhận tỉnh táo cũng dẫn đến những biểu hiện buồn
thấy có tiếng nói trong đầu, xui khiến, ra lệnh; phản xạ bất thường, hành động
thiếu kiểm soát.
* Biện pháp 3: Đưa ra một số lời khuyên, một số giải pháp hay thiết
thực giúp HS cai nghiện mạng xã hội hiệu quả phù hợp với tình hình thực tế
của các em.
Hoạt động ngoại khóa là hình thức thích hợp để phổ biến rộng rãi đến các
em HS một số lời khuyên giúp cai nghiện mạng xã hội. GV và HS cùng nhau
thảo luận để đưa ra những giải pháp tối ưu cho bản thân các em, khuyến khích
các em nói ra suy nghĩ cá nhân, đề xuất các giải pháp mới.
Một số lời khuyên giúp HS cai nghiện mạng xã hội:
1. Hãy tự hỏi mình đang bỏ lỡ những gì khi dành quá nhiều thời gian trên
internet.
Thời gian dành cho bạn bè và gia đình;
Đọc sách;
Chơi thể thao hoặc tham gia các môn thể thao ưa thích;
Phát triển và nâng cao kỹ năng làm việc.
Ghi lại, rồi giảm bớt thời gian dùng Internet để thực hiện một vài điều trong
số đó.
2. Đề ra mục tiêu sử dụng Internet hợp lý và thực hiện đầy đủ. Nghỉ giải lao
thường xuyên, ít nhất 5 phút mỗi giờ. Hãy cố gắng tìm cách để buộc mình phải
dành thời gian làm những việc khác, bất cứ điều gì khiến bạn bận rộn,
3. Thay đổi thói quen để phá vỡ những chu kỳ sử dụng internet của mình.
Cần lên kế hoạch về những hoạt động sẽ tham gia vào mỗi khi truy cập các trang
mạng xã hội và các trang web khác. Ví dụ, trong ngày, bạn có thể tự giới hạn
thời gian, số lần trong mỗi ngày chỉ để kiểm tra và trả lời tin nhắn. Tự quyết
định thời gian truy cập và sau đó, mỗi tuần sẽ nhìn lại và tự thưởng cho mình
một phần thưởng nào đó cho sự cố gắng này.
4. Tìm kiếm bạn bè và người quen, những người hầu như không quan tâm
về internet. Hãy dành thời gian đề cao thực tế rằng sống không phải chỉ để lên
mạng trực tuyến.
* Biện pháp 4: Giáo dục văn hóa và pháp luật cho các em HS khi tham
gia trên mạng xã hội nói riêng và Internet nói chung.
Với nội dung này tôi đã lồng ghép vào trong nội dung mục 3 của bài 9: Tin
học và xã hội:
- Sử dụng một số hình ảnh về vụ việc vi phạm pháp luật trên mạng xã hội
và sự nghiêm trị của pháp luật Việt Nam [6]:
16
Theo quy định của pháp luật hiện hành, những hành vi nói xấu, đe dọa,
quấy rối, xuyên tạc vu khống, xúc phạm danh dự, y tín của cá nhân hay tổ chức
có thể bị xử lý vi phạm hành chính, chịu trách nhiệm dân sự, thậm chí truy cứu
trách nhiệm hình sự. Thông qua những minh chứng cụ thể giáo dục các em văn
hóa và kĩ năng ứng xử khi tham gia vào mạng xã hội. Bất cứ môi trường nào,
hai yếu tố cần nhất của mỗi người là đạo đức và kỹ năng ứng xử. Có đạo đức các
em sẽ phân biệt được đúng sai, không để đám đông lôi cuốn vào những việc tiêu
cực. Kỹ năng sống, đặc biệt là kỹ năng ứng xử trong từng tình huống sẽ giúp các
em xử lý các sự cố một cách tốt nhất.
- Sử dụng phương pháp hoạt động nhóm: Chia lớp thành 4 nhóm phát tài
liệu về các quy định của Bộ luật Hình sự, Luật Viễn thông, Luật Công nghệ
thông tin và Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về Quản
lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ intrernet và thông tin trên mạng.
Yêu cầu các em tìm hiểu và thảo luận chung 2 nội dung sau:
1. Các hành vi bị ngăn cấm;
2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng Internet.
17
Qua việc tìm hiểu và thảo luận với nhau các em nắm chắc được bộ luật của
của những người dùng khác gây xôn xao xã hội. Ngoài ra, vấn đề bảo mật cũng
có thể trở nên hết sức đáng lo nếu không may bạn vô tình truy cập vào một
đường dẫn nào đó tưởng chừng an toàn do chính bạn bè của mình gửi. Tài khoản
của bạn bị mất và sẽ có người mạo danh bạn thực hiện các hành động phi pháp
khác.
GV và HS cùng thảo luận qua đó giúp nâng cao nhận thức, rèn luyện kĩ
năng cho HS khi sử dụng mạng xã hội, internet. Điều quan trọng là sử dụng
mạng xã hội như thế nào để tránh bị gây hại. “Chúng ta cần dạy trẻ cách đối phó
với mạng xã hội - học cách nhận biết những mặt tích cực và tiêu cực để sẵn sàng
18
cho một thế giới số hóa thay vì đổ lỗi cho nó” ( Simon Wessely, Chủ tịch của
Trường Tâm lý Hoàng gia Anh). [6]
* Biện pháp 5: Phối hợp tốt giữa Nhà trường và gia đình để kuyến khích
các em tham gia các câu lạc bộ hạn chế tối đa thời gian sử dụng mạng xã hội.
Để thực hiện tốt được nội dung này cần phải thực hiện một cách đồng bộ
với sự phối hợp của Ban giám hiệu, GVCN , Đoàn TN, GV bộ môn Tin học
cùng gia đình các em HS.
Thứ nhất: Phối với hợp với gia đình HS: Việc phối hợp với gia đình học
sinh có hiệu quả cao trong công tác giáo dục các em. Trước tiên tôi tìm hiểu
hoàn cảnh gia đình các em thông qua GVCN hoặc trực tiếp liên lạc. Có gia đình
có điều kiện kinh tế, có thời gian luôn theo dõi sát sao việc học tập của con em
thậm chí luôn đưa đón các em đi học, quản lý chặt chẽ về thời gian ở trường và
ở nhà. Nhưng cũng có rất nhiều gia đình bố mẹ đầu tắt mặt tối đi sớm về khuya,
hoặc phải đi làm ăn xa, họ không có thời gian để quan tâm đến con cái mặc dù
cũng muốn cho con em mình học giỏi, ngoan ngoãn.
Tôi cùng GVCN đã lập kế hoạch cụ thể ngay từ đầu năm học để trao đổi
với các bậc phụ huynh về những tác hại của nghiện mạng xã hội. Qua buổi trao
trên mạng xã hội. Và một khi các em vượt qua được thì các con sẽ rất trưởng
thành, mạnh mẽ. Trong mọi người hợp, chính bố mẹ phải là người mạnh mẽ,
bình tĩnh để đồng hành cùng con. Khi gặp các biến cố từ mạng xã hội, điều các
em sợ chưa hẳn là mình có vượt qua được hay không mà các em sợ nhất là đối
mặt với người thân như thế nào.
- Trẻ lao vào mạng xã hội để khẳng định bản thân: Một thực tế hiện nay là rất
nhiều em ăn, ngủ, mọi niềm vui nỗi buồn, lý tưởng sống… tất cả đều phụ thuộc
vào mạng. Những tiêu cực khi “cắt đứt” với thế giới thực diễn ra nhiều chúng ta
có thể thấy hàng ngày và tưởng rằng do mạng xã hội nhưng thật ra là do sự cô
độc, thiếu tình yêu thương, chia sẻ của giới trẻ. Các em cô đơn, không được sự
quan tâm đúng mức từ gia đình, xã hội, thế giới thực không có chỗ cho mình thì
trẻ sẽ càng “lao” vào thế giới ảo để khẳng định bản thân. Đôi khi, chính bố mẹ
đẩy con vào mạng xã hội.
Đề xuất với các bậc phụ huynh cho con em mình tham gia vào các câu lạc
bộ của trường và hỗ trợ một phần kinh phí cho hoạt động của các câu lạc bộ. Đề
xuất này đã nhận được sự hưởng ứng rất tích cực từ phía phụ huynh.
Thứ hai, Phối hợp của Ban giám hiệu, GVCN, Đoàn TN:
Nhà trường kết hợp với Đoàn TN đã thành lập được một số câu lạc bộ:
Câu lạc bộ bóng rổ, câu lạc bộ bóng đá, câu lạc bộ thiện nguyện được các em
HS hưởng ứng. Tuy nhiên số lượng HS tham gia các câu lạc bộ vẫn còn ít do
thiếu nguồn lực quản lý, kinh phí hoạt động,…
Tôi đã đề nghị thành lập thêm một số câu lạc bộ mới tạo nhiều sân chơi cho
các em HS như: Với HS là nữ nên có câu lạc bộ cắm hoa, ca múa, đọc sách…
Với HS nam thành lập thêm câu lạc bộ bóng chuyền, võ thuật, nhảy hiện đại, cờ
vua,…Để hoạt động hiệu quả được cần có nhân lực để quản lý và kinh phí hoạt
động. Về nhân lực có thể huy động trước hết là các thầy cô trong Ban chấp hành
Đoàn TN, GVCN, thầy cô bộ môn thể dục, giáo dục quốc phòng....hoặc thuê
giáo viên dạy võ, dạy cắm hoa…Về kinh phí có thể huy động từ sự hỗ trợ của
Nhà trường, của phụ huynh, tài trợ của những mạnh thường quân…
Bên cạnh đó, Nhà trường cần phối hợp với Ban chấp hành Đoàn TN và
động, giúp đỡ bạn bè, không có hành vi biểu hiện cá biệt.
Kết quả thu được sau khảo nghiệm như sau:
* Về đạo đức
Bảng kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh – Đầu năm học 2017 – 2018
STT
Lớp
Khối 10
1
10C1
2
10C2
3
10C3
4
10C4
5
10C5
6
10C6
7
10C7
Tốt
Sĩ số
303
43
45
17
13
14
8
7
Hạnh kiểm
Khá
T.bình
TL
SL
TL
27.06%
24 7.92%
18.60%
1 2.33%
33.33%
4 8.89%
40.48%
5 11.90%
30.23%
5 11.63%
33.33%
3 7.14%
18.18%
3 6.82%
15.91%
3 6.82%
SL
Sĩ số
Khối 10
1
10C1
2
10C2
3
10C3
4
10C4
5
10C5
6
10C6
7
10C7
SL
233
33
32
32
29
29
38
40
303
43
9 21.43%
1 2.38%
10 23.26%
4 9.30%
10 23.81%
3 7.14%
6 13.64%
0 0.00%
4
9.09%
0 0.00%
SL
0
0
0
0
0
0
0
0
Yếu
TL
0.00%
0.00%
0.00%
0.00%
0.00%
0.00%
10C6
44
7
10C7
44
SL
1
0
0
0
0
0
0
1
Giỏi
TL
0.33%
0.00%
0.00%
0.00%
0.00%
0.00%
0.00%
2.27%
SL
96
7
SL
22
5
2
2
4
3
5
1
Yếu
Kém
TL
SL
TL
7.26% 0 0.00%
11.63% 0 0.00%
4.44% 0 0.00%
4.76% 0 0.00%
9.30% 0 0.00%
7.14% 0 0.00%
11.36% 0 0.00%
2.27% 0 0.00%
Bảng kết quả học lực – Cuối năm học 2017 – 2018
STT
Lớp
TL
SL
TL
4 1.32% 120 39.60%
0 0.00% 12 27.91%
0 0.00% 19 42.22%
1 2.38%
16 38.10%
0 0.00% 11 25.58%
0 0.00% 14 33.33%
1 2.27% 16 36.36%
2 4.55% 32 72.73%
Học lực
T.bình
SL
TL
160 52.81%
28 65.12%
25 55.56%
22 52.38%
23 53.49%
24 57.14%
28 63.64%
10 22.73%
Yếu
Kém
SL
TL
khảo góp ý kiến, rất mong nhận được những đóng góp của đồng nghiệp. Tôi
mong rằng đề tài này có thể áp dụng cho nhiều khóa HS không chỉ trong trường
THPT Tô Hiến Thành mà cả ở các trường khác.
3.2. Kiến nghị
Nhà trường có thể tổ chức một số diễn đàn đối thoại 3 bên: Phụ huynh –
HS – Nhà trường, sâu sát đến tâm lý của học sinh nhiều hơn, để kịp thời lắng
nghe tâm tư, nguyện vọng của các em.
Cơ sở vật chất hiện có của Nhà trường còn nhiều thiếu thốn, rất mong Nhà
trường cũng như các sở, ban ngành có kết hoạch đầu tư về cơ sở vật chất: xây
dựng phòng đọc thư viện, phòng tập đa năng,… hỗ trợ kinh phí hoạt động, đầu
tư mua một số trang thiết bị cho các câu lạc bộ mới thành lập.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 05 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Lê Thị Chung
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
SGK Tin học 10 – Hồ Sĩ Đàm (Chủ biên) - Hồ Cẩm Hà - Trần Đỗ Hùng –
Nguyễn Xuân My – Nguyễn Đức Nghĩa – Nguyễn Thanh Tùng – Ngô Ánh
Tuyết