I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH THIN PHC
NHIệM Vụ BảO Vệ CÔNG Lý CủA TòA áN NHÂN DÂN
Và NHữNG VấN Đề PHáT TRIểN Hệ THốNG PHáP LUậT
VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
HÀ NỘI - 2018
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH THIN PHC
NHIệM Vụ BảO Vệ CÔNG Lý CủA TòA áN NHÂN DÂN
Và NHữNG VấN Đề PHáT TRIểN Hệ THốNG PHáP LUậT
VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lý lun v Lch s Nh nc v phỏp lut
Mó s: 8380101.01
LUN VN THC S LUT HC
Giỏo viờn hng dn khoa hc: GS.TSKH O TR C
1.1.1.
Khái niệm công lý trong nền khoa học pháp lý thế giới......................7
1.1.2.
Khái niệm Công lý tại Việt Nam.......................................................17
1.2.
Khái niệm quyền tiếp cận công lý và nội dung quyền tiếp
cận công lý của người dân..............................................................22
1.3.
Nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân............................26
1.4
Hoàn thiện Hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng nhiệm
vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân.......................................30
1.4.1.
Khái niệm hệ thống pháp luật...........................................................30
1.4.2.
Mối liên hệ giữa Hệ thống pháp luật với nhiệm vụ bảo vệ công
lý của Tòa án nhân dân......................................................................33
2.2.2.
Thực trạng mối quan hệ giữa Tòa án với các cơ quan khác trong
hệ thống cơ quan tư pháp..................................................................66
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
BẢO ĐẢM NHIỆM VỤ BẢO VỆ CÔNG LÝ CUẢ TÒA ÁN
NHÂN DÂN.....................................................................................69
3.1.
Đa dạng hóa các loại nguồn trong hệ thống pháp luật Việt Nam
...........................................................................................................69
3.2.
Nâng cao vai trò giải thích pháp luật của Tòa án nhân dân
...........................................................................................................72
3.3.
Đảm bảo sự độc lập của Tòa án.....................................................77
3.4.
Đơn giản hóa các thủ tục tố tụng...................................................81
KẾT LUẬN....................................................................................................88
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................89
nhân trong những buổi đi săn bắt, hái lượm. Ở thời kì trung đại, dưới sự áp
bức bóc lột của giai cấp thống trị, người ta tìm đến công lý bằng những thần
thoại, những vị thần đem lại sự công bằng. Điều này thể hiện khát khao lẽ
phải giữa những chèn ép của xã hội lúc bấy giờ. Ở thời kì cận đại, những nhà
triết gia đưa ra những triết lý về một nền pháp luật công bằng liêm chính, chỉ
khi đó Nhà nước mới có thể tồn tại.
Đối với đồng bào công giáo, ta thường thấy xuất hiện khẩu hiệu:
“Không thể có hòa bình nếu không có công lý”. Chính vì lẽ đó, Ủy ban Công
lý và Hòa bình đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam thành lập. Có thể thấy
rằng, lịch sử phát triển của xã hội cũng có mối quan hệ tác động qua lại với
lịch sử thăng trầm của công lý. Công lý vừa mang tính chất của vật chất, vừa
mang yếu tố tinh thần, vừa mang tính thế tục, vừa mang tính tôn giáo. Công lý
1
cũng gần tương tự như quyền con người, phải được quy định trong pháp luật,
trong trường hợp không được quy định thì những cơ quan tiến hành áp dụng
pháp luật như: Tòa án, cơ quan điều tra, viện kiểm sát... phải suy nghĩ, xem
xét để vận dụng trên thực tế,
Với mỗi quốc gia, hệ thống tư pháp trong đó có Tòa án đều đóng vai trò
rất quan trọng trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, đảm bảo an
ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Hiến pháp 2013 của Việt Nam đã xác
lập những cơ sở hiến định mới cho cuộc cải cách vì một nền tư pháp liêm
chính theo hướng chỉ rõ sứ mệnh trọng yếu của Tòa án là bảo vệ công lý, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân. Tại khoản 3 Điều 102 Hiến pháp 2013
của Việt Nam đã khẳng định rõ: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công
lý”. Nói theo cách khác thì Tòa án là nơi bảo vệ cuối cùng người dân có thể
tìm đến mà không phụ thuộc vào địa vị kinh tế hay địa vị xã hội của họ. Hậu
quả sẽ là rất nghiêm trong khi người dân không còn niềm tin vào những người
- Đề tài: “Quyền tiếp cận công lý và vai trò của Tòa án trong việc đảm
bảo quyền này” của PGS. TS Vũ Công Giao đã nêu khái quát về khái niệm,
đặc điểm và nền tảng của quyền tiếp cận công lý. Từ đó đánh giá vai trò của
Tòa án trong việc đảm bảo quyền này. Tác giả khẳng định Tòa án chỉ là một
trong nhiều mắt xích của tiến trình thực thi quyền tiếp cận công lý, song về
bản chất, vai trò của Tòa án là rất quan trọng. Bởi xét cho cùng, trong mọi nền
tư pháp, xét xử tại Tòa án luôn là phán quyết cuối cùng có hiệu lực pháp luật
và được đảm bảo thi hành đối với các bên tranh chấp.
- Cuốn sách: “Quyền con người trong thi hành công lý” của Tòa án
nhân dân tối cao được xuất bản năm 2010 của Nhà xuất bản lao động - xã hội.
Cuốn sách gồm tổng cộng 545 trang, trong đó có 15 chương, cung cấp những
thông tin cần thiết nhằm mang lại cho người đọc mà chủ yếu là cán bộ tòa án
có kiến thức tương đối sâu sắc và toàn diện về các quyền cơ bản của con
người và việc bảo đảm các quyền này trong quá trình thực thi công lý.
- Đề tài tổng hợp cấp Nhà nước “Những vấn đề lý luận về quyền tư
3
pháp trong cơ chế quyền lực thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm
soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp”do GS.TSKH. Đào Trí Úc cùng PGS.TS. Vũ Công Giao, TS.
Đặng Văn Hải, ThS. Đào Bảo Ngọc, TS. Nguyễn Hải Ninh, TS. Nguyễn Thị
Thủy cùng thực hiện. Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài đã thể hiện rõ yêu cầu
bảo vệ công lý, bảo vệ quyền Tư pháp và vai trò kiểm soát của quyền tư pháp
mà thể hiện rõ nhất là Tòa án. Ngoài ra, đề tài cũng đã nêu đến những yêu cầu
cơ bản, các yếu tố đảm bảo để xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh
để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Công lý của bộ máy Tư pháp.
- Đề tài: “Tòa án thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Ths.
Đặng Phương Hải trên tạp chí lý luận chính trị số 2-2015. Đề tài đã phân tích,
thống pháp luật Việt Nam để đảm bảo pháp lý cho việc bảo vệ công lý và
quyền tiếp cận công lý để từ đó có thể đề ra một số giải pháp nâng cao tính
hiệu quả của hoạt động này.
- Đánh giá tương đối thực trạng nguồn pháp luật và các đảm bảo quyền
tiếp cận công lý thông qua hệ thống tố tụng được áp dụng tại Tòa án.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích để làm rõ các quan niệm chung về công lý, quyền tiếp cận
công lý, nhiệm vụ bảo vệ công lý của tòa án trên phương diện lịch sử Nhà
nước và pháp luật.
- Nghiên cứu và tìm hiểu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệm vụ
bảo vệ công lý của Tòa án ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống quan điểm lý luận về công lý trong nền khoa học pháp lý thế
giới và trong tiến trình phát triển của Việt Nam.
5
- Hệ thống nguồn luật bảo đảm pháp lý quyền tiếp cận công lý và
nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án.
- Các thủ tục tố tụng được sử dụng tại Tòa án.
- Các giải pháp phát triển hệ thống pháp luật đáp ứng nhiệm vụ của Tòa
án nhân dân trong việc bảo vệ công lý.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Công lý là một khái niệm rộng lớn cho nên với phạm vi của luận văn
thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu công lý, quyền tiếp cận công lý, nhiệm vụ
bảo vệ công lý trong tư pháp, gắn chặt với việc xét xử của Tòa án.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử, cụ thể trong việc nghiên cứu, tìm
phẩm hạnh quan trọng của mỗi cá nhân bởi nó còn phải nhường chỗ cho
những phẩm chất quan trọng của các chiến binh như sức mạnh, lòng quả cảm,
sự khéo léo hay kỹ năng sử dụng vũ khí thuần thục. Pháp luật trong giai đoạn
đó dựa trên các giải pháp thô sơ là sử dụng “cường lực”, “bạo lực”, hay “bản
năng”, lẽ phải sẽ thuộc về kẻ mạnh hơn, khỏe hơn và “mỗi cá nhân là viên
cảnh sát của chính mình, người nào đủ mạnh thì dùng cách trả thù để xử tội
theo ý mình” [4]. Khi chế độ thành bang được thiết lập, các cá nhân phải gắn
bó, liên kết, hợp tác, bảo vệ lẫn nhau, không được có những hành vi làm
phương hại lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển. Chính vì vậy, trong một xã
hội văn minh, vai trò của “cường lực”, “bạo lực”, “sức mạnh” ngày càng phai
nhạt. Loài người đã nhận ra rằng không thể để cho các cá nhân tự ý định đoạt
7
phân xử, trật tự xã hội cần phải được thiết lập trên cơ sở hòa bình và công lý.
Những yêu cầu trong hình thái kinh tế -xã hội mới đó đã làm phai nhạt những
phẩm hạnh của các chiến binh và đưa công lý từng bước tiến tới vị trí trung
tâm của hệ giá trị đạo đức của xã hội cổ đại.
1.1.1.1. Thời kỳ cổ đại.
Các nhà nước và pháp luật đầu tiên hình thành trong thời kì này, do đó
ý niệm công lý cũng bắt đầu được hình thành một cách sơ khai, đơn giản.
a) Thời kì phương Tây cổ đại.
Dựa trên nền tảng của hai nền văn minh La Mã và Hy Lạp và sự phát
triển đông đảo của cư dân du mục, văn minh phương Tây cổ đại thời bấy giờ
đã có những bước phát triển nổi bật. Điều kiện tự nhiên của La Mã và Hy Lạp
vừa tạo ra nền tảng cho nền văn minh phương Tây cổ đại với những thành tựu
rực rỡ và điều kiện tự nhiên cũng là một yếu tố quan trọng đã mang nền văn
minh phương Tây cổ đại truyền bá khắp thế giới bằng nhiều con đường khác
nhau: chiến tranh hoặc hòa bình. Do đó, khi đi sâu tìm hiểu một định nghĩa
Virgo) nghĩa là, “ngôi sao” hoặc “tinh tú” “tinh cầu”. Như vậy có nghĩa là
công lý chân chính từ đó trở đi chỉ có thể tìm được ở bầu trời cao xa vời vợi,
lấp lánh những vì sao.
Ngày nay, Nữ thần công lý thường được biết đến với cái tên Lady Justice,
với một tay cầm cân – tượng trưng cho sự suy xét cẩn trọng và công bằng, một
tay cầm kiếm – tượng trưng cho sức mạnh cưỡng chế, và một dải băng bịt kín
đôi mắt – tượng trưng cho sự vô tư, không bị tác động bởi ngoại cảnh. Lady
Justice bắt nguồn từ việc nhân cách hóa tư pháp trong nghệ thuật La Mã cổ đại.
Từ thế kỷ II trước Công nguyên khi người La Mã thôn tính Hy Lạp, họ đã xây
dựng Nữ thần công lý - Nữ thần Justitia dựa trên hình tượng của nữ thần Diké và
nữ thần Thémis. Phần lớn giới nghiên cứu đều đi tìm nguồn gốc của biểu tượng
này ở vùng Địa Trung Hải, cái nôi của những nền văn minh rực rỡ trong lịch sử
loài người. Biểu tượng Nữ thần công lý ngày nay có nguồn gốc từ thần thoại Hy
9
Lạp và La Mã, nữ thần Justitia, trong tiếng Latin là Iustitia, là hiện thân của
công lý trong thần thoại La Mã (Roman). Bà là một trinh nữ sống giữa loài
người cho đến khi loài người trở nên tha hóa và hủ bại, buộc bà phải bay lên
trời và hóa thân thành chòm sao Xử nữ (Virgo) [43].
Trước người Hy Lạp và La Mã, người Ai Cập cổ đại đã có nữ thần
Công lý của mình. Ma’at là nữ thần tượng trưng cho các giá trị sự thật, công
bằng, công lý, trật tự, pháp luật, đạo đức trong đời sống tâm linh của người Ai
Cập cổ đại. Bà là chủ nhân của phòng phân xử với tính cách thẳng thắn, công
minh khi phán xử một sự việc.
Thật thiếu xót nếu nhắc đến nền văn minh Hy Lạp cổ đại mà không
nhắc đến những triết gia nổi tiếng như Platon hay Aristotle.... Khi nói về pháp
luật, Platon nhấn mạnh đến luật tự nhiên, công lý với nghĩa trừng phạt những
kẻ vi phạm luật tự nhiên cũng mang tính tự nhiên. Công lý làm cho người ta
triển những xã hội tri thức đầu tiên ngay từ khoảng nửa sau thiên niên kỷ IV
Trước công nguyên. Người có công xây dựng Vương triều Babilon thành
quốc gia hùng mạnh, thống nhất cả khu vực Lưỡng Hà là vua Hammurabi
(1792-1750 Trước công nguyên). Bằng các biện pháp vũ lực, ngoại giao khôn
khéo và kiên quyết, vua Hammurabi đã lần lượt chinh phục các quốc gia lân
bang. Vùng đất Lưỡng Hà rộng lớn, thống nhất đó được gọi là Babilon. Thời
kỳ tồn tại của Vương quốc Babilon (1894-1595 Trước công nguyên) là thời
kỳ huy hoàng nhất của lịch sử Lưỡng Hà. Hammurabi là ông vua đầu tiên của
Lưỡng Hà chế định một bộ luật thành văn hoàn chỉnh và áp dụng thống nhất
cho toàn khu vực Lưỡng Hà với tên gọi Bộ luật Hammurabi.
Có thể nói, Bộ luật Hammurabi là văn bản viết thời cổ đại đề cập khá
rõ nét các tư tưởng, niềm tin, nhu cầu và khát vọng về công lý của con người
thời cổ đại. Phần trên bia luật Hammurabi có chạm hình của vua Hammurabi
đang đứng trang nghiêm trước thần Mặt trời, ánh sáng và xét xử (Samat).
Thiết lập công lý, bảo vệ công lý, đề cao hạnh phúc, chính nghĩa và công
11
bằng là tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ bộ luật. Cụm từ “công lý” được sử
dụng xuyên suốt phần mở đầu và phần kết luận của bộ luật. Công lý như ánh
sáng mặt trời cần phải “soi đến dân đen, tỏ ánh sáng khắp mặt đất”. Ngay tại
phần mở đầu của Bộ luật, vua Hammurabi khẳng định sứ mệnh và mục tiêu
của mình trong việc cai quản đất nước, đồng thời khẳng định quyền của người
dân được sống trong một chế độ công bằng, có trật tự:
Tại phần kết luận của Bộ luật, một lần nữa vua Hammurabi tiếp tục
nhấn mạnh đến những giá trị chân chính của bộ luật, một bộ luật dựa trên một
nền tảng công lý chân chính: “Đây là pháp luật công lý (law of justice) do vua
Hammurabi bách thắng đặt ra để đem lại hạnh phúc chân chính và đặt nền
thống trị nhân từ” [31].
của Will Durant đưa ra một ví dụ sinh động về cách phạt vạ khá tỉ mỉ, cẩn
thận, của người Abysinie trong giai đoạn này như sau: “Nếu một đứa nhỏ trên
cây té xuống đúng vào một đứa bạn của nó và làm cho đứa nhỏ chết thì mẹ
của đứa chết có quyền sai một đứa khác leo lên cây rồi buông tay cho té
xuống đúng đầu đứa phạm tội”. Trong bộ luật Hammurabi, Điều 196 Bộ luật
quy định: “Kẻ nào làm hỏng mắt của người dân tự do, kẻ đó sẽ bị người ta
chọc mù mắt”. Điều 197 Bộ luật quy định; “Kẻ nào đánh gãy tay của một
người tự do, người ta sẽ đánh gãy tay của hắn”. Điều 230 Bộ luật quy định:
“Người thợ xây xây nhà không cẩn thận làm đổ nhà chết con chủ nhà thì phải
giết con người thợ xây”…
Có thể nói mặc dù những tư tưởng tiến bộ tuy nhiên công lý trong giai
đoạn xã hội sơ khai này chỉ được hình thành dựa trên những truyền thuyết, thần
thoại. Tuy nhiên, vẫn phải thừa nhận rằng đây chính là những viên gạch đầu tiên
để xây dựng những bộ luật thành văn hoàn chỉnh tại thời điểm hiện tại.
1.1.1.2. Thời kì Trung đại
Augustine là một triết gia thời trung cổ. Nói về công lý, ông có một câu
nói rất nổi tiếng là “Nếu không có công lý, nhà nước sẽ là gì nếu không phải
là một băng cướp có tổ chức?”, Augustine không đồng ý với bất cứ khái niệm
13
“thiên mệnh” nào của kẻ cai trị. Ông cũng không tin rằng sự lập pháp hay
nghị định nên được thông qua mà không có sự bàn thảo. Ông nói “Luật bất
công không phải là luật”.
Còn đối với Martin Luther là nhà thần học người Đức, nhà cải cách tôn
giáo. Thần học Luther đã thách thức thẩm quyền của Giáo hoàng Đức khi rao
giảng rằng Kinh Thánh là nguồn vô ngộ (không sai lầm) duy nhất của địa vị
tư tế, thẩm quyền tôn giáo và được dành cho tất cả tín hữu (không chỉ dành
riêng cho giới tăng lữ) [10]. Theo Luther, con người chỉ có thể được cứu rỗi
chúng ta cần phải bảo vệ trật tự và an ninh. Vì thế con người cần phải từ bỏ sự
tự do tự nhiên vốn có để tạo ra một xã hội ổn định trật tự. Triết lý của Hobbes
đặt trật tự lên trên công lý là có phần độc đoán.
Hoặc đối với nhà triết học người Pháp Jean Jacques Rousseau trong
tác phẩm Khế ước xã hội, ông viết: “Đức Chúa Trời là nguồn gốc duy nhất
của công lý. Mọi công lý đến từ Đức Chúa Trời, nhưng nếu chúng ta biết
cách tiếp nhận nguồn công lý cao siêu như vậy thì chúng ta sẽ chẳng cần đến
Luật pháp và Chính phủ” [14]. Điều tất yếu là phải có một loại công lý từ lý
trí mà ra và có tính phổ cập đến tất cả mọi người; nhưng muốn được đông
đảo mọi người chấp nhận thì công lý này phải có tính công bằng giữa người
với người. Những luật pháp của công lý thiên nhiên vì thiếu c ơ chế bảo đảm
hiệu lực thi hành là các chế tài nên không có hiệu quả với con người. Do đó
pháp luật của công lý thiên nhiên có thể sẽ gây hại người tốt và làm lợi cho
kẻ xấu, vì người tốt thì tôn trọng luật pháp với tất cả mọi người, trong khi kẻ
xấu thì lại bất tuân luật lệ.
1.1.1.4. Thời kỳ hiện đại
Trong xã hội hiện đại, những giải thích về công lý thường tập trung vào
việc làm thế nào để xã hội có thể phân phối một cách công bằng nhất những
phúc lợi và gánh nặng trong đời sống xã hội.
Trong cuốn Công lý: Đâu là việc đúng nên làm? (Justice: What’s the
15
right thing to do?) của giáo sư Đại học Havard Hoa Kỳ Michael J. Sandel.
Giáo sư cho rằng câu hỏi một xã hội có công bằng hay không chính là câu hỏi
về cách phân phối những điều chúng ta được hưởng thụ: Sự giàu có và thu
nhập; quyền lợi và trách nhiệm; quyền lực và cơ hội; chức vụ và danh dự.
Một xã hội công bằng phân phối những thứ này đúng cách cho mỗi người
nhận đúng phần họ xứng đáng được hưởng [25].
quả cảm, sự khiêm tốn…) thì công lý lại giúp phát triển những phẩm chất
thúc đẩy mối quan hệ trong cuộc sống của một người với người khác. Vì
vậy, công lý là phẩm hạnh quan trọng giữ cho mỗi thành viên xã hội gắn bó
chặt chẽ vì lợi ích chung của toàn thể xã hội. Để đảm bảo sự ổn định và
phát triển, những đức hạnh tử tế, nhân văn và ấm áp, mà trong đó công lý
chiếm một vị trí đặc biệt ưu tiên, cần phải được lan tỏa sâu rộng và mạnh
mẽ trong mỗi cộng đồng xã hội.
1.1.2. Khái niệm Công lý tại Việt Nam
Trong xã hội phong kiến Việt Nam, khát vọng công lý của người dân từ
ngàn năm qua đã đúc kết trở thành trong những tục ngữ, thành ngữ phê phán
thói hư tật xấu của đội ngũ quan lại phong kiến thời bấy giờ như: Đất thấp trời
cao (Hoàn cảnh trớ trêu, người có địa vị thấp kém khó có thể giãi bày, kêu oan
với những người cầm quyền); Nén bạc đâm toạc tờ giấy (Công lý bị đồng tiền
chi phối); Quan châu có quyền đốt đuốc, thiên hạ không được thắp đèn (Nhận
xét về sự bất bình đẳng giữa kẻ có chức quyền và nhân dân); Quan thấy kiện
như kiến thấy mỡ (Nhận xét về nạn tham nhũng của quan lại phong kiến) [4]
… Có thể nói rằng, công lý, lẽ phải và sự công bằng đã trở thành ước mơ,
khát vọng từ ngàn đời nay của người dân Việt Nam.
Năm 1919 tại bản “Yêu sách nhân dân An Nam”, những giá trị của một
nền công lý chân chính, đích thực, nhân văn, vì con người cho nhân dân Việt
Nam xuất hiện và được truyền bá về Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc thay mặt
hội những người yêu nước An Nam gửi đến trưởng đoàn các nước tham dự
17