ĐIỀU GÌ KHIẾN BẠN SỢ KHI PHÂN TÍCH VỢ
NHẶT CỦA KIM LÂN??? ( PHẦN 2)
"Tôi vẫn có ý định là không mô tả trực tiếp trạng thái tâm lý của người đàn bà. Tôi
muốn qua cách nhìn của Tràng, của bà cụ Tứ để làm nổi bật lên sự hiện diện của thị.
Ở đây, mỗi khi thay đổi cách gọi: người đàn bà, thị, ả là một lần "nhân vật vợ mới"
thay đổi vị trí trong hai con người kia. Bà cụ không còn giấu cảm nghĩ của mình nữa.
Bà kể lể về đám cưới với dăm ba mâm cỗ cho hàng xóm, họ hàng, nhưng "nhà
nghèo" và "năm nay thì đói to" nên chỉ cần "chúng mày hòa hợp là u mừng". Sự
thành thật xen lẫn nỗi đắng cay khiến bà khóc. Bà khóc vì lo cho cái hạnh phúc mong
manh của con trai khó có thể giữ nổi trong cuộc sống đói khổ này..."
•
• Trong tâm trạng bồn chồn của Tràng và sự tủi thân câm lặng của cô vợ, việc bà cụ
Tứ trở về đã xua tan được không khí bế tắc. Tràng vui vẻ hẳn, còn người đàn bà lạ
cất một câu chào ấm áp: "U đã về ạ". Bà cụ Tứ có ngỡ ngàng chút ít, nhưng bà
cũng đồng ý chóng vánh. Không thấy bà lục vấn hỏi han gì con trai, điều mà các
bà mẹ thường làm. Vậy trong mạch truyện, sự đồng ý nhanh chóng của người mẹ
có quá gượng ép?
Nhà văn Kim Lân: Chúng ta nên hiểu tâm trạng của bà mẹ. Bà cụ Tứ ngay khi về đến nhà
đã bị ngạc nhiên vì sự vui vẻ và chờ đợi "nóng cả ruột" của con trai mình. Bà càng ngạc
nhiên khi có người đàn bà lạ ở trong nhà mà lại đứng ở "đầu giường thằng con". Người đó
lại chào bà bằng u. Cái cảnh đó chưa được giải thích đến nỗi bà cụ tưởng nhầm như mình
đang mơ thấy cái Đục - cô con gái đã chết hiện về. Và khi Tràng giải thích, bà "nín lặng"
hiểu ra mọi chuyện. Bà tủi phận vì đã không xứng đáng là một người mẹ, không lo cho con
một cách đàng hoàng như người khác. Hơn cả đứa con, bà hiểu rõ hơn hoàn cảnh của
Chân dung Nhà văn Kim Lân - Tranh của họa sĩ Nguyễn Thị Hiền - con gái cả
của nhà văn
chúng. "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy mình. Mà con mình
mới có vợ được" bà nghĩ. Có thể bà hơi ngao ngán về chuyện đó một chút nhưng cảm giác
"hàm ơn" đối với người đàn bà là nhiều hơn, người đã giúp bà "lo" cho con trai bà bằng
cách làm vợ anh ta. Bà không dám tin rằng "Chúng nó có nuôi nổi nhau qua được cơn đói
tăm tối. Đó chính là điều đặc sắc của Tràng. Tràng tin tưởng ở mình, tin tưởng ở những
điều tốt đẹp nẩy sinh từ lòng mình. Những điều đó không thể có một kết cục tệ hại được.
Có thể là ý nghĩa nhất thời nhưng Tràng phải nhắc nhở mẹ và vợ về điều này.
• Và ngọn đèn Tràng thắp lên đã an ủi cả mấy người?
Nhà văn Kim Lân: Tràng "hầm hầm bước vào" và "đánh diêm đốt đèn". Hành động kiên
quyết tạo ra một hình tượng "Ngọn đèn tỏa sáng trong căn nhà tối tăm". Tại sao Tràng
không thắp đèn ngay khi về nhà? Bởi Tràng chỉ thắp khi phải củng cố niềm tin dù là nhỏ
nhoi cho người khác. Ngọn đèn vừa mang biểu tượng cho một tương lai tươi sáng, vừa liên
kết gắn bó ba người lại với nhau - ba con người đói rách. Ngọn đèn là niềm yêu thương,
cảm thông lẫn nhau để cùng vượt lên trên số phận buồn thương của họ. Và khi thấy sáng,
bà lão "vội vàng lau nước mắt". Rõ ràng là căn nhà và trong lòng bà lão đều tốt như nhau.
Ánh sáng như một lời hứa quyết tâm của người con trai gửi đến bà mẹ. Dầu đắt thế nhưng
bởi có vợ mới nên con trai bà cũng mua được cơ mà. Tuy nhiên đèn sáng lên bà cũng chỉ
"uể oải" đứng dậy đi nằm. Cái rạng rỡ của ánh sáng cũng chỉ là một viễn cảnh quá xa.
• Ánh sáng soi rõ lòng bà mẹ và một lần nữa ngọn đèn tỏa rọi vào cuộc sống chung
của đôi vợ chồng mới?
Nhà văn Kim Lân: Thực tại luôn luôn kéo người ta lại với nó. "Tiếng ai hờ khóc ngoài
xóm lọt vào tỉ tê lúc to lúc nhỏ" đã lấy mất không khí lãng mạn ngọn đèn vừa mang đến.
Cả hai một lần nữa lại "sượng sùng" không biết nói gì. Hình ảnh thực nhất là hình ảnh
"ngọn đèn" hạnh phúc tương lai soi rọi họ và "kéo dài hai cái bóng trên vách". Hai cái bóng
đó chính là cuộc sống thực của họ. Hai cái bóng lờ mờ, lê thê, khốn khổ. Sự thật trần trụi
họ phải tiếp nhận là như thế.
• Đêm tân hôn của cặp vợ chồng là đèn hạnh phúc. Mọi khó khăn đều tạm quên đi.
Hai người hưởng cái niềm vui tột cùng mà thiên nhiên trao tặng. Nhưng cái niềm
vui ấy được bao quanh bởi "tiếng khóc tỉ tê nghe càng rõ". Một đêm tân hôn trong
tiếng khóc người chết và mùi trấu hun khê nồng. Tràng có cảm thấy hạnh phúc
không?
Nhà văn Kim Lân
Nhà văn Kim Lân: Tôi tả đêm tân hôn trong hoàn cảnh đó và để phân tích xem hạnh phúc
cuộc sống của mình. Người đàn bà thực thụ đã sống lại trong thị.
• Mọi người đều có niềm vui, nhưng rõ ràng họ luôn cố gắng tìm cách quên đi thực
tại. "Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này". Bà mẹ muốn
cho ngày đầu tiên này thật tốt đẹp. Người vợ thì quét chổi "sàn sạt". Tràng thì
muốn "thu xếp lại cửa nhà". Nhưng họ càng cố gắng thì cuộc sống khó khăn càng
hiện ra khủng khiếp hơn?
Nhà văn Kim Lân: Ở đây tôi không chủ tâm diễn tả cái đói mà là muốn thể hiện cuộc
sống của một cặp vợ chồng mới trong nạn đói. Cho nên cuộc sống đói khổ chỉ là cái nền
thôi. Tuy nhiên chính vì nó mà niềm vui của cặp vợ chồng luôn bấp bênh. Ở đây có một ẩn
ý: Cả ba người đều không quên thực tại và cố gắng của họ là tìm thấy niềm vui trong cuộc
sống tối tăm. Cái bữa ăn đầu tiên ba người ngồi ăn chung mang ý nghĩa như bữa "tiệc
cưới" tội nghiệp. "Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rồi và một đĩa muối ăn
với cháo". Sự tồi tàn của bữa ăn tương phản với niềm vui của họ. Họ đều "ăn rất ngon
lành" và "vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn gia cảnh". Họ gắn bó nhau và yêu thương nhau
hơn. Tràng trở nên ngoan ngoãn và nghe lời mẹ. "Chưa bao giờ trong nhà này mẹ con lại
hòa hợp thế". Tầm quan trọng của bữa ăn đầu thật rõ. Nhưng "tiệc cưới" kéo dài không lâu,
mỗi người chỉ được hai lưng cháo "lõng bõng". Màn cuối của bữa hoàn toàn phũ phàng
khiến mọi người nhớ đến thực tại khắc nghiệt. Cô dâu đón lấy bát ăn và "đưa lên mắt nhìn"
rồi "hai con mắt thị tối lại" vì cảm nhận tận cùng cái cơ cực của cuộc sống mới. Nhưng thị
đã "điềm nhiên và vào miệng". Đấy dù sao cũng là lối tốt nhất cho cuộc đời của thị.
• Nồi cháo đã đập tan không khí vui tươi ở phần đầu bữa ăn. "Bữa cơm từ đấy
không ai nói câu gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau, một nỗi
tủi hờn len vào tâm trí mọi người". Trong sách Văn học lớp 12 phần được trích
giảng cũng dừng ở đoạn này. Câu văn dường như bóc nốt lượt cuối lớp vỏ bên
ngoài của cuộc sống để cho cả ba thấy cái "đắng chát" cái nghẹn bứ trong cổ.
Cuộc sống không báo hiệu một tia hy vọng nào?
Nguyễn Thị Thu Trang - Em học sinh từng đạt điểm 10 môn văn trong kỳ thi đại học năm
2005 với bài phân tích tác phẩm "Vợ nhặt".