®Ò C¬NG
TUYªN TRUYÒN
**********
T×nh h×nh biÓn, ®¶o
vµ ho¹t ®éng b¶o vÖ
chñ quyÒn biÓn, ®¶o
cña HQND ViÖt Nam
trong thêi gian võa
qua ..
Phần thứ nhất: Tình hình an ninh trật tự trên các vùng biển đảo
và thềm lục địa của nước ta trong thời gian gần đây
*Một số nét về biển , đảo Việt nam : Việt nam là quốc gia ven biển , có bờ biển dài
hơn 3260 km (đứng thứ 27/157 nước có biển) chiều dài bờ biển và diện tích đất liền
là 1km/100km2. Biển Việt nam nằm giũa Biển đông với gần 3.000 hòn đảo lớn nhỏ
và 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa. Diện tích biển Việt nam khoảng 1,3 triệu
km2 gấp 4 lần diện tích đất liền , biển nước ta rất giàu tài nguyên, khoáng sản( nhất
là dầu khí với trữ lượng khoảng 3-4 tỷ mét khối quy đổi; hải sản ước khoảng 3-4
triệu tấn).
-Biển đảo còn có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất
nước, nhất là trong thời kỳ CNH,HĐH ( trong l.sử đã có 14 cuộc chiến tranh xâm lư
ợc của nước ngoài vào nước ta thì có 2/3 các cuộc xâm lược từ hướng biển) điều đó
cho thấy biển đảo là của ngõ , là phên dậu của đất nước.
-Hiện nay kinh tế biển và vùng ven biển nước ta đóng góp khoảng 48% GDP cả nư
ớc, trong đó kinh tế biển chiếm khoảng 22% (đến 2020 nước ta trở thành q.gia
mạnh về biển, làm giàu lên từ biển, KT biển đóng góp 53-55% tổng GDP.
-Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, xét cả về mặt chủ quan và
khách quan, thực tế cho thấy nhận thức về vị trí vai trò, tầm quan trọng của biển ,
đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của các cấp các ngành và nhân
dân chưa đầy đủ; khai thác những lợi ích về biển còn hạn chế, khó khăn và yếu
trong đó có khoảng 30% số tàu cá đã hoạt động sang phía tây đường phân
định và có 30% trong số đó vi phạm hiệp định ký kết).
-Thời gian gần đây đông thái quyết liệt nhất mà Trung Quốc raó riết
thực hiện là: Đã nhiều lần thuê tàu thăm dò nước ngoài, có sự bảo vệ của
tàu Hải giám và Hải cảnh tiến hành thăm dò, nghiên cứu, khai thác dầu khí
vùng cửa Vịnh Bắc bộ ( thuộc khu vực vùng biển miền Trung của Việt
Nam), với tính chất ngoan cố, trắng trợn, khiêu khích và chủ động đâm va
vào các tàu làm nhiệm vụ ngăn cản của ta, làm cho tình hình diễn biến hết
sức phức tạp và căng thẳng, hàng năm phía TQ thường khoanh vùng có
phạm vi lấn sang vùng biển phía Việt Nam ở ngoài cửa Vịnh Bắc bộ để tập
trận, bắn đạn thật và quy định cấm đánh bất cá từ tháng 6 đến tháng 8.
Năm 2004 khoan thăm dò ở đông bắc đảo Cồn cỏ ta kịp thời ngăn chặn.
Năm 2005 liên tục thăm dò địa chấn ở khu vực quần đảo Hoàng sa và phía
đông Quảng ngãi, có lúc cách Đảo Lý sơn khoảng 48 lý. Những ngày vừa
qua Trung Quốc liên tục đưa lực lượng tàu hộ vệ tên lửa, hảI cảnh thăm dò
phía đông đảo Cồn cỏ cách khoảng từ 80-100m. (để giải quyết vấn đề cửa
vịnh, vừa qua Việt Nam và Trung Quốc đã có 3 cuộc đàm phán nhưng đến
nay vẫn chưa giải quyết xong).
II. Tình hình Biển Đông và khu vực Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
*Quần đảo Hoàng Sa cách Đà nẵng gần 210 hảI lý; cách Quần đảo
Trường Sa gần 200 hải lý; diện tích khoảng 215.000 km2 bao gồm 37 đảo,
bãi đá ngầm lớn nhỏ.(Năm 1956 Trung quốc đánh chiếm phần phía đông,
năm 1974 đánh chiếm phần phía tây.).
*Quần đảo Trường Sa ở phía Nam Quần đảo Hoàng Sa có gồm 134
đảo nhỏ và bãi đá ngầm, bãi san hô, rộng khoảng hơn 180.000km2 trong
đó có 23 đảo và bãi San hô nhô lên khỏi mặt nước. Cách Cam Ranh
khoang 250 hải lý.
-Về mặt lịch sử và pháp lý, Việt Nam khẳng định là nhà nước đầu
tiên, từ thời kì trước năm 1884, đã chiếm hữu trước tiên về thực hiện chủ
a- Đối với Mỹ:
-Luôn coi Đông Nam á là Vành đai đồng minh chiến lược quan trọng. Biển
Đông là nơi kiềm chế, bao vây ngăn chặn, các nước lớn đang trỗi dậy Rào cản
vị trí siêu cường bá chủ của Mỹ.
-Mỹ đã tuyên bố: Bất kỳ xung đột nào trên Biển Đông đều đe doạ đến lợi ích,
an ninh chiến lược của Mỹ và đồng minh, sẽ buộc Mỹ phải can thiệp, duy trì tự do
cho tuyến đường hàng hải quan trọng này.
-Hiện nay đang sử dụng biện pháp, chính sách ngoại giao Mềm mỏng, Đa
phương hơn và có thể có những thỏa hiệp (khi cần) kết hợp với Sức mạnh mềm,
thủ đoạn lấy mở rộng quan hệ, thúc đẩy hợp tác kinh tế là chính, đẩy nhanh quan
hệ quân sự, cùng con bài Dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo gây sức ép,
chuyển hóa các nước đồng thời gấp gáp tìm cách quay trở lại ĐNA.
-Thường xuyên duy trì sự có mặt ở khu vực Tây Thái Bình Dương nói chung,
Biển Đông nói riêng. Mỹ đang hình thành liên minh Lực lượng tác chiến phối
hợp dưới danh nghĩa Chống cướp biển ở eo Ma-lác-ca và vùng biển lân cận (lực
lượng Hải quân, Cảnh sát biển các nước Ma-lai-xi-a; Xin-ga-po; In-đô-nê-xi-a) dưới
sự bảo trợ và chỉ huy của Mỹ.
-Ngoài ra, hàng năm tiến hành hàng trăm cuộc huấn luyện, diễn tập song, đa
phương; thăm viếng với các nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương và các
nước Đông Nam á, các nước quanh Biển Đông; sử dụng các biên đội tàu chiến
di chuyển đi lại; máy bay trinh sát nắm tình hình khu vực Biển Đông.
-Tháng 3/2009, tàu chiến của Mỹ đến khu vực Biển Đông để trinh sát, nắm các
hoạt động của Trung Quốc và tàu của 2 nước đã xảy ra va chạm. Đây là bước
tiến mới của Mỹ để tìm cách có mặt và can dự sâu hơn vào khu vực này, đồng
thời cảnh báo về âm mưu độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.
b- Đối với Nhật Bản:
-Nhật Bản luôn coi Đông Nam á là Phạm vi thế lực truyền thống và coi
Biển Đông là yết hầu trong giao lưu ngoại thương (70% dầu khí của Nhật Bản
nhập khẩu từ nước ngoài qua Biển Đông).
luôn cho rằng, cộng đồng các nước ASEAN đã trở thành trung tâm khu vực.
Đặc biệt là khu vực Biển Đông, là tâm điểm thúc đẩy an ninh, ổn định phát
triển khu vực, can dự toàn diện với các nước Asean có tầm quantrọng, là một
trong ba trụ cột, trong chiến lược Châu á-Thái Bình Dương của Ôtx-trây-li-a.
2- Đối với các nước ASEAN:
* Đánh giá chung:
-Các nước ASEAN đã có bước phát triển tích cực trên nhiều mặt cả về tổ
chức, đoàn kết nội bộ khối cũng như hợp tác với các nước.
-Các nước ASEAN, đặc biệt là các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển
Đông - Quần đảo Trường Sa, cơ bản có sự thống nhất chủ trương giải quyết
tranh chấp bằng hoà bình, giữ nguyên hiện trạng và hầu hết các nước đều nhận
thức được sự cần thiết phải có sự thống nhất chung để giải quyết tranh chấp với
Trung Quốc ở Biển Đông - Trường Sa, nhưng vì quyền lợi dân tộc, từng nước
đã có những bước đi riêng (song phương) để đạt lợi ích lớn nhất.
-Các nước đều ngấm ngầm mua sắm trang bị cho Hải quân và Không
quân hỗ trợ cho yêu sách chủ quyền; đồng thời nâng cấp, xây dựng các công
trình, từng bước hiện đại hoá trang thiết bị trên các đảo đã chiếm đóng, phục
vụ hoạt động quân sự và dân sự hoá, khẳng định chủ quyền.
* Về hoạt động cụ thể của các nước:
a- Đối với Phi-líp-pin:
-Hiện nay, Phi-líp-pin thường sử dụng các diễn đàn quốc tế và khu vực để thực
hiện chủ trương Quốc tế hoá vấn đề Biển Đông - Trường Sa; ủng hộ quan
điểm của Mỹ là duy trì lực lượng quân sự ở khu vực, ngầm kéo Mỹ và dựa vào
Mỹ để yêu sách và đấu tranh bảo vệ chủ quyền của mình; mặt khác Cảnh
giác với Trung Quốc đồng thời dựa vào tầm ảnh hưởng của Trung Quốc để
đạt lợi ích lớn nhất, Phi-líp-pin đã có bước điều chỉnh quan trọng và đã có
những Thoả hiệp và chấp nhận chủ trương Cùng khai thác của T. Quốc.
-Những năm gần đây Phi-líp-pin đã triển khai các hoạt động nhằm
-Ngày 6/5/2009, Ma-lai-xi-a và Việt Nam đã cùng nộp Báo cáo lên Liên
Hợp Quốc đề xuất về thềm lục địa.
c- Đối với Bru-nây:
-Là nước nhỏ, dân số ít, nhưng có trữ lượng dầu mỏ lớn. Bru-nây chủ trư
ơng coi trọng khai thác tài nguyên biển để phát triển đất nước.
-Tăng cường sức mạnh quân sự để bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế.
-Không có đảo nào ở T. Sa, nhưng lại yêu sách chủ quyền ở T. Sa và DKI.
-Công khai ủng hộ vai trò, sự hiện diện của Mỹ và tăng cường hợp tác với
các nước lớn để bảo vệ quyền lợi và có ý định tham gia vào chủ trương Gác
tranh chấp, cùng khai thác do Trung Quốc đề xướng.
-Tháng 5/2009, B.thư Thường trực VP Chính phủ đã sang gặp Bộ Ngoại giao
Việt Nam cùng đề xuất nộp báo cáo chung về ranh giới thềm lục địa với LHQ.
d- Đối với In-đô-nê-xi-a: Là quốc đảo với 17.000 đảo.
-Đã tích cực phối hợp, hợp tác với các nước, tìm kiếm các giải
pháp để giải quyết bất đồng ở Biển Đông, là nước chủ động khởi xư
ớng Hội thảo về xung đột ở Biển Đông; nhưng mặt khác In-đô-
nê-xi-a đẩy mạnh hoạt động thăm dò, tranh thủ khai thác tài
nguyên trên các vùng tranh chấp .
-Tại Hội nghị 18 các nước thành viên Công ước của LHQ về
Luật biển 1982, In-đô-nê-xi-a đề nghị: Coi đánh cá bất hợp pháp là
tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia phải được trừng trị thích đáng
của Công ước LHQ (các nước dự Hội nghị này đã phê phán hoạt
động trên, đồng thời thống nhất không coi đánh bắt cá bất hợp
pháp là tội phạm, mà cho đó là liên quan đến an ninh thuỷ phần).
-Lo ngại mối đe doạ, bành trướng của Trung Quốc và luôn cực
lực phản đối quan điểm Gác tranh chấp, cùng khai thác do
Trung Quốc đề xướng.
-Bắt tàu cá nước ngoài xâm phạm vùng biển, phạt nặng (tịch
thu ngư cụ, đốt tàu, phạt tiền, xử tù).