PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam có 80 % dân số, trên 70 % lao động sống và làm việc tại địa
bàn nông thôn do vậy việc quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có ý
nghĩa chính trị quan trọng quyết định cho sự phát triển đất nước vừa giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động vừa tạo ra nguồn nguyên, vật liệu cung cấp
cho ngành công nghiệp. Phát triển nông nghiệp nông thôn không những đảm bảo
về an ninh lương thực mà còn góp phần ổn định tình hình chính trị, nâng cao đời
sống nhân dân, đưa nước ta từng bước thực hiện thành công sự nghiệp CNH -
HĐH.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, nền nông nghiệp nông thôn nước ta đã có
những bước phát triển đời sống nông dân được ổn định và từng bước được cải
thiện. Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN,
làm động lực khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất nhiều của cải,
trong đó NNNT đã đạt được những thành tựu nhất định, từ một nền sản xuất nhỏ,
lạc hậu tự cung, tự cấp chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa; phá thế
độc canh cây lúa sang áp dụng các tiến bộ KHKT, trồng các loại cây trồng cho
năng suất, sản lượng, gía trị kinh tế cao. Đến nay không những cung cấp lương
thực cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn có lương thực để xuất khẩu sang
các nước, đứng thứ 2 trên thế giới, từng bước tạo nền NN bền vững, đảm bảo môi
trường sinh thái, góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, do đặc thù riêng của nông thôn Việt Nam, nền NN nước ta mới
bắt đầu phát triển, vẫn còn mặt hạn chế trong sản xuất NN. Tình trạng manh mún,
nhỏ lẻ, phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên, năng suất sản lượng còn thấp, giá trị
của mặt hàng NN vẫn còn chủ yếu là sơ chế thủ công, trang bị về cơ sở vật chất
còn lạc hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu cải thiện đời sống nhân dân, chưa cung
cấp đủ nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu
trong nước và xuất khẩu. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu
1
cây trồng trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng giá trị sản lượng
sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ, nhưng công tác chuyển đổi cơ cấu cây
trồng còn chậm, chưa mang tính đột phá. chưa đạt yêu cầu, trình độ thâm canh của
người dân còn nhiều hạn chế, năng suất sản lượng, giá trị thu nhập trên một đơn vị
diện tích/ năm chưa cao, đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn.
Xuất phát từ thực tế nói trên, trong thời gian thực tập tại địa phương,
chúng tôi chọn đề tài: “Chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở xã Tiên Cảnh huyện
Tiên Phước tỉnh Quảng Nam”
* Mục đích nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu thực trạng cơ cấu cây trồng trên địa xã trong những năm qua,
từ đó xây dựng kế hoạch, đề ra một số giải pháp để thực hiện công tác chuyển đổi
cơ cấu cây trồng trong thời gian tới, nhằm khai thác tối đa lợi ích kinh tế, tăng giá
trị thu nhập trên một đơn vị diện tích / thời gian một năm, để nâng cao đời sống
nông dân.
* Phương pháp nghiên cứu:
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu và hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã
sử dụng các phương pháp sau:
-Phương pháp duy vật biện chứng
-Phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp.
-Phương pháp thống kê kinh tế.
Nghiên cứu công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong lĩnh vực sản xuất
nông nghiệp là một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, vì trong sản xuất nông nghiệp
phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên thời tiết và khí hậu, tính chất, độ màu mỡ
của đất, mùa vụ, đặc tính, yêu cầu kỹ thuật của từng loại giống cây trồng, đồng
thời phải qua thực tiễn sản xuất đúc kết rút kinh nghiệm phong phú của người
nông dân và liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ trong
kinh tế quốc dân .
3
* Phạm vi nghiên cứu:
Do thời gian thực tập có hạn, do điều kiện vừa học vừa làm nên không có
thời gian để nghiên cứu ở phạm trù rộng, nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công
nghiệp mà còn là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xã hội gắn liền với đổi mới
cơ bản về công nghệ, tạo nền tảng cho nền kinh tế cao và phát triển bền vững của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Đối với nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, chuyển đổi
cơ cấu thể hiện cho sự thay đổi trong quan hệ sản xuất của nội bộ ngành cũng như
vùng kinh tế, vì đối tượng sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống, mỗi cơ thể
sống của nông nghiệp có một yếu tố kỹ thuật và sinh học riêng, yêu cầu canh tác
khác nhau, với chu kỳ phát triển khác nhau. Sản xuất nông nghiệp phần lớn tiến
5
hành canh tác ngoài trời, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của thiên nhiên. Vì vậy
trong ngành trồng trọt phải tự điều chỉnh, phân bố cơ cấu cây trồng hợp lý dựa
trên ưu thế của từng vùng, điều kiện địa lý, khí hậu của vùng đó để khai thác lợi
thế so sánh, khả năng sinh lợi của cây trồng. Để đáp ứng được điều đó, đòi hỏi
người sản xuất phải biết chọn những ưu điểm, thế mạnh của từng vùng để lựa
chọn quy mô sản xuất, cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện cụ thể để tăng năng
suất, chất lượng sản phẩm và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Yêu cầu lớn nhất của cơ cấu cây trồng trong quá trình canh tác là tận dụng
triệt để các điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai nhằm hạn chế tối đa những rủi ro do
thời tiết, thiên tai, lũ lụt và hạn hán gây ra, không ngừng bồi bổ đất đai lợi dụng
đặc điểm sinh học của cây trồng, khả năng chống chịu các điều kiện ngọai cảnh,
sâu bệnh; tính thích nghi rộng rãi, có khả năng cho năng suất cao có chất lượng
sản phẩm tốt .
Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước
ta rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp, nông thôn .Ban hành nhiều chủ trương
chính sách, trong đó chuyển đổi cơ cấu cây trồng là một nhiệm vụ được ưu tiên, vì
có chuyển đổi cơ cấu cây trồng thì mới đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, có
năng suất cao và chất lượng tốt. Cung cấp đủ lương thực trong nước và xuất khẩu,
tạo điều kiện cho nông dân tiếp thu các tiến bộ KHKT, biết hạch toán kinh tế trong
sản xuất, kinh doanh và như vậy sẽ tránh được sản xuất mang tính truyền thống
lạc hậu, tự cung, tự cấp, ảnh hưởng đến sự nghiệp phát triển đất nước trên con
- Việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng phải đảm bảo tính hiệu quả kinh tế, tận
dụng tối đa lợi thế so sánh, nghĩa là khi tiến hành sản xuất kinh doanh người sản
xuất phải tính đến kinh phí đầu tư ở mức thấp nhất nhưng thu được hiệu quả kinh
tế cao nhất.Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc khuyến khích
mọi thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất kinh doanh, sản xuất ra nhiều của cải
vật chất nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu đời sống
nhân dân góp phần làm giàu cho đất nước, đồng thời có khoản tiết kiệm, tích lũy
để đầu tư tái sản xuất .
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải đảm bảo tính khoa học và thỏa mãn các
yếu tố tự nhiện, xã hội để việc bố trí các loại cây trồng một cách hợp lý và phát
7
triển cân đối đảm bảo sự cân bằng sinh thái, nhu cầu thị trường, điều kiện cụ thể
của từng địa bàn
-Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải tuân thủ theo quy luật tự nhiên, cơ
chế chính sách và hoạch định chiến lược lâu dài của Đảng và Nhà nước.
Vì vậy; việc quy hoạch bố trí cơ cấu cây trồng phải điều tra đánh gía một
cách đầy đủ, chặc chẻ, cụ thể với từng điều kiện ở mỗi địa bàn, đảm bảo sự thích
ứng của từng loại cây trồng và hiệu quả kinh tế trong quá trình sản xuất; kết hợp
với việc chuyển giao các tiến bộ KHKT, cung cấp những thông tin cần thiết về đặc
điểm sinh học của từng loại cây trồng, cơ chế khuyến khích đầu tư của Nhà nước,
các kế hoạch và chủ trương của các ngành liên quan, tăng cường mở rộng công tác
khuyến nông, khuyến lâm xây dựng các mô hình trình diễn để nhân dân học tập
kinh nghiệm và nhân rộng mô hình.
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng không làm ảnh hưởng đến tập quán canh
tác ở từng vùng và nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Do vậy; việc quy hoạch
phải đảm bảo với điều kiện ở từng vùng, phù hợp với đặc điểm của từng loai cây
trồng để cơ cấu một cách hợp lý nhằm đảm bảo cho các loại cây trồng cùng bổ
sung, hỗ trợ, tác động với nhau cùng phát triển. Trong sản xuất nông nghiệp phải
thống nhất về tư duy của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng; để thực hiện một cách
đồng bộ, cần chú ý không vì những lợi ích trước mắt làm ảnh hưởng đến tính phát
mỡ góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích. Tùy vào điều
kiện địa hình, độ dốc, thành phần cơ giới, độ phì của đất để bố trí cây trồng cho
phù hợp. Mỗi loại cây có đặc điểm sinh trưởng riêng. Do vậy ta phải bố trí các
loại cây trồng thích hợp, không nên bố trí các loại cây trồng có tác dụng làm xấu đi
thổ nhưỡng của đất, nhằm bảo vệ và cải tạo đất để có hướng sản xuất bền vững.
-Thời tiết, khí hậu: Là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong
sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong trồng trọt, vì nó được tiến hành sản xuất
ngoài trời nên thời tiết khí hậu mang tính quyết định lớn cho năng suất của cây
trồng. Chính dựa vào yếu tố này mà sinh ra tính thời vụ của cây trồng, nắm vững
9
được yếu tố này để bố trí các loại cây trồng và công thức luân canh phù hợp giảm
được thiệt hại do thiên tai gây ra nhằm làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm,
đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế. Ngày nay, mặc dù trình độ KHKT đã có
những bước tiến vượt bậc nhưng cũng chỉ khắc phục được phần nào chứ không
hoàn toàn làm chủ về yếu tố tự nhiên.
1.1.2.2. Về yếu tố kinh tế - Kỹ thuật:
-Chuyển đổi cơ cấu cây trồng không những phụ thuộc vào điều kiện tự
nhiên mà nó còn phụ thuộc vào nhân tố kinh tế - kỹ thuật như:
-Nhân tố lao động: Lực lượng lao động là yếu tố hết sức quan trọng quyết
định đến mọi quá trình trong sản xuất, kinh doanh, là động lực thúc đẩy, tạo ra
của cải vật chất cho xã hội, bất kỳ một hoạt động sản xuất, kinh doanh nào cũng
cần đến lao động, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, bởi con người là nhân tố
quyết định các phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh. Hình thành việc chuyển
đổi cơ cấu ngành trồng trọt, cơ cấu lao động hợp lý để thúc đẩy sản xuất phát triển.
Tuy nhiên, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải dựa vào trình độ dân trí,
khả năng cơ giới hóa, đến phân công, bố trí lực lượng lao động cho phù hợp. Việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhanh hay chậm; tổ chức sản xuất kinh doanh, có
năng suất, chất lượng đem lại hiệu quả kinh tế cao đều phụ thuộc vào nhân tố con
người. Hiện nay, với sự phát triển của KHKT đòi hỏi con người phải có trình độ
nắm bắt các tiến bộ KHKT vào sản xuất, kinh doanh. Một thực tế cho thấy, ở nơi
cho mọi thành phần kinh tế phát huy trên mọi thế mạnh của mình, khai thác tối đa
nguồn nhân lực để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Trong nông nghiệp, thị
trường đóng vai trò quan trọng, bởi hiện nay quá trình sản xuất chú trọng đến việc
tạo ra hàng hóa nông sản, thị trường vừa là trung gian, vừa mang tính định hướng
trong sản xuất, người sản xuất phải luôn luôn nghĩ sản xuất cây gì? bán ở đâu? và
bán cho ai? để có hiệu quả kinh tế cao nhất hoặc sản xuất ra cái gì mà thị trường
cần chứ không phải sản xuất ra cái mình có. Hiện nay, cả thị trường đầu vào và
đầu ra của sản xuất nông nghiệp đã hình thành thì quan hệ thị trường từng bước
được mở rộng nó có tác động lớn đến việc sản xuất hàng hóa cho nên cần phải có
những thông tin kịp thời về thị trường để người sản xuất quyết định sản xuất số
lượng, chất lượng chủng loại sản phẩm mà thị trường đang yêu cầu, từ đó bố trí
11
sản xuất cơ cấu cây trồng hợp lý, cung ứng sản phẩm đáp ứng kịp thời cho thị
trường.
Tuy nhiên nền sản xuất nông nghiệp thiếu thông tin về thị trường, người
sản xuất mang tính thụ động, và mang tính may, rủi thì hiệu qủa không cao, trong
sản xuất nông nghiệp, sản phẩm còn mang tính chất tươi sống khó bảo quản, yêu
cầu tiêu thụ kịp thời trong một thời gian ngắn như vậy thiếu hụt thông tin về thị
trường sẽ làm bất lợi cho nông dân và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng
hóa nông nghiệp.
+Khoa học công nghệ dịch vụ: Trong thời đại ngày nay, các tiến bộ
KHKT đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là công nghệ sinh học tiên tiến trên thế
giới đã sản xuất các loại giống cây trồng mới với thời gian sinh trưởng ngắn, cho
năng suất cao có khả năng chống chịu sâu bệnh .
Tiếp thu ứng dụng KHKT của thế giới để vận dụng vào việc chuyển đổi cơ
cấu cây trồng ở Việt Nam, đồng thời phải chuyển giao KHCN đến người dân bằng
cách tập huấn nâng cao trình độ người lao động; phát triển hệ thống dịch vụ nông
nghiệp vừa cung cấp kịp thời giống và các loại vật tư phục vụ cho sản xuất, vừa
bảo đảm giá trị các sản phẩm của nông nghiệp, vừa làm động lực cho sự phát
triển sản xuất
-Tổng giá trị sản xuất (GO) là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ
(mà một doanh nghiệp) đã được tạo ra trong một thời gian nhất định (thường là
một năm) bao gồm 2 bộ phận: của cải vật chất và hoạt động dịch vụ tạo ra.
-Tổng chi phí trung gian (IC) là một bộ phận của tổng chi phí sản xuất bao
gồm toàn bộ chi phí thường xuyên về vật chất và chi phí dịch vụ chi ra cho quá
trình sản xuất. IC gồm chi phí vật chất thường xuyên cho quá trình sản xuất như
chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, động lực, chi phí cho các dịch vụ khác .
Giá trị gia tăng (hay giá trị tăng thêm) (VA); VA = GO-IC là kết quả cuối
cùng thu được của sản xuất sau khi đã trừ chi phí trung gian. Đây là một chỉ tiêu
quan trọng mà mọi cá nhân, tổ chức khi bước vào sản xuất kinh doanh đều quan
tâm vì chỉ tiêu này quyết định tính sống còn của doanh nghiệp .
*Hiệu quả:
13
-VA /GO: Tỷ số này cho biết khi thu được một đồng giá trị sản xuất thì cho
bao nhiêu đồng giá trị tăng thêm .
-VA/IC: Tỷ số này cho ta khi bỏ một đồng chi phí vào sản xuất, kinh
doanh thì thu được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Những kết quả đã đạt được trong nền kinh tế nông nghiệp Việt
Nam
Từ khi Đảng và nhà nước ta quyết định chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung sang nền kinh tế thị trường, đây là một chủ trương đúng đắn phù hợp với
quy luật khách quan của thời đại đã phát huy được mọi thành phần kinh tế tham
gia vào sản xuất, kinh doanh; đã thu được nhiều thành tựu to lớn đưa đất nước ta
thoát khỏi thời kỳ khủng hoảng, từ chổ thiếu lương thực đến nay nước ta không
những đã khắc phục được mà còn tích lũy và xuất khẩu đứng thứ 2 trên thế giới .
Trong tổng thể nền kinh tế quốc dân, lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông
thôn được đảng và nhà nước quan tâm, sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông
thôn liên tục được Đảng và Nhà nước xây dựng nhiều chương trình kế hoạch để
triển khai thực hiện tạo động lực cho nền nông nghiệp phát triển trong đó việc
Trong những năm qua, trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất nông
nghiệp từng bước được nâng lên theo hướng sử dụng giống mới, công nghệ sinh
học, phương thức canh tác tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản.
Tuy nhiên; trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn còn nhiều tồn tại, khó
khăn và nhiều vấn đề bức xúc cần tập trung giải quyết đó là: Cơ cấu sản xuất nông
nghiệp và kinh tế nông thôn ở một số nơi chuyển dịch chậm, công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn còn hạn chế chưa tương xứng với tiềm năng
thế mạnh và nguồn lực của nông thôn, ý thức về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng
chậm được đổi mới, việc quy hoạch phân vùng, định hướng phát triển thiếu tính
linh hoạt, tư tưởng trông chờ ỷ lại, tính trì trệ trong sản xuất độc canh, quản canh
còn nặng nề, lao động nông thôn phần lớn chủ yếu là thủ công. Năng suất chất
lượng và khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản còn thấp công nghiệp
bảo quản chế biến nông sản còn nhỏ bé lạc hậu về công nghệ, chủ yếu là sơ chế
15
nên giá trị gia tăng thấp, chưa gắn kết chặt chẻ vùng nguyên liệu với công nghiệp
chế biến.
1.2.2. Kết quả chuyến dịch cơ cấu cây trồng ở Quảng Nam
Quảng Nam là một Tỉnh nằm ở Trung trung bộ, có diện tích tự nhien và dân
số tương đối lớn , luôn bị thiên tai lụt bão xảy ra đất đai bị chia nhỏ manh mún bởi
hệ thống sông ngòi, đồi núi cách trở nên ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất
nông nghiệp. Với đặc thù đó,Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Ban hành nhiều chủ trương
chính sách để phát triển nông nghiệp nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, qui
hoạch vùng sản xuất hàng hóa, áp dụng các tiến bộ KHKT vào thâm canh sản xuất
cho giá trị kinh tế cao, xây dựng nhiều cơ chế chính sách để khuyến khích hộ nông
dân đầu tư phát triển kinh tế như Quyết định 30 của UBND Tỉnh về việc hỗ trợ lãi
suất vốn vay phát triển kinh tế vườn kinh tế, KTTT; Quyết định 19 về bê tông hóa
giao thông nông thôn và kiên cố hóa kênh mương nội đồng nên đã tạo điều kiện
cho hộ nông dân sản xuất. Nhìn chung trong thời gian qua cơ cấu mùa vụ cây trồng,
vật nuôi bước đầu chuyển dịch phù hợp đã chuyển đổi thành công sản xuất lúa từ 3
vụ bấp bênh sang 2 vụ ăn chắt, chuyển đổi một số diện tích lúa không chủ động
xây dựng kế hoạch giao chỉ tiêu gieo sạ lúa lai lúa kỹ thuật đến các xã thị trấn;
thực hiện cơ chế trợ giá cho nông dân trong 5 năm qua đã đầu tư 848.734000đ để
trợ giống lúa lai lúa kỹ thuật. Xây dựng Đề án phát triển KTV,KTTT giai đoạn
2002-2007 và đề án chăn nuôi giai đoạn 2003 - 2010 đã khẳng định được hai mũi
nhọn trong sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh chương trình khuyến nông, khuyến
lâm, chuyển giao tiến bộ KHKT đến người sản xuất thông qua các hình thức tuyên
truyền, đối thoại, tập huấn, hội thảo, mô hình trình diễn kỹ thuật…bằng những chủ
trương cụ thể, biện pháp đồng bộ đã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển
dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; chiểm 95% diện tích trồng lúa lai, lúa kỷ thuật kết
hợp với các biện pháp thâm canh làm cho năng suất tăng từ 28 tạ /ha / vụ năm
2000 lên 44 ta/ha năm 2005 đạt tổng sản lượng lương thực bình quân 15788 tấn/
năm, gía trị sản xuất nông nghiệp đạt 601846 triệu đồng tăng bình quân hằng năm
4,34 %. Thực hiện bằng nhiều biện pháp tích cực như giao đất, Chính quyền và
các tổ chức đoàn thể tín chấp, bảo lãnh vây vốn tạo điệu kiện thuận lợi để nông
17
dân tổ chức sản xuất. Phong trào trồng rừng, trồng cây nguyên liệu phát triển khá
mạnh, trong 5 năm qua trồng mới 2255 ha rừng. Công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi
trường sinh thái được thực hiện khá tốt.
*Tóm lại: Trong thời gian qua kinh tế nông nghiệp của huyện có nhiều
chuyển biến tích cực nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách sâu sát của huyện ủy,
HDND, UBND Huyện, sự phối hợp một cách đồng bộ của các ban ngành đoàn
thể. Tuy vậy, việc chuyển dịch kinh tế nông nghiệp, nông thôn còn chậm, công tác
chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn nhiều lúng túng, việc quy hoạch phân vùng, bố trí
giống cây trồng chưa được thực hiện một cách cụ thể đã ảnh hưởng đến quá trình
sản xuất nông nghiệp của huyện.
18
CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI CỦA XÃ TIÊN CẢNH
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
2.1.1.Vị trí địa lý
19
Từ những yếu tố đó cho thấy cây trồng thuộc nhóm nhiệt đới rất thích nghi
với địa bàn của xã mà trong đó là những cây công nghiệp như quế, tiêu, dó…
2.2.1.2. Lượng mưa hằng năm
Lương mưa bình quân từ 2200 đến 2600 mm/ năm số ngày mưa từ 120 -
140 ngày/năm; lượng mưa cao nhất trong những năm qua là 3450 mm và lượng
mưa thấp nhất ở khoản 800 mm. Lượng mưa được phân bổ ở 2 mùa rõ rệt, mùa
nắng từ tháng 2 đến tháng 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau. Vận
dụng quy luật của nắng, mưa hằng năm giúp cho nông dân bố trí việc trồng trọt
một cách hợp lý.
2.2.1.3. Độ ẩm
Trung bình hằng năm vào khoản từ 70 đến 85 %, lượng bốc hơi nước bình
quân hằng năm là 800 - 1000 mm, năm cao nhất là 1017mm, thấp nhất là 456 mm,
lượng bốc hơi cao nhất vào thời điểm từ tháng 6 đến tháng 8, lượng bốc hơi thấp
nhất từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau.
2.2.1.4. Gió, nguồn nước thủy văn
Tiên Cảnh nằm ở khu vực duyên hải miền trung, là nơi thường xuyên xảy
ra lụt bão và chịu tác động của các đợt áp thấp và gió mùa Đông bắc nên ảnh
hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất đặc biệt là sự tác động đến cây trồng do hậu
quả của gió bão gây ra tại địa phương có 2 hướng gió thịnh hành trong năm là gió
đông nam và gió đông bắc, gió đông nam từ tháng 3 đến tháng 8, gió đông bắc từ
tháng 10 đến tháng 1 năm sau; trong thời gian từ tháng 10 đến tháng 12, bão và áp
thấp nhiệt đới kết hợp với các trận mưa lớn gây ra lụt bão làm ảnh hưởng đến quá
trình sản xuất của nhân dân .
* Hệ thống thủy văn nguồn nước: Sông suối trên địa bàn của xã được hình
thành bởi đại hình đồi núi nên thường ngắn, độ dốc cao nhiều thác ghềnh và nông
cạn, lưu lượng dòng chảy thất thường theo mùa, mùa khô cạn kiệt nhưng mùa mưa
gây lũ và xói lỡ mạnh. Trên địa bàn xã có 2 sông chính là sông Tiên và sông Đá
Giăng, mùa nắng nước cạn kiệt, lộ lên nhiều ghềnh đá, mùa mưa nước chảy xiết
rất nguy hiểm cho việc đi lại. Sông Tiên có chiều dài 4,3 km chảy qua giữa xã
0
, thung
lũng của đồi núi thường hẹp và sâu. Dạng địa hình này chiếm trên 60% diện tích
tự nhiên của xã chủ yếu phân bổ ở các rừng tự nhiên, phần còn lại là đồi núi hoang
và núi đá.
*Địa hình gò đồi: Phân bổ tại các khu vực chuyển tiếp với địa hình đồi núi
với các đồi gò thoải và bát úp, mức độ chia cắt trung bình, có độ cao từ 100 -180
21
m so với mặt nước biển, dạng địa hình này chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự
nhiên với thảm thực vật chủ yếu là cây bụi.
*Địa hình bậc thang: Do cấu tạo phức tạp của vùng núi, gò đồi nên hình
thành những vùng bậc thang nối tiếp nhưng lại phân tán nhỏ không liên hoàn và rãi
rác chạy dọc từ tây nam sang nam bắc.
2.2.2.2. Thổ nhưỡng:
Phần lớn đất đai ở địa phương chủ yếu là đất Pra nit kết hợp với sét nặng
chiếm trên 80 %, phần còn lại là phù sa và đất bồi ven sông được cơ cấu như sau:
-Đất đỏ vàng: Được phân bổ khắp ở các thôn trong xã phản ảnh tính chất
thổ nhưỡng của miền nhiệt đới ẩm, đất có màu sắc chủ yếu là đỏ vàng nên thuộc
nhóm đất chua, nghèo độ kiềm . nhóm này có các loại sau:
+Đất đỏ vàng trên đá mắc ma ( Fa): Chiếm diện tích 3038 ha, tỷ lệ 81, 84%
diện tích tự nhiên; phân bổ chủ yếu ở các vùng đồi núi, thành phần cơ giới thường
là thịt nhẹ và thịt trung bình, có độ tầng rất mỏng, loại đất này chủ yếu sử dụng
vào việc trồng cây lâm nghiệp, ở một số điạ bàn thấp có thể cải tạo để hình thành
vườn rừng, vườn đồi để trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây nguyên
liệu.
+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fs): Chiếm diện tích 187 ha, tỷ lệ 5,04 %
tổng diện tích tự nhiên, phân bổ chủ yếu ở phía tây nam của xã ( thôn 1), đây là đất
có khả năng trồng cây lâm nghiệp và phát triển kinh tế vườn đồi .
+ Đất đỏ vàng do trồng lúa nước ( Fl): Diện tích 82 ha chiếm 2,20 % tổng
diện tích tự nhiên phân bổ ở Thôn 4, Thôn 5 và Thôn 7, loại đất này có khả năng
(%)
DT
(ha)
Tỷ lệ
(%)
DT
(ha)
Tỷ lệ
(%)
+/- %
DT đất tự nhiên 3712 3712 3712 100
I Đất cây nông nghiệp 812,4 21,7 804,5 21,7 803,3 21,6 -9,1 98,9
1 Đất canh tác 605,6 16,3 621,2 16,7 635,0 17,1 29,8 104,8
2.Đất vườn tạp 206 5,5 182 4,9 167 4,5 -39 81,1
3.Đất có mặt nước nuôi
trồng thủy sản 0,8 0,02 0,8 0,02 0,9 0,02 0,1 11
II.Đất lâm nghiệp 1.062 28,6 1073 29 1.081 29,12 19 101,8
III.Đất chuyên dùng 57,3 1,54 58,4 1,6 60,42 1,62 3,1 105,4
IV. Đất ở 423,5 11,4 492,5 13,3 501,2 13,5 77,7 118,4
V. Đất chưa sử dụng 1.355,2 36,50 1.284,1 34,59 1.266 34,1 -89,5 93,4
(Nguồn:UBND xã Tiên Cảnh)
Qua số liệu ở bảng 1 cho ta thấy việc sử dụng đất ở địa phương còn một số
vấn đề cần quan tâm đó là: Chưa khai thác triệt để hiệu quả sử dung đất, tình
trạng vườn tạp, hoang hóa còn nhiều, việc bố trí cây trồng ở một số diện tích chưa
phù hợp để phát huy tiềm năng của đất, diện tích đất trống đồi núi trọt chưa được
23
sử dụng một cách hợp lý nhất là một số diện tích thuộc dự án 327, 4304 chưa được
thực hiện đảm bảo theo quy trình. Trong khi đó với điều kiện thổ nhưỡng, điều
kiện tự nhiên rất rất phù hợp với việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày, cây
ăn quả trong đó cây quế, cây tiêu, cây dó, cây boòn boon, cây thanh trà rất thích
Hộ 1.901 95 1.898 94,6 1.902 94,2 1 100,05
24
2. Hộ Phi nông nghiệp
Hộ 101 5 109 5,4 118 5,8 17 116,3
II. Tổng số khẩu
Khẩu 9.932 9.994 10.073 141 101,4
1. Khẩu nông nghiệp
Khẩu 9.495 95,6 9.884 94,9 9.519 94,5 24 100,25
2. Khẩu phi nông nghiệp
Khẩu 437 4,4 510 5,1 554 5,5 17 116,83
III. Tổng lao động
LĐ
5067 5101 5212 145 102,86
1. Lao động nông nghiệp
LĐ 4849 95,7 4820 94,5 49,15 94,3 66 101,4
2. Lao động phi nông nghiệp
LĐ
218 4,3 281 5,5 297 5,7 79 136,23
IV. BQ khẩu/hộ
4,96 4,97 4,98 0,02 100,4
V. BQLĐ/hộ
2,53 2,54 2,58 0,05 101,9
(Nguồn Phòng thống kê huyện Tiên Phước)
Qua số liệu tại bảng 2 ta thấy năm 2006 Tiên Cảnh có 2020 hộ với 10.073
khẩu, là xã có dân số đông nhất của huyện và có nguồn lao động dồi dào, đáp ứng
cho việc thực hiện kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng; tỷ lệ phát triển dân số từ
năm 2004 đến năm 2006 bình quân là 0,7 %/ năm. Điều này cho ta thấy việc thực
hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, nhằm xây dựng mô hình gia đình ít
con để nuôi dạy cho tốt; đảm bảo gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
mà Nghị quyết 46 của Bộ chính trị đã đề ra; góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng