Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của khu vực ĐTNN - Pdf 94

B- Néi dung
I. Quan niÖm vÒ §TNN
1- Kh¸i niÖm §TNN (FDI)
Đầu t trùc tiÕp níc ngoµi lµ một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc
gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở
hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp trong một quốc gia khác.
Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận
là FDI.
2- Ph©n lo¹i FDI:cã 2 c¸ch ph©n lo¹i : theo d¹ng vµ theo môc ®Ých
a.Phân loại theo dạng:
- Đầu tư mới
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng để xây dựng các doanh
nghiệp mới hoặc phát triển thêm các doanh nghiệp có sẵn trong nước. Đây là
phương thức các quốc gia nhận FDI thích nhất vì tạo được thêm công ăn việc
làm cho người trong nước, nâng cao sản lượng, chuyển giao kỹ thuật cao cấp,
đồng thời tạo được mối liên hệ trao đổi với thị trường thế giới. Những mặt
yếu của đầu tư mới là có thể “bóp nghẹt” sản xuất trong nước vì nhờ khả năng
cạnh tranh cao hơn về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế, đồng thời làm khô cạn tài
nguyên trong nước. Ngoài ra, một phần lợi nhuận quan trọng sẽ chảy ngược
về công ty mẹ.
-Sát nhập và tiếp thu
Xảy ra khi tài sản của một doanh nghiệp trong nước được chuyển giao
cho một doanh nghiệp nước ngoài. Hình thức chuyển giao có thể là một sự
sáp nhập giữa một công ty trong nước và một công ty nước ngoài để tạo thành
một doanh nghiệp với một tư cách pháp nhân mới. Doanh nghiệp mới này bắt
đầu có tính cách đa quốc gia. Trường hợp sáp nhập với công ty nước ngoài,
phần FDI được tính là phần tài trợ mà công ty trong nước được nhận từ bộ
1
phận công ty nước ngoài rót vào. Hình thức chuyển giao thứ hai là bán đứt
công ty trong nước cho công ty nước ngoài. Trường hợp này, FDI được tính
là những khoản đầu tư từ công mẹ qua cho công ty “con” trong nước.

dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
mở ra nhiều nghành nghề, sản phẩm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại
và chủ động hội nhập quốc tế thế giới.
Đầu t nớc ngoài góp phần quan trọng vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy
đủ và tốt hơn hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông vận tải, bu chính
viễn thông, năng lợng.Đồng thời hình thành đựoc 67 khu công nghiệp- khu chế
xuất và khu công nghệ cao trên pham vi ca nớc góp phần vào việc đô thị hoá,
hình thành khu dân c mới tạo việc làm ổn định cho hơn 200 nghìn lao động địa
phơng và hàng chục ngàn lao động dịch vụ khác, ở các thành phố lớn việc hình
thành các khu chế xuất, khu công nghiệp đã tạo điều kiện cho địa phơng này
tách sản xuất ra khỏi khu dân c giảm thiểu ô nhiễmbảo vệ môi trờng đô thị.
III- Tình hình đầu t n ớc ngoài ở Việt Nam từ 1988- 2007
1- Tình hình thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đăng kí từ 1988-2007
1.1- Cấp phép đầu t từ 1988-2007
Tớnh n cui nm 2007, c nc cú hn 9.500 d ỏn TNN c cp
phộp u t vi tng vn ng ký khong 98 t USD (k c vn tng thờm).
Tr cỏc d ỏn ó ht thi hn hot ng v gii th trc thi hn, hin cú
8.590 d ỏn cũn hiu lc vi tng vn ng ký 83,1 t USD.
Trong 3 nm 1988-1990, mi thc thi Lut u t trc tip nc ngoi
ti Vit Nam nờn kt qu thu hỳt vn TNN cũn ớt (214 d ỏn vi tng vn
ng ký cp mi 1,6 t USD), TNN cha tỏc ng n tỡnh hỡnh kinh t-xó
hi t nc.
3
Trong thời kỳ 1991-1995, vốn ĐTNN đã tăng lên (1.409 dự án với tổng
vốn đăng ký cấp mới 18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình kinh
tế-xã hội đất nước. Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” ĐTNN
tại Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt Nam) với
1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng
vốn) 28,3 tỷ USD. Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt
Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp so với

của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản
xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất
động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ cao cấp .v.v.). Điều này cho
thấy dấu hiệu của “làn sóng ĐTNN” thứ hai vào Việt Nam.
1.2- T×nh h×nh ph¸t triÓn vèn ®Çu t
Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt
động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốn
đầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có gần 4.100
lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng
23,8% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới.
Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng
doanh nghiệp ĐTNN còn ít. Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD
trong 5 năm 1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với
5 năm trước (4,17 tỷ USD). Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt
7,08 tỷ USD (vượt 18% so dự kiến là 6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước.
Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm
2002 và từ năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD,
mỗi năm trung bình tăng 35%.
5
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất
công nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995 ;
65,7% trong giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005.
Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn
tăng thêm.
Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á (59%) nên trong số vốn
tăng thêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao
nhất 66,8% trong giai đoạn 1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-2000,
đạt 70,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương
ứng là 72,1% và 80%.
Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng

T khi ban hnh Lut u t nc ngoi nm 1987, Vit Nam ó chỳ
trng thu hỳt TNN vo lnh vc cụng nghip-xõy dng. Qua mi giai on
cỏc lnh vc u tiờn thu hỳt u t, cỏc sn phm c th c xỏc nh ti
Danh mc cỏc lnh vc khuyn khớch v c bit khuyn khớch u t. Trong
nhng nm 90 thc hin ch trng thu hỳt TNN, Chớnh ph ban hnh
chớnh sỏch u ói, khuyn khớch cỏc d ỏn : (i) sn xut sn phm thay th
hng nhp khu, (ii) sn xut hng xut khu (cú t l xut khu 50% hoc
7
80% tr lờn), (iii) s dng ngun nguyờn liu trong nc v cú t l ni a
hoỏ cao.
Sau khi gia nhp v thc hin cam kt vi WTO (nm 2006), Vit Nam
ó bói b cỏc quy nh v u ói i vi d ỏn cú t l xut khu cao, khụng
yờu cu bt buc thc hin t l ni a hoỏ v s dng nguyờn liu trong
nc. Qua cỏc thi k, nh hng thu hỳt TNN lnh vc cụng nghip- xõy
dng tuy cú thay i v lnh vc, sn phm c th nhng c bn vn theo nh
hng khuyn khớch sn xut vt liu mi, sn phm cụng ngh cao, cụng
ngh thụng tin, c khớ ch to, thit b c khớ chớnh xỏc, sn xut sn phm v
linh kin in t õy cng chớnh l cỏc d ỏn cú kh nng to giỏ tr gia
tng cao v Vit Nam cú li th so sỏnh khi thu hỳt TNN. Nh vy, cho
n nay cỏc d ỏn TNN thuc cỏc lnh vc nờu trờn (thm dũ v khai thỏc
du khớ, sn xut cỏc sn phm cụng ngh cao, sn phm in v in t, sn
xut st thộp, sn xut hng dt may ) vn gi vai trũ quan trng úng gúp
cho tng trng kinh t, xut khu v to nhiu vic lm v ngun thu nhp
n nh cho hng triu lao ng trc tip. C cu u t cú chuyn bin tớch
cc theo hng gia tng t trng u t vo lnh vc cụng ngh cao, lc du
v cụng ngh thụng tin (IT) vi s cú mt ca cỏc tp on a quc gia ni
ting th gii: Intel, Panasonic, Canon, Robotech.v.v. Hu ht cỏc d ỏn
TNN ny s dng thit b hin i xp x 100% v t ng hoỏ t 100%
cho sn lng, nng sut, cht lng cao, do ú cú nh hng ln n cỏc ch
tiờu giỏ tr ca ton ngnh.

lịch, kinh doanh bất động sản) tăng trưởng nhanh, thu hút nhiều lao động và
thúc đẩy xuất khẩu. Cùng với việc thực hiện lộ trình cam kết thương mại dịch
vụ trong WTO, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh thu hút ĐTNN, phát triển các
ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và xuất khẩu.
Trong khu vực dịch vụ ĐTNN tập trung chủ yếu vào kinh doanh bất
động sản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đô thị mới,
kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp (42% tổng vốn ĐTNN trong khu vực
dịch vụ), du lịch-khách sạn (24%), giao thông vận tải-bưu điện (18%)
9
TT Chuyên nghành
Số
dự án
Vốn đầu
t (triệu
USD)
đầu t
đã thực
hiện (triệu
USD)
1 Giao thụng vn ti-Bu in (bao gm
c dch v logicstics)
208 4.287 721
2
Giao thụng vn ti-Bu in (bao gm
c dch v logicstics)
223 5.883 2.401
3
Xõy dng vn phũng, cn h bỏn v
cho thuờ
153 9.262 1.892

Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, ) chiếm 60% tổng vốn đăng ký vào
ngành nông nghiệp (riêng Đài Loan là 28%). Các nước thuộc EU đầu tư vào
Việt Nam đáng kể nhất gồm có Pháp (8%), quần đảo British Virgin Islands
(11%). Một số nước có ngành nông nghiệp phát triển mạnh (Hoa Kỳ,
Canada, Australi)a vẫn chưa thực sự đầu tư vào ngành nông nghiệp nước ta.
Các dự án ĐTNN trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở
phía Nam. Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành,
đồng bằng sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung Bộ 15%. Miền Bắc
và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng
bằng sông Hồng lượng vốn đăng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký
của cả nước.
STT Nông, lâm nghiệp Số dự án
Vốn đăng ký
(USD)
Vốn thực hiện
(USD)
1 Nông-Lâm nghiệp 803 4,014,833,499 1,856,710,521
2 Thủy sản 130 450,187,779 169,822,132
Tổng số 933 4,465,021,278 2,026,532,653
1.4.2- §TNN ph©n theo vïng l·nh thæ
Qua 20 thu hút, ĐTNN đã trải rộng khắp cả nước, không còn địa phương
“trắng” ĐTNN nhưng tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này
11
thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế-xã hội chung và
các vùng phụ cận.
Vùng trọng điểm phía Bắc có 2.220 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư
trên 24 tỷ USD, chiếm 26% về số dự án, 27% tổng vốn đăng ký cả nước và
24% tổng vốn thực hiện của cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu (987 dự án
với tổng vốn đăng ký 12,4 tỷ USD) chiếm 51% vốn đăng ký và 50% vốn thực

công nghệ cao (Quang Trung, Hòa Lạc)
Vùng trọng điểm miền Trung thu hút được 491 dự án với tổng vốn đăng
ký 8,6 tỷ USD qua 20 năm thực hiện Luật Đầu tư, chiếm 6% tổng vốn đăng
ký của cả nước, trong đó: Phú Yên (39 dự án với tổng vốn đăng ký 1,9 tỷ
USD) hiện đứng đầu các tỉnh miền Trung với dự án xây dựng nhà máy lọc
dầu Vũng Rô có vốn đăng ký 1,7 tỷ USD. Tiếp theo là Đà Nẵng (113 dự án
với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD), Quảng Nam (15 dự án với tổng vốn đăng
ký 1,1 tỷ USD) đã có nhiều tiến bộ trong thu hút vốn ĐTNN, nhất là đầu tư
vào xây dựng các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng, vui chơi đạt tiêu chuẩn
quốc tế, bước đầu đã góp phần giảm tình trạng “cháy” buồng, phòng cho
khách du lịch, nhưng nhìn chung vẫn còn dưới mức nhu cầu và tiềm năng của
vùng. Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn ĐTNN còn khiêm tốn như
vùng Đông Bắc và Tây Bắc, trong đó, tuy Lâm Đồng (93 dự án với tổng vốn
đăng ký 318,4 triệu USD) đứng đầu các tỉnh khu vực Tây Nguyên nhưng chỉ
chiếm tỷ trọng 1% về số dự án. Đồng bằng sông Cửu Long thu hút vốn
ĐTNN còn thấp so với các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% về
vốn đăng ký và 3,2% vốn thực hiện của cả nước.
1.4.3-§TNN ph©n theo h×nh thøc ®Çu t
13
Tính đến hết năm 2007, chủ yếu các doanh nghiệp ĐTNN thực hiện theo
hình thức 100% vốn nước ngoài, có 6.685 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký
51,2 tỷ USD, chiếm 77,2% về số dự án và 61,6% tổng vốn đăng ký. Theo
hình thức liên doanh có 1.619 dự án với tổng vốn đăng ký 23,8 tỷ USD,
chiếm 18,8% về số dự án và 28,7% tổng vốn đăng ký. Theo hình thức Hợp
đồng hợp tác kinh doanh có 221 dự án với tổng vốn đăng ký 4,5 tỷ USD
chiếm 2,5% về số dự án và 5,5% tổng vốn đăng ký. Số còn lại thuộc các hình
thức khác như BOT, BT, BTO. Có thể so sánh tỷ trọng dự án hoạt động theo
hình thức 100% vốn nước ngoài tính đến hết năm 2004 là 39,9%, theo hình
thức liên doanh là 40,6% và theo hình thứuc hợp doanh là 19,5% để thấy
được hình thức 100% vốn nước ngoài được các nhà đầu tư lựa chọn hơn.

Trong số 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 83 tỷ đô la
Mỹ, đã có khoảng 50% dự án triển khai góp vốn thực hiện đạt hơn 43 tỷ USD
(bao gồm cả vốn thực hiện của các dự án hết thời hạn hoạt động và giải thể
trước thời hạn), chiếm 52,3% tổng vốn đăng ký, trong đó, vốn của bên nước
ngoài đưa vào (gồm vốn góp và vốn vay) khoảng 37,9 tỷ USD, chiếm 89,5%
tổng vốn thực hiện, các dự án ĐTNN đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho
đầu tư phát triển kinh tế-xã hội đất nước qua từng thời kỳ theo mục tiêu kế
hoạch đề ra.
Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm
trong khi vốn đăng ký và số lượng dự án cấp mới biến động tăng mạnh. Nếu
như cả giai đoạn 1991-1995 vốn thực hiện mới đạt 7,1 tỷ USD, chiếm 44%
tổng vốn đăng ký mới ( bao gồm phần vốn góp của Bên Việt Nam trên 1 tỷ
USD - chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất và vốn nước ngoài đưa vào
khoảng 6,1 tỷ USD) thì trong thời kỳ 1996-2000, mặc dù có ảnh hưởng tiêu
15
cực của khủng hoảng kinh tế khu vực, vốn thực hiện đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng
89% so với 5 năm trước, chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới (trong đó, vốn
góp của Bên Việt Nam là 1,4 tỷ USD và vốn từ nước ngoài đạt 12 tỷ USD) và
tăng 90% so với 5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005 vốn thực hiện đạt 14,3
tỷ USD, chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới, tăng 6% so với 5 năm trước và
vượt 30% dự báo ban đầu (11 tỷ USD) nêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP,
trong đó, vốn góp của Bên Việt Nam đạt trên 1,1 tỷ USD và vốn từ nước
ngoài đạt 12,6 tỷ USD. Riêng hai năm 2006 và 2007 tổng vốn thực hiện đạt
8,7 tỷ USD (trong đó, vốn góp của Bên Việt Nam đạt gần 1 tỷ USD và vốn từ
nước ngoài đạt 7,7 tỷ USD), tuy chỉ bằng 27% tổng vốn đăng ký mới, nhưng
vốn thực hiện năm 2007 tăng 12% so với năm 2006, và sẽ là tiền đề cho việc
giải ngân của 2 năm tới 2008 và 2009 tăng cao vì trong các dự án cấp mới
trong 2 năm 2006 và 2007 có nhiều dự án quy mô vốn đăng ký lớn.
2.2- TriÓn khai ho¹t ®éng s¶n xuÊt kinh doanh cua d ¸n §TNN
Trong 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã góp phần đáng kể

xuất khẩu của cả nước; tính cả dầu thô tỷ lệ này là 56%. Năm 2006 giá trị
xuất khẩu của khu vực có vốn ĐTNN đạt (nếu tính cả dầu thô) đạt 12,6 tỷ
USD, chiếm trên 57% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Năm 2007, giá trị
xuất khẩu của khu vực có vốn ĐTNN đạt 19,7 triệu USD, nếu tính cả dầu thô
thì giá trị xuất khẩu là 27,3 tỷ USD, chiếm 56,8% tổng giá trị xuất khẩu của
cả nước.
Tuy những năm đầu thi hành Luật Đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế có
vốn ĐTNN được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, nhưng cũng đã tích
cực đóng góp vào ngân sách nhà nước, thể hiện qua việc thu nộp ngân sách
tăng dần qua các năm và bắt đầu vượt ngưỡng 1 tỷ USD từ năm 2005 (đạt
17
1,29 tỷ USD, tăng 39,5% so với năm trước và chiếm 12% tổng thu ngân sách
nhà nước, vượt mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 09 (10%). Giai đoạn 1991-1995
do chính sách ưu đãi, khuyến khích ĐTNN của Nhà nước ta nên các doanh
nghiệp ĐTNN đóng góp ngân sách còn hạn chế 115 triệu USD, nhưng con số
này đã tăng hơn 10 lần trong thời kỳ 1996-2000 (đạt 1,49 tỷ USD). Lý do
một số doanh nghiệp ĐTNN đã qua thời gian hưởng chính sách ưu đãi thuế
của nhà nước. Giai đoạn 2001-2005 khu vực doanh nghiệp ĐTNN đã nộp
ngân sách hơn 3,6 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần 5 năm trước. Năm 2006 con số
trên đạt 1,4 tỷ USD, bằng cả 5 năm 1996-2000. Năm 2007, dự kiến thu ngân
sách đạt 1,576 tỷ USD, tăng 7% so với năm trước.
Đồng thời, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cũng tạo việc làm và thu nhập
ổn định cho một bộ phận dân cư, tính từ 1988 đến cuối 2007 có trên 1,26 triệu
lao động trực tiếp, chưa kể số lao động gián tiếp khác làm việc trong khu vực
dịch vụ mà theo kết quả điều tra của Ngân hàng Thế giới, cứ 1 lao động trực
tiếp sẽ tạo việc làm cho khoảng từ 2-3 lao động gián tiếp khác. Số lao động
làm việc trong các doanh nghiệp ĐTNN cũng tăng lên qua từng giai đoạn, từ
21 vạn người vào cuối năm 1995 đã tăng lên 37,9 vạn người vào cuối năm
2000, tăng 80% so với 5 năm trước. Đến cuối năm 2005 đã tăng gấp 2,5 lần
so với 5 năm trước thể hiện số lượng các doanh nghiệp đi vào triển khai dự án

610,3 triệu USD; dự án Công ty TNHH Đầu tư và phát triển Lập An của
Singapore, đầu tư xây dựng khu khách sạn, du lịch 5 sao, bán và cho thuê biệt
thự, nhà ở tại Thừa Thiên Huế với tổng vốn đầu tư là 298,4 triệu USD.
Về đối tác đầu tư, Hoa Kỳ là nhà đầu tư có số vốn đầu tư đăng ký lớn
nhất trong quý I năm 2008 với 8 dự án, tổng vốn đầu tư là 1,31 tỷ USD
(chiếm 25,5% tổng vốn đầu tư đăng ký), do có dự án Công ty TNHH Good
19
Choice USA - Việt Nam nói trên. Tiếp theo là Malaysia với 4 dự án, tổng vốn
đầu tư là 1,26 tỷ USD, chiếm 24,6% tổng vốn đầu tư
Về lĩnh vực đầu tư, trong quý I năm 2008, vốn đầu tư đăng ký tập trung
nhiều nhất trong lĩnh vực dịch vụ với hơn 4,6 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm
89,9% tổng vốn đầu tư, trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là các dự án kinh doanh
bất động sản, khách sạn. Lĩnh vực công nghiệp chiếm 10% tổng vốn đầu tư
đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư.
Về cơ cấu vùng, thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước với 4 dự án,
tổng vốn đầu tư là 2,08 tỷ USD, chiếm 40,3% vốn đầu tư; tiếp theo là Bà Rịa
– Vũng Tàu với 1 dự án, vốn đầu tư là 1,29 tỷ USD, chiếm 25,2% tổng vốn
đầu tư đăng ký; TP Hồ Chí Minh đứng thứ 2, chiếm 24,1% và Thừa Thiên
Huế đứng thứ 3, chiếm 11,8%, trong 23 địa phương của cả nước có dự án
ĐTNN.
Trong qúy I năm 2008 có 49 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn đầu
tư đăng ký tăng thêm là 280,3 triệu USD, bằng 47% về số lượt dự án tăng vốn
và 52% tổng vốn tăng thêm so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung cả vốn cấp mới và tăng thêm trong quý I năm 2008, cả nước
đã thu hút thêm 5.436 triệu USD vốn đầu tư đăng ký, tăng 31% so với cùng
kỳ năm 2007.
IV-KÕt qu¶ ®¹t ®îc tõ §TNN taÞ ViÖt Nam
1-VÒ kinh tÕ
- ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu
cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế:

Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao
hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy
21
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH), tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công
nghiệp qua các năm (từ 23,79% vào năm 1991 lên 40% năm 2004, 41% năm
2005 và năm 2006).
Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong 5
năm qua chiếm trung bình 42,5% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Cụ
thể tỷ trọng trên tăng từ 41,3% vào năm 2000 lên 43,7% vào 2 năm 2004 và
2005. Đặc biệt, một số địa phương (Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc ) tỷ
lệ này đạt đến 65-70% giá trị sản xuất công nghiệp của địa bàn.
ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực
của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô,
xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực
phẩm, da giày, dệt may… Hiện ĐTNN đóng góp 100% sản lượng của một số
sản phẩm công nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa), 60%
cán thép, 33% hàng điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da
giày, 55% sản lượng sợi, 25% hàng may mặc.
ĐTNN đã góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các
khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện
đại, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém
màu mỡ.
- ĐTNN thúc đẩy chuyển giao công nghệ:
ĐTNN góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt
Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông,
thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe
máy Nhất là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ vào Việt Nam
trong dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án
22

ĐTNN tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối
ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua
việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua
khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu
- ĐTNN góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế
quốc tế:
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng nhanh, cao
hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng
kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Thời kỳ 1996-2000, xuất khẩu của khu vực
ĐTNN đạt 10,6 tỷ USD (không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5 năm
trước, chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước; năm 2000 chiếm 25%, năm
2003 chiếm 31%; tính cả dầu thô thì tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm 2004
và chiếm trên 55% trong các năm 2005, 2006 và 2007.
ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100%
dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày,
35% hàng may mặc… Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên
quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị
trường trên thế giới.
Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, ĐTNN đã tạo ra nhiều khách sạn
cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du lịch, nghỉ dưỡng
đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phần gia tăng nhanh chóng xuất
khẩu tại chỗ.
Bên cạnh đó, ĐTNN còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước
hội nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
2- Về mặt xã hội:
24
- ĐTNN góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao
động, cải thiện nguồn nhân lực:
Đến nay, khu vực có vốn ĐTNN đã tạo ra việc làm cho trên 1,2 triệu lao
động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác theo kết quả điều tra của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status