học tốt ngữ văn 8
(tập hai)
thảo nguyên - nguyễn huân
bùi thị thanh lơng
học tốt ngữ văn 8
(tập hai)
nhà xuất bản đại học quốc gia TP. hồ chí minh
lời nói đầu
Thực hiện chơng trình Trung học cơ sở (ban hành kèm theo Quyết định số 03/QĐ-BGD&ĐT ngày
24/1/2002 của Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), môn Ngữ văn đợc triển khai dạy học theo nguyên tắc
tích hợp (văn học, tiếng Việt và làm văn), phát huy tính chủ động tích cực của học sinh.
Nhằm giúp các em học sinh có thêm tài liệu tham khảo để tăng cờng khả năng tự học, chúng tôi
1
biên soạn bộ sách Học tốt Ngữ văn Trung học cơ sở. Theo đó, cuốn Học tốt Ngữ văn 8 tập hai sẽ đ-
ợc trình bày theo thứ tự tích hợp các phân môn:
- Văn
- Tiếng Việt
- Làm văn
Cách tổ chức mỗi bài trong cuốn sách sẽ gồm hai phần chính:
I. Kiến thức cơ bản
II. Rèn luyện kĩ năng
Nội dung phần Kiến thức cơ bản với nhiệm vụ củng cố và khắc sâu kiến thức sẽ giúp học sinh tiếp
cận với những vấn đề thể loại, giới thiệu những điều nổi bật về tác giả, tác phẩm (với phần văn); giới
thiệu một số khái niệm, yêu cầu cần thiết mà học sinh cần nắm để có thể vận dụng đợc khi thực hành.
Nội dung phần Rèn luyện kĩ năng đa ra một số hớng dẫn về thao tác thực hành kiến thức (chẳng
hạn: tập tóm tắt một văn bản, tập đọc một văn bản theo đặc trng thể loại; thực hành liên kết trong văn
bản; tạo lập văn bản; phân tích đề, lập dàn ý và luyện tập cách làm bài văn biểu cảm...). Mỗi tình huống
thực hành trong phần này đặt ra một yêu cầu học sinh phải thông hiểu kiến thức cơ bản của bài học; ng-
ợc lại, qua công việc thực hành, kiến thức lí thuyết cũng có thêm một dịp đợc cũng cố. Vì thế, giữa lí
thuyết và thực hành có mối quan hệ vừa nhân quả vừa tơng hỗ rất chặt chẽ.
Ngoài các nhiệm vụ trên, ở một mức độ nhất định, nội dung cuốn sách còn hớng tới việc mở rộng
một cuộc cách mạng thật sự trong địa hạt văn chơng, nhất là thơ. Những thể thơ cũ (tiêu biểu từ thơ Đ-
ờng luật) với khuôn khổ cứng nhắc, niêm luật gò bó đã không dung chứa nổi, không còn phù hợp với
những t tởng, cảm xúc dào dạt, mới mẻ, lúc nào cũng chỉ chực tung phá. Đổi mới thể thơ, đổi mới hình
thức câu thơ, các nhà thơ mới đồng thời đa vào đó những dòng cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ, tựa nh
những dòng nham thạnh bỏng đang tuôn chảy tràn trề. Nhớ rừng là một trong những tác phẩm tiêu biểu
cho trào lu mới này.
II. Kiến thức cơ bản
1. Bài thơ đợc ngắt làm năm đoạn. Nội dung của đoạn thứ nhất và đoạn thứ t nói lên niềm uất hận
của con hổ khi bị làm một thứ đồ chơi ngang với lũ gấu dở hơi, và cảnh tầm thờng, tù túng, nhân tạo ở
vờn bách thú. Đoạn thứ hai và đoạn thứ ba hồi tởng cảnh tợng tự do, phóng khoáng nơi rừng núi thời
oanh liệt. Đoạn thứ năm là hoài niệm nơi rừng núi xa kia bằng giấc mộng ngàn.
2. a) Cảnh tợng ở vờn bách thú là cảnh tù túng. Đoạn thơ thứ nhất thể hiện tâm trạng chán ngán,
căm hờn, uất ức của con hổ. Tuy bị nhốt trong cũi sắt, tuy bị biến thành một thứ đồ chơi lạ mắt, bị xếp
cùng với bọn gấu dở hơi, bọn báo vô t lự, nhng chúa sơn lâm vẫn khinh lũ ngời ngạo mạn, ngẩn ngơ.
Nó căm hờn sự tù túng, nó khinh ghét những kẻ tầm thờng. Nó vợt khỏi sự tù hãm bằng trí tởng tợng,
3
sống mãi trong tình thơng nỗi nhớ rừng.
Đoạn thơ thứ t thể hiện cảnh vờn bách thú dới con mắt của con hổ, đó là cảnh tợng nhân tạo, tầm
thờng, giả dối, nhàm chán "không đời nào thay đổi".
Cảnh vờn bách thú tầm thờng, giả dối, không thay đổi và tù túng đó đợc con hổ nhìn nhận gợi nên
không khí xã hội đơng thời. Thái độ ngao ngán, chán ghét cao độ với cảnh vờn bách thú cũng là thái độ
của nhiều ngời, nhất là thanh niên thời đó với xã hội.
Đối lập với cảnh vờn bách thú là cảnh rừng nơi con hổ ngự trị ngày xa. Rừng núi đại ngàn, cái gì
cũng lớn lao, cao cả, phi thờng : bóng cả, cây già, gió gào ngàn, nguồn hét núi. Giữa nơi hoang vu, cao
cả, âm u, chúa sơn lâm hiện ra đầy oai phong, lẫm liệt :
Với khi thét khúc trờng ca dữ dội
Ta bớc chân lên, dõng dạc, đờng hoàng
Lợn tấm thân nh sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc
Những câu thơ này đã diễn tả tinh tế vẻ đẹp vừa dũng mãnh, uy nghi, vừa mềm mại uyển chuyển
4*. Nhà phê bình Hoài Thanh đã đã ca ngợi Thế Lữ nh một viên tớng điều khiển đội quân Việt ngữ
bằng những mệnh lệnh không thể cỡng đợc. Điều này nói lên nghệ thuật sử dụng từ ngữ điêu luyện, đạt
đến độ chính xác cao. Chỉ riêng về âm thanh rừng núi, Thế Lữ cho ta nghe thấy tiếng gió gào ngàn,
giọng nguồn hét núi, tiếng thét khúc trờng ca dữ dội. Bên trên đã nói đến những điệp từ tạo ra sự nuối
tiếc quá khứ oanh liệt (Nào đâu, đâu những...) Cũng có thể thấy câu thơ Thế Lữ miêu tả dáng hiên
ngang, hùng dũng, mềm mại của chúa sơn lâm :
Ta bớc chân lên, dõng dạc, đờng hoàng
Lợn tấm thân nh sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc
Mấy câu thơ trên có sự nhịp nhàng, cân đối, gợi hình ảnh con hổ khoan thai, mềm mại, với bớc
chân chậm rãi thật tài tình.
Hay một đoạn khác tả cảnh tầm thờng của con ngời bắt chớc, học đòi thiên nhiên :
Những cảnh sửa sang, tầm thờng giả dối
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng
Dải nớc đen giả suối, chẳng thông dòng
Câu thơ: "Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng" đợc viết theo cách ngắt nhịp đều nhau, có cấu
tạo chủ vị giống nhau - điều đó nh mô phỏng sự đơn điệu, tầm thờng của cảnh vật.
Đợc sáng tác trong hoàn cảnh đất nớc còn đang bị kẻ thù đô hộ, giày xéo, bản thân tác giả cũng
không tránh khỏi thân phận của một ngời dân nô lệ nhng Nhớ rừng không rơi vào giọng điệu uỷ mị, yếu
đuối. Ngợc lại, nó đã thể hiện một sức sống mạnh mẽ, tiềm ẩn, chỉ có ở những con ngời, những dân tộc
không bao giờ biết cúi đầu, luôn khao khát hớng đến tự do.
IIi. rèn luyện kỹ năng
Điều đặc biệt đáng chú ý trớc hết trong bài thơ này là lời đề từ: "Lời con hổ ở vờn bách thú". Lời
đề từ này có tính định hớng cho việc thể hiện giọng đọc, nhằm thể hiện "lời" của con hổ chúa tể sơn
lâm từng oai linh gầm thét, nay bị nhốt trong "vờn bách thú" chật hẹp. Nghịch cảnh thật là trớ trêu.
Điều đáng chú ý thứ hai là: Thế Lữ đã mợn lời con hổ để thể hiện nỗi chán ghét thực tại tầm thờng,
tù túng và niềm khao khát tự do mãnh liệt. Phảng phất trong bài thơ có nỗi đau thầm kín của Thế Lữ và
cũng là của những ngời thanh niên thuở ấy trớc cảnh nớc mất nhà tan.
Do đó, có thể:
Đọc bài thơ bằng giọng trầm, âm điệu tha thiết mạnh mẽ, thể hiện nỗi đau âm thầm, lòng kiêu
thời đắc ý của ông.
Ông xuất hiện cùng hoa đào, với mực tàu giấy đỏ. Ông đem lại niềm vui cho mọi ngời khi viết câu
đối tết. Bao nhiêu ngời nhờ đến ông. Bao nhiêu ngời tấm tắc khen ngợi ông. Ông viết câu đối mà nh
ngời biểu diễn th pháp :
Hoa tay thảo những nét
Nh phợng múa rồng bay
Khổ thơ thứ ba và thứ t vẫn diễn tả không gian ấy, thời gian ấy. Song là một không khí khác. Nhng
mỗi năm mỗi vắng. Không phải là vắng ngắt ngay lập tức, mà theo thời gian. Ngời cần đến ông cứ giảm
6
dần. Và bây giờ thì hầu nh không thấy họ : Ngời thuê viết nay đâu ? Giấy cũng buồn vì cảnh này, mực
cũng sầu vì không đợc dùng vào việc viết. Ông đồ vẫn có mặt, nhng ngời ta đã không nhận ra ông. Ng-
ời ta chẳng còn chú ý đến ông nữa. Bởi thế mà ông nh nhoà lẫn trong lá vàng và ma bụi. Sự khác nhau
của hai hình ảnh ông đồ chủ yếu ở vị trí của ông với công chúng. Trớc ông ở trung tâm của sự chú ý.
Nay ông ra ngoài rìa của sự chú ý, gần nh bị lãng quên.
Sự khác nhau này gợi cho ngời đọc cảm xúc thơng cảm cho ông đồ, ông đang bị gạt ra rìa cuộc
sống, ông đang bị lãng quên cùng với những gì gắn với chữ Hán, với tâm lí chuộng thú chơi câu đối
một thời. Hai câu thơ:
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài giời ma bụi bay
không chỉ là hai câu thơ tả cảnh, đó là hai câu thơ tả tâm trạng, tả cảnh ngộ của ông đồ. Lá vàng rơi,
một biểu hiện của sự tàn úa. Lại kèm với ma bụi bay. Lạnh lẽo và buồn thảm.
2. Tâm t của nhà thơ thể hiện qua bài thơ một cách kín đáo. Tác giả đã mô tả hai cảnh đối lập và
gợi niềm thơng cảm ông đồ một cách gián tiếp. Chỉ đến phần cuối bài thơ, khi không còn thấy ông đồ,
tác giả mới thốt lên :
Những ngời muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ
Không chỉ cảm thơng cho ông đồ, mà còn là cảm thơng một lớp ngời đã trở thành quá khứ. Hơn
thế nữa, sự hoài cổ còn là hoài niệm một vẻ đẹp văn hoá gắn với những giá trị tinh thần truyền thống.
Chính vì thế mà bài thơ có sức lay động sâu xa.
3. Không chỉ hay ở nội dung hoài niệm, bài thơ còn hay ở nghệ thuật. Trớc hết là dựng cảnh tơng
- Khổ thứ nhất: thể hiện giọng đọc nhẹ nhàng, bình thản.
- Khổ thứ hai: thể hiện giọng đọc miêu tả.
- Khổ thứ ba: giọng đọc chùng xuống, chậm dần lại.
- Khổ năm: đọc thật chậm, giọng buồn thơng, da diết.
Câu nghi vấn
I. Kiến thức cơ bản
1. Đặc điểm hình thức và chức năng chính.
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi.
Vẻ nghi ngại hiện ra sắc mặt, con bé hóm hỉnh hỏi mẹ một cách thiết tha:
(1)- Sáng ngày ngời ta đấm u có đau lắm không?
Chị Dậu khẽ gạt nớc mắt:
- Không đau con ạ !
(2)- Thế làm sao u cứ khóc mãi mà không ăn khoai?(3) Hay là u thơng chúng con đói quá?
(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)
a) Trong đoạn trích trên, câu nào là câu nghi vấn? Những đặc điểm hình thức nào cho biết đó là
câu nghi vấn?
b) Câu nghi vấn trong đoạn trích trên dùng để làm gì?
Gợi ý:
a) Các câu nghi vấn trong đoạn văn trên là: câu (1), (2), (3). Đặc điểm hình thức để có thể nhận
8
dạng các câu trên là câu nghi vấn, đó là: khi nói, ta nhấn giọng ở những từ dùng để hỏi (không, thế sao,
hay là,). Khi viết, câu nghi vấn kết thúc bằng dấu chấm hỏi.
b) Các câu nghi vấn trên dùng để hỏi.
2. Các hình thức nghi vấn thờng gặp
a. Câu nghi vấn không lựa chọn
Kiểu câu này thờng đợc chia thành các trờng hợp sau:
- Câu nghi vấn có đại từ nghi vấn: ai, gì, nào, tại sao, đâu, bao giờ, bao nhiêu, không,...
Ví dụ: + Ông đi đâu đấy?
+ Ai làm lớp trởng?
+ Đọc bản "Tuyên ngôn độc lập" đến nửa chừng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng lại và
c) Văn là gì? Văn là vẻ đẹp. Chơng là gì? Chơng là vẻ sáng. Nhời (lời) của ngời ta rực rỡ bóng
bẩy, tựa nh có vẻ đẹp vẻ sáng, cho nên gọi là văn chơng.
(Theo Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo)
d) Tôi cất tiếng gọi Dế Choắt. Nghe tiếng tha, tôi hỏi:
- Chú mình muốn cùng tớ đùa vui không?
- Đùa trò gì? Em đơng lên cơn hen đây! Hừ hừ
- Đùa chơi một tí.
- Hừ hừ cái gì thế?
- Con mụ Cốc kia kìa.
Dế Choắt ra cửa, hé mắt nhìn chị Cốc. Rồi hỏi tôi:
- Chị Cốc béo xù đứng trớc của nhà ta ấy hả?
- ừ.
(Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lu kí)
Gợi ý:
a) Chị khất tiền su đến chiều mai phải không?
b) Tại sao con ngời lại phải khiêm tốn nh thế?
c) Văn là gì? Chơng là gì?
d) Chú mình muốn cùng tớ đùa vui không? Đùa trò gì? Chị Cốc béo xù đứng trớc của nhà ta ấy
hả?
Đặc điểm hình thức:
- Chú ý vào các từ nghi vấn (in đậm).
- Cuối các câu đều có dùng các dấu chấm hỏi.
2. Xét các câu sau và trả lời câu hỏi:
a) Mình đọc hay tôi đọc?
(Nam Cao, Đôi mắt)
b) Em đợc thì cho anh xin
10
Hay là em để làm tin trong nhà?
(Ca dao)
c) Hay tại sự sung sớng bỗng đợc trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi
11
Gợi ý:
- Hai câu đã cho khác nhau về mô hình cấu trúc câu: có không; đã cha. Sự khác nhau về cấu
trúc dẫn đến sự khác nhau về ý nghĩa: câu thứ nhất là một câu hỏi thực sự hớng vào tình trạng sức khoẻ
thực tế của ngời đợc hỏi; trong khi đó, câu thú hai là một câu hỏi kèm giả định (ngời đợc hỏi trớc đó có
vấn đề về sức khoẻ). Nếu sự giả định này sai thì câu hỏi trở nên vô lí.
- Có thể nêu ra các ví dụ sau (hãy tự so sánh):
+ Cái máy tính này có cũ không? (câu đúng)
+ Cái máy tính này đã cũ cha? (câu đúng)
+ Cái máy tính này có mới không? (câu đúng)
+ Cái máy tính này đã mới cha? (Câu sai do giả định không hợp với thực tế).
5. Hãy cho biết sự khác nhau về hình thức và ý nghĩa của hai câu sau:
a) Bao giờ anh đi Hà Nội?
b) Anh đi Hà Nội bao giờ?
Gợi ý:
- Về hình thức: Hai câu khác nhau ở trật tự từ (vị trí của từ bao giờ).
- Về ý nghĩa:
+ Câu (a) hỏi hớng đến hành động trong tơng lai.
+ Câu (b) hỏi về một hành động đã diễn ra trong quá khứ.
6. Cho biết hai câu nghi vấn sau đây đúng hay sai. Vì sao?
a) Chiếc xe này bao nhiêu ki-lô-gam mà nặng thế?
b) Chiếc xe này giá bao nhiêu mà rẻ thế?
Gợi ý: Câu (a) đúng, tuy không biết nó nặng bao nhiêu nhng có thể cảm nhận đợc sức nặng nhờ
cảm giác. Câu (b) sai, vì cha biết giá bao nhiêu thì không thể khẳng định chiếc xe rẻ đợc.
Viết đoạn văn
trong văn bản thuyết minh
I. Kiến thức cơ bản
1. Nhận dạng các đoạn văn thuyết minh
Một bài văn thuyết minh thờng gồm nhiều ý lớn. Mỗi ý nên viết thành một đoạn văn để ngời đọc
dễ nhận diện, dễ phân biệt, trên cơ sở đó nắm đợc cấu trúc chung của cả bài.
minh về cây bút bi và chiếc đèn bàn thì có thể triển khai thành hai đoạn: một đoạn thuyết minh về đặc
điểm (của từng bộ phận), đoạn kia nên thuyết minh về công dụng và cách sử dụng các phơng tiện ấy.
II. rèn luyện kĩ năng
1. Với đề bài "Giới thiệu trờng em", có thể tham khảo hai đoạn văn sau :
Mở bài: "Trờng trung học cơ sở nơi em học là một ngôi trờng lớn nhất trong vùng. Em rất vui vì đ-
ợc học ở ngôi trờng mà trớc đây anh chị em đã từng học".
Kết bài: "Ngôi trờng em học là một ngôi trờng đẹp. Biết bao kỉ niệm buồn vui của em đã diễn ra ở
13
đây. Chỉ còn hai năm nữa là em sẽ thi tốt nghiệp, sẽ chuyển đến một ngôi trờng Trung học phổ thông.
Em nghĩ phải làm thế nào để khi rời trờng, khi em đã trởng thành, ấn tợng tốt đẹp của nó vẫn còn mãi
mãi".
2. Về đoạn văn này, có thể tham khảo đoạn viết về bác Phạm Văn Đồng. Hãy giới thiệu tóm tắt
quê quán của Bác Hồ, năm Bác ra nớc ngoài tìm đờng cứu nớc, những chức vụ quan trọng mà Ngời đã
từng đảm nhiệm. Đặc biệt là sự lãnh đạo tài tình của Bác đã đa cách mạng Việt Nam giành đợc những
thắng lợi quan trọng.
3. Em hãy viết khái quát theo các ý sau:
Sách Ngữ văn 8, tập một gồm có 17 bài học.
Mỗi bài học thờng gồm 3 phân môn : Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn. Tuy nhiên, không phải bài
nào cũng giống hệt nhau, có bài chỉ có 2 phân môn, có bài lại thêm cả phần ôn tập, kiểm tra.
Với mỗi phân môn lại có một cách trình bày phù hợp với đặc điểm riêng. Ví dụ, phân môn Văn
thờng có các mục : văn bản, chú thích, đọc hiểu văn bản, ghi nhớ, luyện tập; phân môn Tập làm văn th-
ờng có các mục: nội dung (theo từng bài) và luyện tập.
quê hơng
(Tế Hanh)
I. Về tác giả
Nhà thơ Tế Hanh (tên khai sinh là Trần Tế Hanh), sinh năm 1921 tại xã Bình Dơng, huyện Bình
Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; hiện ở quận Hai Bà Trng, Hà Nội.
Tham gia cách mạng từ tháng 8-1945, Tế Hanh đã trải qua các công tác văn hoá, giáo dục ở Huế,
Đà Nẵng. Năm 1948, ông ở trong Ban phụ trách Liên đoàn kháng chiến Nam Trung Bộ; Uỷ viên Thờng
vụ cho Hội Văn nghệ Trung ơng. Năm 1957 khi thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, ông là Uỷ viên Th-
tấu mã", một từ "phăng" thật mạnh mẽ, dứt khoát đã đa con thuyền "mạnh mẽ vợt trờng giang". Đặc sắc
nhất là cánh buồm. Trên sóng nớc, hình ảnh dễ thấy nhất là cánh buồm chứ không phải con thuyền:
Anh đi đấy, anh về đâu
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm ...
(Qua đò - Nguyễn Bính)
Rất ít khi trong các bức tranh vẽ thuyền mà lại thiếu cánh buồm bởi nó chính là yếu tố tạo nên sự
hài hoà cân đối và vẻ đẹp lãng mạn. Với một ngời xa quê, cánh buồm còn "nh mảnh hồn làng", nó đã
trở thành hình ảnh tợng trng cho quê hơng bởi dáng vẻ vô cùng mạnh mẽ và khoáng đạt:
Rớn thân trắng bao la thâu góp gió
Phải có tình yêu quê hơng tha thiết và niềm tự hào mãnh liệt, Tế Hanh mới viết đợc câu thơ giàu
giá trị biểu hiện đến nh vậy:
Sau cảnh "khắp dân làng tấp nập đón ghe về" (gợi tả không khí sinh hoạt vô cùng thân thuộc của
làng chài), những câu thơ đột ngột chùng xuống:
Dân chài lới làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Từ tả thực, những câu thơ lại dần nghiêng về sắc thái biểu tợng lắng câu. Điều đó góp phần tạo cho
bài thơ một cấu trúc hài hoà, cân đối. Bên trên là cảnh rẽ sống vợt trùng dơng thì đến đây là cảnh nghỉ
ngơi. Cái tĩnh đi liền ngay sau cái động nhng không tách biệt hoàn toàn. Có một sợi dây liên kết, một
sự gắn bó rất mật thiết phía sau hình ảnh "làn da ngăm rám nắng" và "thân hình nồng thở vị xa xăm"
của những ngời trai làng chài, bên cạnh đó còn phải kể đến chi tiết rất gợi cảm: chiếc thuyền đã trở về
15
nghỉ ngơi trên bến nhng vẫn "nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ". Từ "chất muối" cho đến hơi thở
"vị xa xăm" đều gợi đến biển cả, đến những chuyển động vợt qua muôn ngàn sóng gió. Đó chính là
khát vọng chinh phục đại dơng rất mãnh liệt, đã ngấm sâu trong huyết quản của những ngời dân làng
chài, đợc lu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
2. Ai sinh ra ở vùng duyên hải hẳn chẳng lạ gì những cánh buồm. Thế nhng những câu thơ của Tế
Hanh vẫn có một cái gì đó là lạ và cuốn hút:
Cánh buồm giơng to nh mảnh hồn làng
16
pháp bình dị, giàu cảm xúc của nhà thơ, cho nên khi đọc cần chú ý nhấn giọng ở những câu thơ giàu ý
nghĩa biểu tợng:
Cánh buồm giơng to nh mảnh hồn làng
Dân chài lới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
2. Có thể bổ sung và sổ ghi chép thơ, những câu sau:
Lòng quê dợn dợn vời con nớc
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
(Tràng giang - Huy Cận)
Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trờng
Yêu quê hơng qua từng trang sách nhỏ
(Quê hơng - Giang Nam)
Quê hơng mỗi ngời chỉ một
Nh là chỉ một mẹ thôi
(Quê hơng - Đỗ Trung Quân)
khi con tu hú
(Tố Hữu)
I. Về tác giả và tác phẩm
1. Tác giả
Nhà thơ Tố Hữu (1920 - 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê gốc ở làng Phù Lai,
nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
1. Nhan đề của bài chỉ là một cụm từ chỉ thời gian (vẫn cha đầy đủ). Nhan đề của bài thơ là một ẩn
ý vừa chỉ một thời điểm bừng lên của thiên nhiên, tạo vật, vừa chỉ sự khát khao hoạt động của con ngời.
Có thể tóm tắt nội dung bài thơ nh sau: Khi con tu hú gọi bầy (cũng là khi mùa hè đang đến), ngời
tù cách mạng càng thấy ngột ngạt, cô đơn trong phòng giam chật hẹp, càng khát khao đợc sống cuộc
sống tự do bay bổng ở ngoài kia.
Sở dĩ, tiếng tu hú kêu lại có tác động mạnh đến tâm hồn của nhà thơ bởi, nó là tín hệu báo những
ngày hè rực rỡ đến gần. Nó cũng là biểu tợng của sự bay nhảy tự do.
2. Trong bài Tâm t trong tù, Tố Hữu từng viết:
ở ngoài kia vui sớng biết bao nhiêu!
"ở ngoài kia" là không gian tự do, nơi ngời tù đợc hoà mình trong "tiếng đời lăn náo nức", tiếng
lạc ngựa "rùng chân bên giếng lạnh", nh vẫy gọi, nh thúc giục ngời chiến sĩ xung trận. Trong bài Khi
con tu hú, tứ thơ lại đợc sáng tạo theo một hớng khác, có phần kín đáo hơn. Mới đọc bài thơ chúng ta
không biết ngời thơ đang ở trong tù:
Khi con tu hú gọi bầy
Lúa chiêm đơng chín, trái cây ngọt dần.
Không phải tiếng chim đơn độc mà là tiếng chim "gọi bầy", tiếng chim báo tin vui. Nghe chim tu
hú gọi nhau biết rằng "lúa chiêm đang chín, trái cây ngọt dần". Nhng không phải chỉ có thế. Tiếng
chim gợi lên một thế giới tràn ngập âm thanh, màu sắc, hình ảnh:
Vờn râm dậy tiếng ve ngân
18
Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào
Trời xanh càng rộng càng cao
Đôi con diều sáo lộn nhào từng không...
Đó là những sắc màu, âm thanh của cuộc sống hằng ngày. Màu vàng của ngô, màu hồng của nắng
nổi bật trên cái nền xanh của đất trời, quyện với tiếng ve ngân và còn đợc điểm xuyết thêm bằng hình
ảnh "Đôi con diều sáo lộn nhào từng không". Không gian tràn trề nhựa sống, đang vận động, sinh sôi
nảy nở từng ngày.
Đọc kĩ lại những câu thơ, ta bỗng phát hiện thêm nhiều điều kì lạ khác nữa. Các sự việc không đợc
miêu tả trong trạng thái bình thờng, chúng đợc tô đậm, đợc đẩy lên mức cao nhất có thể. Không phải
"hạt bắp vàng" mà là "bắp rây vàng hạt" nắng là "nắng đào" màu sắc lộng lẫy nhất, trời xanh thì "càng
sục sôi của ngời cộng sản.
iII. rèn luyện kỹ năng
Các bài thơ viết về nhà tù của Tố Hữu luôn luôn có sự đối lập sâu sắc giữa hai thế giới: một thế
giới của tự do rộn rã tiếng chim ca, suối chảy, rộn rã tiếng kèn xung trận đối lập với thế giới chật hẹp,
ngột ngạt của nhà tù. Sự đối lập đó càng lớn thì khát vọng tự do càng đợc biểu hiện mãnh liệt.
Bài thơ có hai đoạn thơ thể hiện hai hoàn cảnh, tâm trạng đối lập, do đó khi đọc cần chú ý giọng
điệu rộn rã, tơi vui ở 6 câu thơ đầu và giọng điệu căm uất, nghẹn ngào ở 4 câu thơ còn lại.
câu nghi vấn
(tiếp theo)
I. Kiến thức cơ bản
1. Những chức năng khác của câu nghi vấn
Ngoài chức năng chính dùng để hỏi, câu nghi vấn còn có những chức năng gián tiếp sau đây:
- Diễn đạt hành động khẳng định.
- Diễn đạt hành động cầu khiến.
- Diễn đạt hành động phủ định.
- Diễn đạt hành động đe doạ.
- Bộc lộ tình cảm, cảm xúc.
2. Ví dụ
Đọc những đoạn trích sau đây và trả lời câu hỏi:
a) Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xa.
Những ngời muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ?
(Vũ Đình Liên, Ông đồ)
b) Cai lệ không để cho chị Dậu đợc nói hết câu, trợn ngợc hai mắt, hắn quát:
- Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Su của nhà nớc mà dám mở mồm xin khất!
(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)
c) Đê vỡ rồi!Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không?
Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây nh vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?
(Phạm Duy Tốn, Sống chết mặc bay)
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu nững ngày ma chuyển bốn phơng ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
21
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
(Thế Lữ , Nhớ rừng)
c) Mỗi chiếc lá rụng là một cái biểu hiện cho một cảnh biệt li. Vậy thì sự biệt li không chỉ có một
nghĩa buồn rầu, khổ sở. Sao ta không ngắm sự biệt li theo tâm hồn một chiếc lá nhẹ nhàng rơi?
(Khái Hng, Lá rụng)
d) Vâng, thử tởng tợng một quả bong bóng không bao giờ vỡ, không thể bay mất, nó cứ còn mãi nh
một vật lì lợmÔi, nếu thế thì còn đâu là quả bóng bay?
(Hoàng Phủ Ngọc Tờng, Ngời ham chơi)
Gợi ý:
- Các câu nghi vấn:
+ a) Con ngời đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh T để có ăn ?
+ b) Các câu trong khổ thơ đều là câu nghi vấn (trừ thán từ: Than ôi!)
+ c) Sao ta không ngắm sự biệt li theo tâm hồn một chiếc lá nhẹ nhàng rơi?
+ d) Ôi, nếu thế thì còn đâu là quả bóng bay?
- Các câu nghi vấn trên dùng để:
+ (a): Bộc lộ tình cảm, cảm xúc (sự ngạc nhiên).
+ (b): Mang ý phủ định; bộc lộ tình cảm, cảm xúc.
+ (c): Mang ý cầu khiến; bộc lộ tình cảm, cảm xúc.
+ (d): Mang ý phủ định; bộc lộ tình cảm, cảm xúc.
2. Xét những đoạn trích sau và trả lời câu hỏi.
a) Sao cụ lo xa thế? Cụ còn khoẻ lắm, ch a chết đâu mà sợ! Cụ cứ để tiền ấy mà ăn, lúc chết
không phải nghi vấn. Các câu tơng đơng theo thứ tự lần lợt là:
+ (a): Cụ không phải lo xa quá thế.; Không nên nhịn đói mà để tiền lại.; Ăn hết thì đến lúc
chết không có tiền để mà lo liệu.
+ (b): Không biết chắc là thằng bé có thể chăn dắt đợc đàn bò không.
+ (c): Thảo mộc tự nhiên có tình mẫu tử
3. Đặt hai câu nghi vấn không dùng để hỏi.
Ví dụ:
a) Cậu có thể kể lại cho mình nghe nội dung bộ phim tối hôm qua đợc không?
b) Chị Dậu ơi! Sao đời chị lại gặp nhiều buồn đau đến thế?
4. Trong nhiều trờng hợp giao tiếp, các câu nh: Anh ăn cơm cha? Cậu đọc sách đấy à?,thờng
dùng để chào. Trong trờng hợp này, ngời nghe không nhất thiết phải trả lời vào nội dung câu hỏi, mà có
thể trả lời bằng một câu chào khác. Quan hệ giữa ngời nói và ngời nghe thờng là quen biết hoặc thân
mật.
thuyết minh về một phơng pháp
23
I. Kiến thức cơ bản
Muốn thuyết minh về một phơng pháp (cách làm), trớc hết, ngời viết phải tìm hiểu để nắm chắc
phơng pháp đó.
Khi thuyết minh, cần trình bày rõ những điều kiện, cách thức, trình tự,... tiến hành công việc.
Nếu công việc cho kết quả là những sản phẩm thì phải nêu cả yêu cầu, chất lợng đối với sản phẩm đó.
Lời văn thuyết minh cần ngắn gọn, rõ ràng.
II. rèn luyện kĩ năng
1. Khi nêu cách làm bất cứ một đồ chơi nào đó, cần trình bày cụ thể các bớc:
a) Nguyên vật liệu
Đồ chơi đó đợc làm bằng gì (giấy, bìa, đất sét...) ? Mỗi thứ cần bao nhiêu ? Tiêu chuẩn (cứng,
mềm, dài, ngắn...) nh thế nào ?
Để làm đợc đồ chơi đó, cần những dụng cụ (kéo, hồ dán, băng dính, kim khâu, ghim...) gì ?
b) Cách làm
Hớng dẫn cụ thể, chi tiết từng bớc, từ pha chế, cắt dán, tạo hình cho đến lắp ghép các chi tiết với
nhau.
Các số liệu trong bài (tốc độ đọc trung bình, tốc độ đọc của các vĩ nhân, tốc độ đọc của ngời đã
qua lớp hớng dẫn) với độ chênh lệch rất cao có sức thuyết phục lớn khi nói đến hiệu quả của phơng
pháp đọc nhanh.
3. Tham khảo bài thuyết minh về một cách làm
a) Cách làm món vịt quay me.
* Vật liệu
- 1 con vịt 1,5 kg
- 1 miếng gừng 50 gr
- 3 thìa (muỗng) súp rợu trắng
- Hành ta, tỏi, tiêu, muối, đờng, bột ngọt, dấm
- 2 thìa cà phê dầu mè
- 1 quả dừa xiêm
- 2 thìa súp tơng hột
- 1 vắt me chín to
- 1 muỗng súp bột năng
- 100gr xà lách xoong
- 2 quả cà chua, 2 quả ớt, hành lá
- 1 củ cà rốt, 1 củ cải trắng
- 2 chiếc bánh mì
*Cách làm
Giai đoạn 1: Chuẩn bị
1. Hành ta, tỏi: băm nhỏ
2. Vịt: làm sạch, moi dới bụng lấy bộ lòng ra. Gừng giã nhỏ, hoà với rợu, vắt lấy nớc, tẩm vào vịt,
25