VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG TUẤN ANH
CÁC TỘI PHẠM VỀ MẠI DÂM
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TUNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯƠNG TUẤN ANH
CÁC TỘI PHẠM VỀ MẠI DÂM
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tung hình sự
Mã số: 8 38 01 04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN VĂN ĐỘ
HÀ NỘI, 2019
3.2. Các giải pháp bảo đảm xét xử các tội phạm về mại dâm..................... 64
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
TNHS
Trách nhiện hình sự
VNĐ
Việt nam đồng
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Số vụ án và số bị cáo xét xử sơ thẩm tội phạm về mại dâm tại
Hà Nội (2014-2018) ................................................................................. 53
Bảng 3.2 Kết quả xét xử tội chứa mại dâm trên địa bàn thành phố Hà Nội
trong thời gian (2014-2018) ..................................................................... 55
Bảng 3.3 Kết quả xét xử tội môi giới mại dâm trên địa bàn thành phố Hà
1
nhiều hình thức hoạt động mại dâm mới: Gái gọi, du lịch tình dục, người
nước ngoài bán dâm, mại dâm nam, mại dâm đồng tính, người chuyển giới
bán dâm, môi giới mại dâm thông qua mạng internet, facebook, Zalo…
Tình trạng hoạt động mại dâm ngày càng tinh vi phức tạp, đối tượng mua
dâm thuộc nhiều lứa tuổi, thành phần khác nhau.
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách, cũng như hệ thống pháp luật để phòng ngừa và đấu tranh với tệ
nạn này. Bộ luật hình sự năm 2015 ra đời trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện
các tội phạm về mại dâm, là công cụ góp phần đẩy lùi hiện tượng mại dâm,
nhưng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế.
Trước thực tế đó, vấn đề đặt ra là phải có một hệ thống pháp luật
nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận về tội phạm
mại dâm, phân tích các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm này,
đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật để có các giải pháp
hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm mại dâm trong bối cảnh của
đất nước.
Xuất phát từ những thực trạng trên, tác giả nhận thấy việc chọn Đề tài:
“Các tội phạm về mại dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
thành phố Hà Nội ” làm luận văn thạc sỹ là hết sức cần thiết, việc nghiên
cứu thành công Đề tài có ý nghĩa quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các tội phạm về mại dâm là đề tài được các nhà hình sự học trên thế
giới và trong nước quan tâm và nghiên cứu. Đặc biệt trong thời gian qua,
trong nước đã có những công trình nghiên cứu ở mức độ khác nhau. Đó là
- Luận án Tiến sĩ Luật học “Tệ nạn mại dâm - Thực trạng và các giải pháp
nâng cao hiệu quả phòng ngừa” của Trần Hải Âu năm 2004. Tác giả đã đề
cập những vấn đề lý luận chung về phòng ngừa tệ nạn mại dâm, quan điểm
Ngoài ra còn một số các bài báo, tạp chí như “Thực tiễn áp dụng các quy
3
định của Bộ luật hình sự về tội phạm liên quan đến mại dâm và những vấn
đề hoàn thiện” (Tạp chí Tòa án nhân dân số 24/2007, Đỗ Đức Hồng Hà);
“Tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm: Lý luận và thực tiễn” (Tạp chí
nghiên cứu lập pháp số 22/2010) [10];
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu nêu trên hầu hết là dưới góc độ
điều tra tội phạm học hoặc phân tích từng tội phạm cụ thể riêng rẽ trên một
số các vụ án thực tế điển hình mà chưa có một công trình khoa học nào cấp
luận văn thạc sỹ giải quyết một cách tổng thể các vấn đề về các tội phạm
về mại dâm, đồng thời tổng kết thực tiễn xét xử qua đó đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật. Do vậy, việc nghiên cứu một cách tổng
quát về các tội phạm về mại dâm trong giai đoạn hiện nay là một công việc
cần thiết và có ý nghĩa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề tài trên cơ sở nhận thức toàn diện, có hệ thống về các tội phạm
mại dâm và đánh giá thực tiền áp dụng, đề xuất những kiến nghị cho việc
hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp
dụng quy định về tội phạm mại dâm trong thực tiễn.
- Để đạt được những mục đích trên,luận văn cần giải quyết những
nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu lý luận về các tội phạm về mại dâm như khái niệm, ý
nghĩa của việc quy định các tội phạm mại dâm.
+ Phân tích các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội
phạm về mại dâm.
+ Đánh giá thực tiễn xét xử loại tội này tại các Tòa án nhân dân Hà
Nội.
chống các tội phạm về mại dâm, góp phần xây dựng nhận thức đầy đủ và
đúng đắn về chế định các tội phạm về mại dâm, góp phần đổi mới nội dung
5
và phương pháp đấu tranh phòng, chống các tội phạm này trong tình hình
mới.
Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong công
tác nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm có ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận các tội phạm về mại dâm
Chương 2: Thực trạng pháp luật quy định các tội phạm về mại dâm
Chương 3: Thực tiễn xét xử các tội phạm về mại dâm ở Hà Nội và
các giải pháp bảo đảm xét xử các tội phạm về mại dâm
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CÁC TỘI PHẠM VỀ MẠI DÂM
1.1. Khái niệm tội phạm về mại dâm
1.1.1. Khái niệm mại dâm
Mại dâm là một tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng tiêu cực đến lối sống,
đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Bên cạnh đó, nó còn là biểu
hiện của một xã hội rối loạn kỷ cương, hệ thống pháp luật chưa hoàn
thiện, và là nguyên nhân lây lan các căn bệnh nguy hiểm khác, các tệ nạn
xã hội khác làm suy đồi sự phát triển của loài người. Tuy nhiên, nó lại đã
và đang tồn tại trong các thời kỳ lịch sử của hầu hết các Nhà nước và xã
người mua dâm- người cần được đáp ứng nhu cầu tình dục (thường là nam
giới) trả hoặc hứa trả một giá trị vật chất nhất định như tiền, đồ trang sức
hoặc các vật có giá trị khác…
Thứ ba, hành vi trao đổi tình dục đó xảy ra ngoài phạm vi hôn nhân.
Như vậy, theo tác giả Phạm Duy Quang, thì hành vi mại dâm bắt
buộc phải xảy ra giữa những người không có quan hệ hôn nhân (giữa vợ
và chồng), và mục đích của người bán dâm hướng đến phải là tiền hoặc
giá trị vật chất nào đó. Nếu mục đích không phải là giá trị vật chất mà do
nhu cầu, sở thích…thì chỉ được coi là hành vi thông dâm.
Trong quá trình nghiên cứu các lĩnh vực phòng ngừa tệ nạn mại dâm,
đấu tranh với tội phạm về mại dâm, các nhà khoa học, nhà hoạt động thực
tiễn đã đưa ra khái niệm mại dâm, nhưng các khái niệm đó còn có những
điểm khác nhau, thiếu thống nhất. Nghiên cứu các văn bản pháp luật
chúng tôi nhận thấy, tuy chưa có khái niệm cụ thể về mại dâm, nhưng
Pháp lệnh Phòng chống mại dâm số 10/2003/PL UBTVQH11 ngày 17
tháng 3 năm 2003 có những quy định liên quan đến mại dâm. Cụ thể:
– Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm (khoản 3 Điều 3).
8
+ Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác
trả cho người bán dâm để được giao cấu (khoản 2 Điều 3).
+ Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để
được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác (khoản 1 Điều 3) [25]. Như vậy,
mua dâm hoặc bán dâm đều là mại dâm. Hành vi mua dâm là nhằm thỏa
mãn nhu cầu tình dục còn hành vi bán dâm nhằm thỏa mãn nhu cầu vật
chất. Sẽ không phải là mại dâm nếu hai người giao cấu với nhau chỉ nhằm
thỏa mãn nhu cầu tình dục. Do đó, có thể nói, mua dâm và bán dâm là hai
mặt của mại dâm.
phạm đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh xã hội
chủ nghĩa, đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người, ảnh hưởng đến
an ninh trật tự [2]. Tương tự như trên, theo PGS.TS Nguyễn Huy Thuật:
Tội phạm mại dâm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội liên quan đến
mua bán tình dục, được quy định trong Bộ luật hình sự do người có năng
lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm hại đến trật tự công
cộng, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, đến sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm con người, ảnh hưởng đến an ninh xã hội [33, tr.
409].
Theo tác giả Nguyễn Hoàng Minh:
Tội phạm mại dâm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội trong hoạt
động mua bán tình dục được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có
năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm tới trật
tự công cộng, an toàn công cộng, đến nếp sống văn minh, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm con người, cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật
hình sự [14, tr. 33].
Chúng tôi đồng ý với các quan điểm trên khi nói tội phạm về mại
dâm là hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc lĩnh vực mua bán tình dục do
10
người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý. Tuy
nhiên qua nghiên cứu cụ thể cho thấy tội phạm về mại dâm bao gồm nhiều
hành vi khác nhau nên không thể dùng "tội phạm mại dâm" mà phải dùng
"tội phạm về mại dâm" mới bao hàm hết hành vi thuộc nhóm tội này, vì
vậy để chính xác về thuật ngữ chúng tôi hoàn toàn đồng ý như tác giả
Nguyễn Hoàng Minh đã sử dụng cụm từ "tội phạm về mại dâm".
Từ những phân tích trên, khái niệm tội phạm về mại dâm theo chúng
tôi được hiểu như sau: “Tội phạm về mại dâm là những hành vi nguy hiểm
các chuẩn mực đạo đức xã hội của pháp luật. Pháp luật và đạo đức luôn có
mối quan hệ gắn bó mật thiết và biện chứng, không thể tách rời. Trong
những giới hạn nhất định, pháp luật là sự thể hiện của các chuẩn mực đạo
đức, chỉ khi tôn trọng chuẩn mực đạo đức thì pháp luật nói chung và pháp
luật hình sự nói riêng mới gần gũi với đời sống nhân dân, bộc lộ được
hiệu quả áp dụng trong thực tiễn của mình và khiến cho người dân nghiêm
minh chấp hành pháp luật. Bên cạnh đó, mại dâm là một hiện tượng phi
đạo đức, trái với nếp sống lành mạnh và luôn luôn không được thừa nhận
trong xã hội Việt Nam, bị xã hội “ruồng bỏ”, vì vậy, việc pháp luật hình
sự điều chỉnh về hiện tượng này là điều tất yếu và phù hợp với đạo đức xã
hội.
Thứ hai, việc quy định về các tội phạm mại dâm là sự cụ thể hóa
nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp- đạo luật cao nhất của nước Việt Nam và
nhiệm vụ của Bộ luật hình sự 2015. Trong Hiến pháp 2013 đã xác định về
quyền con người là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo đảm thực
hiện: “ Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con
người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được
công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” [20].
Điều này được cụ thể hóa trong nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự như sau:
“Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm
12
chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức,
bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội;
đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm” [19]. Hiến pháp và pháp luật suy cho cùng cũng
là sự thể hiện ý chí của con người, do đó quyền con người luôn được coi
phúc gia đình. Điều đó là do không có cơ sở pháp luật nào để xử lý những
hành vi phạm tội như vậy. Chính vì vậy, việc quy định các tội phạm về
mại dâm là nguy hiểm cho xã hội và phải được trừng trị nghiêm minh của
pháp luật, dưới sự bảo đảm thực thi của nhà nước là nền tảng pháp lý
vững chắc để đấu tranh và phòng chống nan mại dâm.
Thứ năm, quy định về các tội phạm mại dâm, đặc biệt khi người
bán dâm là người dưới 18 tuổi, thể hiện sự bảo vệ của pháp luật đối với
đối tượng là người dưới 18 tuổi. Người chưa thành niên là đối tượng mà
tâm sinh lý vẫn còn non nớt và chưa nhận thức được đầy đủ hành vi của
mình thực hiện. Ngoài ra, người dưới 18 tuổi là đối tượng dễ bị dụ dỗ, lôi
kéo vào con đường phạm tội nên dù người bán dâm có tự nguyện nhưng
nếu đã là người dưới 18 tuổi thì đối tượng mua dâm cũng đều có hành vi
phạm tội. Vì thế, pháp luật quy định như vậy nhằm bảo vệ tốt nhất quyền
và lợi ích, cũng như nhằm tạo môi trường sinh sống lành mạnh cho sự
phát triển của đối tượng đặc biệt này.
1.2. Các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về mại dâm
Khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS 2015 theo đó,
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật
hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân
thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,
chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,
14
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý
hình sự”[21].
thực hiện tội phạm (công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa
điểm…)
Hành vi khách quan: Điều 427 BLHS 2015 chỉ nêu tội danh chứa mại dâm
mà không mô tả về các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm này, do
đó tại khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh phòng chống mại dâm quy định: Hành vi
chứa mại dâm “là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn
địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm”. Điều này
được hướng dẫn chi tiết hơn tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 178/2004/NĐCP: “Cho thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện để hoạt động mại dâm”
quy đinh tại khoản 4 Điều 3 của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm là hành
vi của tổ chức, cá nhân có quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng hoặc định
đoạt tài sản mà cho thuê, cho mượn để hoạt động mại dâm” [8].
Theo quy định tại mục 1 phần II Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP
ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng
một số quy định của BLHS thì: “Trong trường hợp chủ hoặc người quản
lý khách sạn, nhà trọ... gọi gái mại dâm đến cho khách để họ mua bán
dâm ngay tại khách sạn, nhà trọ... thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc
quản lý của người gọi gái mại dâm thì người đó chỉ phải chịu TNHS về
“tội chứa mại dâm”. Trong trường hợp chủ hoặc người quản lý khách
sạn, nhà trọ... vừa gọi gái mại dâm đến cho khách để họ mua bán dâm
ngay tại khách sạn, nhà trọ... thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản
lý của người gọi gái mại dâm vừa còn gọi gái mại dâm khác cho khách
mua dâm khác để họ thực hiện việc mua bán dâm tại nơi khác thì người
đó phải chịu TNHS về “tội chứa mại dâm” và “tội môi giới mại dâm”[13]
16
Khi xác định hành vi chứa mại dâm, cần lưu ý những điều sau:
Chứa mại dâm là việc mua bán dâm, tức là phải có cả người mua lẫn
người bán và hai người phải thực hiện hành vi giao cấu, bởi vì bán dâm là
phải bị truy cứu TNHS theo các khung hình phạt nặng hơn của điều luật
này.
1.2.1.3. Mặt chủ quan của tội chứa mại dâm
Bao gồm các yếu tố: Lỗi, mục đích, động cơ phạm tội.
Lỗi: Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm
cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu
hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [24, tr.136]. Hành vi chứa mại dâm
được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội đã biết rõ việc
sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện là
nhằm thực hiện hành vi mua bán dâm. Người phạm tội cũng nhận thức rõ
hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công
cộng được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi.
Nếu người cho thuê, cho mượn địa điểm không hề biết mục đích của
người thuê, mượn địa điểm là để thực hiện hành vi mua bán dâm thì
không bị truy cứu TNHS về tội chứa mại dâm.
Động cơ và mục đích phạm tội: Đây không phải là dấu hiệu định tội
bắt buộc, nhưng khi quyết định hình phạt và xem xét tính chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi thì những yếu tố này là cần thiết. Động cơ của
người phạm tội chứa mại dâm chủ yếu là do tư lợi, muốn kiếm được nhiều
tiền hoặc giá trị vật chất khác, ngoài ra cũng có thể là các động cơ cá nhân
khác như làm vui lòng bạn bè, lấy lòng sếp, hay cũng chỉ để thỏa mãn thú
vui bệnh hoạn của mình…
1.2.1.4. Chủ thể của tội chứa mại dâm
18
Chủ thể của tội phạm là người không ở trong tình trạng không có
năng lực TNHS khi phạm tội, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi
phạm tội chứa mại dâm. Để xác định một người có đủ điều kiện về chủ