Pháp luật Việt Nam thời Lý – Những đặc điểm, thành tựu và hạn chế
1. Khái quát tình hình pháp luật Việt Nam từ thời Hùng Vương đến thời Lý
Thời Hùng Vương, nước ta chưa có pháp luật thành văn. Theo tài liệu dân tộc học và nội
dung các truyền thuyết dân gian, các nhà sử học cho rằng vào thời bấy giờ, “quan hệ xã hội
chủ yếu được điều chỉnh bằng tập quán, tục lệ”.
Thời Bắc thuộc, hệ thống pháp luật của các triều đại phong kiến phương Bắc đã được du
nhập vào nước ta. Sử cũ có ghi chép lại:
Năm 112 TCN, đời Triệu Ai Vương có việc cải cách “bỏ hình phạt cũ thích chữ, cắt
mũi
1
, dùng pháp luật nhà Hán như các chư hầu ở trong” (Đại Việt sử kí toàn thư, tr.204).
Sách Hậu Hán thư do tác giả Phạm Việp đời nhà Tống (thế kỉ V) có đoạn chép: “Tô
Đònh, Thái thú Giao Chỉ lấy sách pháp luật ràng buộc, Trắc oán giận nên làm phản”.
Cũng sách Hậu Hán thư khi chép về công lao của Mã Viện có đoạn viết: “Mã Viện lại
có điều trần tấu lên vua rằng luật của người Việt so sánh với luật Hán hơn 10 điều”. Nguồn
sử liệu này cho phép chúng ta bước đầu khẳng đònh: thứ nhất, luật của người Việt là luật
thành văn nên Mã Viện mới có căn cứ để so sánh; thứ hai, luật của người Việt nhiều khả
năng được hình thành trên cơ sở luật Hán, có bổ sung thêm một số điều nên luật Việt và luật
Hán mới có sự khác biệt nhau ít như thế (Hán luật đến thời Hán Vũ Đế (140 – 87 TCN) đã có
tất cả 60 chương).
Thời kỳ này, luật tục tiếp tục khẳng đònh vò trí của mình trong xã hội. Người Việt sống
với nhau chan hòa, tình cảm. Họ không quan tâm đến bộ luật thành văn của chính quyền đô
hộ. Chỉ đến khi xảy ra những vấn đề lớn liên quan đến tính mạng con người, tới đất đai,… mọi
người mới kéo nhau đến cửa quan, nhờ tới sự can thiệp của luật nhà nước.
Thế kỉ X, nước ta đã giành được độc lập. Tuy nhiên, do giai cấp thống trò chưa có kinh
nghiệm cầm quyền, lại phải tập trung vào việc củng cố quyền hành và cơ sở thống nhất của
cả nước nên pháp luật thành văn chưa được xây dựng quy củ. Những tài liệu cho biết về tình
hình pháp luật thời kì này hết sức ít ỏi. Theo Đại Việt sử kí toàn thư, Đinh Tiên Hoàng “muốn
dùng uy chế ngự thiên hạ, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: Kẻ
nào trái phép phải chòu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn. Mọi người sợ phục, không ai dám phạm”
loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một triều đại, để cho người xem dễ
hiểu. Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây, phép xử án được
bằng phẳng, rõ ràng” (Toàn thư, tr.401).
Cơ quan hành pháp và lập pháp tối cao dưới thời Lý là nhà vua. Ngoài bộ luật Hình thư,
các vua triều Lý còn ban hành nhiều Chiếu, Lệnh có nội dung liên quan đến pháp luật.
Không những thế, vua còn là người trực tiếp xử kiện. Tháng 6 (1065), vua ngự ở điện Thiên
Khánh để xét kiện. Mỗi khi có dòp hội hè, cầu đảo, thời tiết bất thường,… vua lại ra lệnh chẩn
tế, tha tù.
Bên dưới vua là một số quan lại coi việc hình ngục. Sử cũ chép: “Lý Phụng và hai mươi
người khác được vua dùng làm quan coi việc kiện tụng của dân gian”.
Với bộ luật Hình thư và hệ thống quan coi việc kiện tụng, hình ngục, nhà Lý đã chú ý
đến việc xét án theo điều chế, pháp luật. Năm 1146, vua Lý xuống chiếu cho các ty xử án
rằng: “Kẻ nào tranh bậy không hợp điều luật pháp chế thì xử 60 trượng” (Toàn thư, 488). Để
cho việc xử án được công minh, nhà vua có thể nghe được nỗi oan trái của dân, nhà Lý cho
đúc một quả chuông lớn đặt ở điện Thiên An, nơi vua thường ngồi xử kiện. Ai có điều gì oan
trái thì đến đánh chuông.
Thời Lý, kiến thức về hình luật đã trở thành một môn tri thức quan trọng đối với quan lại
làm việc trong chính quyền nhà Lý. Hình luật là một trong ba môn thi bắt buộc để tuyển chọn
quan lại. Tháng 2 năm 1077, nhà Lý tổ chức thi lại viên để tuyển chọn quan lại với ba môn
thi gồm thư (chữ viết), toán và hình luật (Toàn thư, 430).
Như vậy, sự thống trò của chính quyền trung ương đã được khẳng đònh trên những
nguyên tắc nhất đònh. Mặc dù quyền hành cao nhất, độc đoán vẫn là ông vua, song so với
thời Đinh và Tiền Lê thì sự thống trò của nhà nước đã dựa trên những nguyên tắc pháp lý cụ
thể, rõ ràng. Chính quyền trung ương bắt đầu can thiệp vào nội bộ các làng xã.
2. Đặc điểm pháp luật Việt Nam thời Lý
* Pháp luật thời Lý đề cập đến nhiều mặt, nhiều lónh vực của đời sống xã hội
Trước hết, luật pháp xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu ruộng đất. Năm 1135, Lý Thần
Tông xuống chiếu quy đònh “những người đã bán ruộng, ao không được trả tăng tiền lên để
chuộc lại. Làm trái thì bò tội” (Toàn thư, 440). Năm 1142, vẫn theo nguyên tắc trên, Lý Anh
Tông lại xuống chiếu quy đònh bổ sung: “Những người cầm đợ ruộng thục trong vòng 20 năm
pháp luật nhà Đường mà nó mang một tinh thần, sắc thái riêng biệt của Việt Nam bởi nó chòu
ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo và phản ánh điều kiện xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
* Pháp luật triều lý chòu ảnh hưởng của đạo Phật
Dưới thời Lý, Phật giáo phát triển mạnh, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội,
trong đó có pháp luật. Nội dung nhiều Chiếu, Lệnh của các vua triều Lý thể hiện lòng từ bi,
bao dung quá mức đối với kẻ phạm tội. Chẳng hạn năm 1065, vua Lý Thánh Tông đang xử
kiện ở điện Thiên Khánh đã nói với các quan rằng: “Nhân dân vì không biết mà sa vào hình
pháp, ta rất thương. Từ nay về sau, không cứ tội nặng nhẹ, đều nên khoan hồng” (Toàn thư,
418).
Năm 1041, Nùng Trí Cao làm phản. Vua Lý Thái Tông đưa quân đi đánh, bắt sống được
Trí Cao. Vua thương tình tha tội, lại còn cho Trí Cao trấn giữ châu Quảng Nguyên. Bình luận
về sự kiện này, sử gia Lê Văn Hưu viết: như vậy “khác gì thả cọp beo cho cắn người rồi từ từ
đến cứu không? Đó là vì Thái Tông say đắm cái lòng nhỏ nhặt của nhà Phật mà quên mất cái
nghóa lớn của nhà vua” (Toàn thư, 400), còn sử gia Ngô Só Liên thì nhận xét: “Mê hoặc bởi
các thuyết từ ái của nhà Phật mà tha cho bầy tôi phản nghòch thì lòng nhân ấy thành ra nhu
nhược, đó là chỗ kém” (Toàn thư, 400). Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn nhận đònh: “Sau
các đời vua hung hãn họ Đinh, Lê, ta thấy xuất hiện ra những người có lòng độ lượng, khoan
hồng, những người giúp việc ít tham lam phản bạn. Đời Lý có thể gọi là đời thuần nhất trong
sử nước ta. Đó chính là nhờ ảnh hưởng đạo Phật”.
3. Thành quả và hạn chế của pháp luật thời Lý
Cùng với sự phát triển và hoàn chỉnh hóa chính quyền trung ương, nền pháp luật Việt
Nam đã hình thành dưới triều Lý. Sự cai trò của triều Lý đã thực sự đặt trên những nguyên tắc
pháp lý thành văn ổn đònh.
Mặc dù tính tự quản của hương giáp vẫn còn khá mạnh, nhưng nhà nước thời Lý đã biết
dùng pháp luật để thống nhất quốc gia từ trung ương đến cơ sở, nhà nước bắt đầu can thiệp
đến tận hương, giáp.
Luật pháp thời Lý xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu. Đứng về phương diện tiến hóa, từ
sở hữu cộng đồng thò tộc sang chế độ tư hữu là một bước nhảy vọt của xã hội loài người.
Pháp luật triều Lý đề cao nhân quyền, thể hiện sự quan tâm, chăm lo cho đời sống của
nhân dân.