ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
B¶o ®¶m quyÒn tham chÝnh
cña phô n÷ ë ViÖt Nam hiÖn nay
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
B¶o ®¶m quyÒn tham chÝnh
cña phô n÷ ë ViÖt Nam hiÖn nay
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: 8380101.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TƯỜNG DUY KIÊN
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
CỦA PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..................................................38
2.1. Thực trạng thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ ở Việt Nam
.....................................................................................................................38
2.2. Thực trạng thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội
của phụ nữ ở Việt Nam................................................................................45
2.3. Thực trạng thực hiện quyền tham gia các tổ chức chính trị - xã hội
của phụ nữ ở Việt Nam................................................................................53
2.4. Những hạn chế và nguyên nhân...........................................................57
Kết luận Chương 2......................................................................................67
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN
THAM CHÍNH CỦA PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY......................69
3.1. Quan điểm bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ ở Việt Nam
hiện nay.......................................................................................................69
3.2. Giải pháp bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay
.....................................................................................................................77
Kết luận chương 3.......................................................................................89
KẾT LUẬN....................................................................................................90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................92
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CEDAW
Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang
Phần trăm nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh,
huyện và xã trong các giai đoạn
43
Bảng 2.2
Đại biểu Quốc hội theo chức vụ
47
Bảng 2.3
Cơ cấu lãnh đạo chủ chốt trong cơ quan của Quốc hội
khóa XIV
48
Bảng 2.4
Phụ nữ tham gia Ban Chấp hành Trung ương
50
Bảng 2.5
Cán bộ nữ tham gia Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể
chính trị - xã hội ở cấp Trung ương
nên ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập, các quyền của công dân
nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng đã được pháp luật Việt Nam ghi
nhận và khẳng định, trong đó có các quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ.
Điều 26 Hiến pháp 2013 nêu rõ, công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; nhà
nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy
vai trò của mình trong xã hội. Điều 11 Luật bình đẳng giới quy định bình
đẳng giới trong lĩnh vực chính trị. Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai
đoạn 2010-2020 coi việc nâng cao quyền năng chính trị cho phụ nữ là mục
tiêu hàng đầu. Mục tiêu 1 của Chiến lược nêu rõ: Tăng cường sự tham gia của
phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng
cách giới trong lĩnh vực chính trị. Mục tiêu 1 của Chiến lược có 3 chỉ tiêu,
trong đó chỉ tiêu 1 là: Phấn đấu đạt tỷ lệ nữ tham gia các cấp ủy Đảng nhiệm
1
kỳ 2016 – 2020 từ 25% trở lên; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng
nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ
2016 – 2020 trên 35%. Trước đó, Nghị quyết 11/NQ-TƯ của Bộ Chính trị
ngày 27-4-2007 cũng nhấn mạnh rằng, phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ nữ đại
biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 35% đến 40%.
Có thể thấy rằng, phụ nữ Việt Nam đã có nhiều đóng góp không nhỏ
vào sự nghiệp phát triển đất nước khi được tạo điều kiện tham gia vào công
tác lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, việc tham gia chính trị của phụ nữ Việt Nam
hiện nay vẫn chưa được khẳng định một cách rõ ràng và cụ thể.
Thực tế kể trên đặt ra nhu cầu cấp thiết phải nghiên cứu thực trạng hiệu
quả của việc phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực chính trị, qua đó giúp phụ nữ
khẳng định được khả năng, vai trò quan trọng của mình đồng thời thúc đẩy
những đóng góp của phụ nữ ngày càng hiệu quả hơn vào sự nghiệp xây dựng
và phát triển của đất nước, cũng như bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế
- Phân tích khái quát cơ sở lý luận của pháp luật về quyền tham chính
của phụ nữ để làm tiền đề đánh giá thực trạng triển khai quy định của nhà
nước và pháp luật về quyền tham chính của phụ nữ tại Việt Nam.
- Trên cơ sở đó chỉ ra những thành tựu và hạn chế của hoạt động tham
chính của phụ nữ ở Việt Nam và đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
tham chính của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay phù hợp với tiêu chuẩn pháp lý
quốc tế và đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay.
4. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng phụ nữ tham gia công tác chính trị ở Việt Nam hiện nay.
5. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vào các quyền chính trị cơ bản của phụ
nữ ở Việt Nam, trong đó tập trung vào các quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc
hội và Hội đồng nhân dân các cấp; quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội
và quyền tham gia các tổ chức chính trị - xã hội.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Khi xem xét đánh giá mọi hiện tượng,
4
sự kiện xã hội phải đặt trong mối quan hệ toàn diện với điều kiện kinh tế - xã
hội đang vận động biến đổi liên tục. Khi nghiên cứu về thực trạng hoạt động
tham chính của phụ nữ Việt Nam, ta phải đặt trong điều kiện cụ thể của đất
nước và con người, xem xét các nhân tố, các vấn đề trong mối quan hệ biện
chứng, đi sâu vào nghiên cứu bản chất của hiện tượng.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử: Phải nhìn nhận, đánh giá các sự kiện xã hội ở
những hoàn cảnh, giai đoạn lịch sử cụ thể trên quan điểm kế thừa và phát triển.
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: là phương pháp chủ đạo được sử
dụng nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu đặt ra. Các tài liệu liên quan đến vấn
cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà
nước, sự tham gia vào công việc của Nhà nước; sự xác định hình thức tổ
chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước. Chính trị không tách khỏi
lịch sử phát triển của mọi xã hội và đấu tranh giai cấp. Xét từ góc độ triết học,
chính trị được cho là sự tham gia vào các công việc của nhà nước, việc quy
định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước. Lĩnh
vực chính trị bao hàm các vấn đề chế độ nhà nước, quản lý nhà nước, lãnh
đạo các giai cấp, vấn đề đấu tranh đảng phái. Nói cách khác, nói đến chính trị
là nói đến quyền lực nhà nước. Như vậy, xét ở góc độ chung nhất, chính trị
thực chất là quan hệ giữa giai cấp cầm quyền với các giai cấp khác trong xã
hội mà nội dung của quan hệ đó là vấn đề chính quyền thuộc về ai, của ai và
vì ai. Xét ở góc độ riêng, chính trị thực sự có nghĩa khi nó được hiện thực hóa
gắn với chủ thể là con người, là giai cấp cụ thể. Ở con người đều có khát vọng
về quyền, đó là vốn có tự nhiên. Sự kết hợp giữa nội dung chính trị với bản
chất của quyền con người là cơ sở dẫn đến quyền chính trị.
Quyền chính trị là quyền của cá nhân được tham gia một cách trực tiếp
và gián tiếp vào công việc của Nhà nước và xã hội, bao gồm cả việc thành lập
6
và quản lý nhà nước. Để thực hiện các quyền chính trị, cá nhân phải tham gia
cùng với những người khác, như: quyền tự do biểu đạt; quyền tự do lập hội;
quyền tự do hội họp một cách hòa bình; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn
giáo; quyền tham gia vào đời sống chính trị; quyền của các cộng đồng thiểu
số, tôn giáo được có đời sống văn hóa riêng; sử dụng tiếng nói riêng.
Tham chính là sự thể hiện hành động công dân thực hiện quyền của
mình trong lĩnh vực chính trị. Từ trước đến nay có nhiều định nghĩa khác
nhau về quyền tham chính. Trên những nét chung nhất, có thể rút ra định
nghĩa về quyền tham chính như sau: Quyền tham chính là quyền tham gia vào
nhau về thành quả của sự phát triển đó và Bảo đảm bình đẳng
giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia
đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng,
có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ
hưởng thành quả của sự phát triển.
1.1.2. Đặc điểm quyền tham chính của phụ nữ
Phụ nữ với tư cách là công dân nên có đầy đủ những quyền của một
công dân, trong đó có quyền tham gia chính trị. Vì thế, khi công nhận quyền
công dân, quyền bình đẳng của phụ nữ là phải công nhận vị thế, vai trò và
quyền tham gia chính trị của phụ nữ như công dân là nam giới. Tuy nhiên, do
nhiều nguyên nhân như lịch sử, xã hội và văn hóa, trên thực tế, có những định
kiến coi thường phụ nữ vẫn còn ảnh hưởng nặng nề trong đời sống chính trị xã hội mặc dù các quyền này đều đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận.
Chính vì thế, ngoài những quy định chung về quyền con người, quyền
công dân, pháp luật còn có những quy định riêng dành cho phụ nữ, bảo đảm
quyền tham gia chính trị của phụ nữ. Pháp luật đã ghi nhận, cụ thể hóa quyền
tham gia chính trị của phụ nữ, đồng thời quy định những thiết chế bảo đảm
thực hiện những quyền đó trong thực tế.
Thứ nhất, Quyền tham gia chính trị của phụ nữ là quyền tổng hợp,
thuộc nhóm quyền chính trị của con người.
8
Trong nhóm quyền chính trị của con người luôn quy định quyền tham
gia chính trị của phụ nữ. Theo quy định của Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị (ICCPR), mọi công dân đều có quyền tham gia điều hành
các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện do họ
tự do lựa chọn; Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực,
bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín, nhằm đảm bảo cho cử
tri được tự do bày tỏ ý nguyện của mình; Được tiếp cận với các dịch vụ công
luật quốc tế về quyền con người được xây dựng, các quy định về quyền tham
gia chính trị của phụ nữ đã được ghi nhận và bảo đảm. Vận dụng được các
quy định đó, mỗi quốc gia đều căn cứ vào điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội
của mình để xây dựng những quy định bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
người phụ nữ trong việc tham gia các hoạt động chính trị.
Thứ tư, Ở Việt Nam, quyền tham gia chính trị của phụ nữ sớm được
thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
Ở Việt Nam, ngay từ khi ra đời, quan điểm, đường lối của Đảng, chính
sách pháp luật Nhà nước luôn thể hiện rõ sự quan tâm đến vấn đề phụ nữ. Lúc
sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng có lần nào là không có
đàn bà, con gái tham gia, và như vậy An Nam cách mệnh phải có nữ
giới tham gia mới thành công, Đảng và Chính phủ cần có kế hoạch
thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc để ngày càng có thêm nhiều phụ
nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ
nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình
đẳng thực sự cho phụ nữ.
Điều 54, Hiến pháp năm 1992 ghi rõ:
Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã
hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư
10
trú, đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 25 tuổi trở lên có quyền
ứng cử vào Quốc hội, HĐND theo quy định của pháp luật.
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16-5-1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
về một số vấn đề cán bộ nữ trong tình hình mới nêu rõ:
Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, tham
gia quản lý kinh tế - xã hội là yêu cầu quan trọng để thực hiện
cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước; hướng tới bình đẳng, công
bằng, tăng phúc lợi nhiều hơn cho mọi người và cho toàn xã hội.
1.1.3. Vai trò quyền tham gia chính trị của phụ nữ
Quyền tham gia chính trị của phụ nữ có vai trò quan trọng trong
bình đẳng giới giữa nam và nữ. Khi phụ nữ có sự bình đẳng như nam giới
về điều kiện, cơ hội trong tham gia bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý
nhà nước và xã hội thì vị trí, vai trò của người phụ nữ sẽ được nâng lên một
cách đáng kể.
Thứ nhất, bảo đảm quyền tham gia chính trị của phụ nữ là tiền đề bảo
đảm quyền cơ bản của con người như: quyền con người về chính trị, kinh tế,
lao động... Đây là cách thức, biện pháp cơ bản, có hiệu lực, hiệu quả để cho
đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống
đặc biệt là các chính sách đối với phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới. Do vậy,
bảo đảm quyền tham gia chính trị của phụ nữ thể hiện sự thể chế hóa đường
lối, chủ trương và chính sách của Đảng về quyền chính trị của phụ nữ.
Thứ hai, quyền tham gia chính trị của phụ nữ ghi nhận và củng cố
thành quả của cuộc cách mạng nữ quyền trên thế giới cũng như Việt Nam.
Các phong trào phụ nữ nước ta tiếp tục phát triển, đóng góp tích cực vào
công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ và sự nghiệp
bình đẳng giới; thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng đại diện, chăm lo,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ. Người phụ nữ
12
ngày càng khẳng định bản lĩnh, sự độc lập trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là
trong lĩnh vực chính trị.
Thứ ba, quyền tham gia chính trị của phụ nữ là phương thức giúp phụ
nữ nâng cao ý thức, bồi dưỡng năng lực làm chủ để tham gia quản lý nhà
và chính trị (ICCPR) năm 1966 và Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1979.
Quyền tham gia chính trị của phụ nữ được quy định tại Công ước về
các quyền chính trị của phụ nữ năm 1952 như sau: (1) Phụ nữ có quyền bỏ
phiếu trong mọi cuộc bầu cử trên cơ sở bình đẳng với nam giới, không có bất
kỳ sự phân biệt đối xử nào. (2) Phụ nữ có quyền được bầu vào mọi cơ quan
nhà nước do dân cử được thành lập theo quy định của pháp luật quốc gia, trên
cơ sở bình đẳng với nam giới, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. (3)
Phụ nữ có quyền làm việc tại các cơ quan nhà nước và thực hiện mọi chức
năng công quyền theo quy định của pháp luật, trên cơ sở bình đẳng với nam
giới, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Các quy định này đã thể hiện
rõ tinh thần và mục tiêu đưa người phụ nữ được hưởng thụ đúng những quyền
mà đương nhiên họ được hưởng mà không có sự bất bình đẳng nào.
Công ước CEDAW không phải là văn kiện pháp lý chuyên biệt quy
định về các quyền con người của phụ nữ, vì các quyền như vậy đã được thừa
nhận trong các điều ước quốc tế khác về nhân quyền đã được ban hành trước
đó, cụ thể như các điều ước kể trên. Tuy nhiên, Công ước CEDAW có ý nghĩa
hết sức quan trọng đối với việc hiện thực hóa các quyền con người của phụ
nữ, trong đó có quyền tham gia chính trị, bởi lẽ công ước này xác định các
cách thức, biện pháp nhằm loại trừ những sự phân biệt đối xử với phụ nữ
trong việc hưởng thụ các quyền con người. Nói cách khác, mục đích của
Công ước CEDAW là trao cho phụ nữ những quyền con người đã được thừa
14
nhận nhưng trên thực tế họ chưa được hưởng, bởi có những sự phân biệt đối
xử với phụ nữ. Điều 7 CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên phải tiến
hành các biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ
trong việc tham gia vào các hoạt động chính trị và xã hội (còn gọi là quyền
Kinh (Trung Quốc) với chủ đề “Hành động vì bình đẳng, phát triển và hòa
bình” với mục đích đánh giá lại quá trình thực hiện “Chiến lược Hướng tới vì
sự Tiến bộ của Phụ nữ” và Công ước LHQ về Xóa bỏ mọi Hình thức Phân
biệt Đối xử đối với Phụ nữ (CEDAW) đồng thời thông qua Cương lĩnh hành
động vì sự tiến bộ của phụ nữ toàn cầu đến năm 2000. Tuyên bố Bắc Kinh và
Cương lĩnh hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ toàn cầu đến năm 2000 là 2
văn kiện quan trọng nhất của Hội nghị Bắc Kinh. Hai văn kiện này một mặt
phác họa những trở ngại trên con đường phấn đấu cho sự bình đẳng của nữ
giới bên cạnh nam giới. Mặt khác khẳng định những cam kết và sự quyết tâm
của các chính phủ, các tổ chức quốc tế bằng mọi biện pháp nhằm đạt tới mục
tiêu bình đẳng – phát triển – hòa bình và sự tiến bộ của phụ nữ.
Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 10 trong tháng 11-2004, các nhà
lãnh đạo ASEAN đã thông qua Kế hoạch Hành động Viêng Chăn giai đoạn
2004-2010, kêu gọi thành lập Ủy ban ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ các
quyền của phụ nữ và trẻ em (the ASEAN Commission for the Promotion and
Protection of the Rights of Women and Children – ACWC). Một trong những
chủ đề ưu tiên hàng đầu của Ủy ban là tập trung giải quyết cho kế hoạch hoạt
động 5 năm (2012-2016) là thúc đẩy và bảo vệ các quyền của phụ nữ; sự tham
gia chính trị và ra quyết định của phụ nữ, quản trị nhà nước và dân chủ.
1.2.1.1. Quyền bầu cử, ứng cử
Quyền bầu cử, ứng cử của phụ nữ đầu tiên được ghi nhận trong
Điều 21 UDHR:
- Mọi người đều có quyền tham gia quản lý đất nước mình, một cách
trực tiếp hoặc thông qua các đại diện mà họ được tự do lựa chọn.
- Ý chí của nhân dân phải là cơ sở tạo nên quyền lực của chính quyền,
ý chí đó phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, được
tổ chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín, hoặc
bằng những thủ tục bầu cử tự do tương tự.
16
17
hội được hưởng các quyền này.
Khuyến nghị chung số 23 được Ủy ban CEDAW thông qua tại phiên
họp lần thứ 16 (năm 1997) nêu ra những biện pháp mà các quốc gia thành
viên cần thực hiện để hỗ trợ và khuyến khích phụ nữ thực hiện quyền tham
chính, theo đó những biện pháp để bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của phụ
nữ cần nhằm:
- Bảo đảm tỷ lệ cân bằng giữa phụ nữ và nam giới trong việc nắm giữ
các vị trí được bầu cử công khai;
- Làm cho phụ nữ hiểu tầm quan trọng và cách thức thực hiện quyền bỏ
phiếu của họ;
- Khắc phục những rào cản như thất học, ngôn ngữ, nghèo nàn và
những trở ngại cho việc thực hiện quyền tham chính của phụ nữ;
- Giúp phụ nữ vượt qua những rào cản đó để thực hiện quyền bầu cử và
đắc cử của họ.
Ngoài ra, trong Khuyến nghị chung kể trên, Ủy ban CEDAW cũng
khuyến nghị các quốc gia thành viên thực thi các giải pháp đặc biệt tạm thời
để nâng tỷ lệ phụ nữ tham gia vào hoạt động chính trị, xã hội, cụ thể như đào
tạo, vận động và trợ giúp tài chính cho các ứng cử viên nữ, đề ra các chỉ tiêu
về tỷ lệ phụ nữ trong các cấp chính quyền...
Qua đó có thể thấy rằng, vấn đề quyền bầu cử, ứng cử của phụ nữ thực
sự được quan tâm và đã thúc đẩy được nhận thức chung của cộng đồng quốc
tế về vấn đề này.
2.1.1.2. Tham gia xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật và giữ
chức vụ trong các cơ quan nhà nước ở mọi cấp
Điều 7 của Công ước CEDAW yêu cầu các quốc gia thành viên phải
đảm bảo quyền tham chính cho phụ nữ, cụ thể là Quyền tham gia xây dựng,
19