Tội hiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiến thành phố Hà Nội (tt) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

K

NGUYỄN THỊ NGỌC LINH

TỘI HIẾP DÂM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIẾN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TRUNG THÀNH

Phản biện 1:
Phản biện 2:

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học xã hội

pháp trên địa bàn thành phố Hà Nội quan tâm và đạt được những kết
quả nhất định, song vẫn không tránh khỏi những khó khăn khi áp
dụng pháp luật xử lý tội phạm này. Việc khởi tố, điều tra, truy tố và
xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn hạn chế, thiếu sót,
ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung,
tội hiếp dâm nói riêng. Nguyên nhân của những hạn chế thiếu sót này
có cả nguyên nhân xuất phát từ quy định của pháp luật, có cả nguyên

1


nhân từ thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý tội phạm. Thực trạng này
đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu để có giải pháp hoàn thiện pháp luận
và đảm bảo áp dụng đúng dắn pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử
tội phạm này, đám ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm nói
chung, tội hiếp dâm nói riêng, nhất là sau khi BLHS năm 2015 (sửa
đổi bổ sung năm 2017) có hiệu lực thi hành. Với lý do trên, tác giả
lựa chọn đề tài: “Tội hiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ
thực tiến thành phố Hà Nội” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp
với mong muốn được góp phần hoàn thiện những quy định của pháp
luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đấu tranh phòng
chống loại tội phạm này trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội hiếp dâm là tội được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở
nhiều cấp độ khác nhau vì đây là tội gây nguy hại cao cho xã hội, nó
xâm hại trực tiếp đến quyền con người là khách thể được pháp luật
hình sự đặc biệt bảo vệ. Vì vậy cho tới nay đã có nhiều công trình
khoa học đã được công bố về chủ đề này .Ở cấp độ luận văn thì có:
“Các tội phạm tình dục và đấu tranh chống các tội này ở Việt Nam”
Trịnh Thị Thu Hương, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội – 2004;

hình sự hiện hành của Việt Nam; đánh giá thực tiễn áp dụng các quy
định về tội hiếp dâm, chỉ ra những tồn tại, hạn chế thiếu sót xung
quanh việc áp dụng pháp luật và những nguyên nhân hạn chế của nó.
Thứ ba: Đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định về tội
hiếp dâm trong Bộ luật hình sự năm 2015 cũng như những giải pháp
để nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn xét xử tội phạm này.

3


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề về lý luận qui định của pháp luật về tội hiếp
dâm và thực tiễn áp dung trong điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu tội hiếp dâm theo quy định tại Điều
111 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) và
thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong phạm vi
chuyên nghành Luật hình sự. Các số liệu nghiên cứu được dùng trong
luận văn chủ yếu là các số liệu thống kê tại Công An, Tòa án nhân
dân và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trong thời gian 5
năm từ năm 2011 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp của
triết học Mác – Lê nin; các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
tội phạm và hình phạt, các tri thức của khoa học luật hình sự, tội
phạm học, tâm lý học và khoa học điều tra tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH
SỰ VỀ TỘI HIẾP DÂM
1.1 Những vấn đề lý luận về tội hiếp dâm
1.1.1 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm
1.1.1.1. Khái niệm
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì: “Hiếp dâm là dùng sức mạnh
buộc phụ nữ cho thỏa mãn dâm dục”. Theo từ điển bách khoa Công an
nhân Việt Nam thì hành vi hiếp dâm được hiểu là: “ Dùng sức mạnh
cưỡng bức người khác để thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình”.
1.1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm
Xét về mặt cấu trúc, tội hiếp dâm được cấu thành bởi bốn yếu
tố, đó là: mặt khách quan, khách thể, mặt chủ quan, chủ thể. Nghiên
cứu bốn yếu tố này của tội hiếp dâm giúp làm sáng tỏ bản chất pháp
lý của loại tội này, cho phép xác định tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời cho phép phân biệt giữa
tội phạm này và tội phạm khác. Từ đó làm cơ sở pháp lý cho việc
định tội và truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như làm tiền đề cho
việc áp dụng hình phạt.
* Khách thể của tội phạm
Trong tội hiếp dâm được quy định tại Điều 11 BLHS thì đối
tượng tác động của tội phạm chính là con người. Mặc dù, BLHS
không quy định cụ thể về giới tính của đối tượng bị xâm hại nhưng
theo định kiến cho rằng: trong hành vi giao cấu giữa nam với nữ với
vai trò chủ động và chi phối thuộc về nam giới với cấu tạo sinh học
riêng mới có thể thực hiện được hành vi giao cấu với nữ giới mà

6




* Mặt chủ quan của tội phạm
Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, do vậy có sự
thống nhất giữa mặt bên trong và mặt bên ngoài. Hoạt động phạm tội
là một dạng hoạt động có ý thức nên tội phạm cũng bao gồm mặt bên
trong và mặt bên ngoài. Hai mặt này luôn thống nhất với nhau. Mặt
bên trong của tội phạm không thể thấy được nếu nó không thể hiện ra
bên ngoài bằng hành vi nguy hiểm cho xã hội, bằng hậu quả tác hại,
bằng thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện, công cụ thực
hiện tội phạm. Mặt bên trong của tội phạm là trạng thái tâm lý, ý thức
của người phạm tội, bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm.
1.1.2 Phân biệt tội hiếp dâm với các tội xâm phạm tình dục khác
1.1.2.1 Phân biệt tội hiếp dâm với tội cưỡng dâm
Trong các tội danh được áp dụng cho loại tội phạm này, tội
hiếp dâm và cưỡng dâm khiến nhiều người khó hiểu về hành vi để
phân biệt. Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 111 BLHS, tội cưỡng
dâm được quy định tại Điều 113 BLHS.
So với tội cưỡng dâm, hành vi khách quan của tội hiếp dâm
nguy hiểm hơn so với hành vi khách quan của tội cưỡng dâm. Tuy
đều là lỗi cố ý trực tiếp nhưng hành vi của tội hiếp dâm mãnh liệt hơn
so với tội cưỡng dâm, ngoài việc xâm phạm về tình dục, hành vi hiếp
dâm là hai năm tù, cao hơn so với tội cưỡng dâm là sáng tháng tù.
1.1.2.2 Phân biệt tội hiếp dâm với tội dâm ô với trẻ em và tội giao
cấu với trẻ em
1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự quy định về tội hiếp dâm
đến trước khi ban hành BLHS năm 1999
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước 1985

8




kỳ trước đó là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn
hành, thì việc pháp điển hóa về hình sự lần này đánh dấu bước tiến bộ
vượt bậc về kỹ thuật lập pháp ở nước ta. Tội hiếp dâm đã được quy định
tương đối rõ ràng, đầy đủ tại Điều 112 BLHS năm 1985
Có thể nói BLHS năm 1985 là một bước ngoặt đáng kể trong
lịch sử lập pháp nước ta. Với BLHS năm 1985 lần đầu tiên kể từ khi
tuyên ngôn độc lập, nước ta có một văn bản pháp luật hình sự thống
nhất, không nằm rải rác trong nhiều văn bản như trước đây nữa. Qua
các lần sửa đổi bổ sung, các quy định về tội hiếp dâm ngày càng
được pháp luật quan tâm nhất là đối với đối tượng nạn nhân là trẻ em.
Về hình thức so với trước đó, tội hiếp dâm đã được tách ra thành hai
tội: tội hiếp dâm và tội hiếp dâm trẻ em. Cụ thể hóa hơn cách phân
loại tội phạm. Về mặt nội dung, thể hiện rõ ràng hơn cấu thành tội
phạm của tội xâm hại đến tình dục mà đối tượng bị xâm hại là trẻ em.

10


Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI HIẾP DÂM VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Quy định pháp luật hình sự hiện hành về tội hiếp dâm
2.1.1 Mặt tích cực của pháp luật hình sự hiện hành về tội hiếp dâm
BLHS năm 1999 được Quốc hội Khóa X thông qua tại Kỳ họp
thứ 6 ngày 21/12/1999 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2000 thay thế
BLHS năm 1985. BLHS năm 1999 được xây dựng dựa trên cơ sở sửa
đổi, bổ sung tương đối toàn diện BLHS năm 1985 nhưng có kế thừa
những nội dung hợp lý, tích cực của Bộ luật này qua bốn lần sửa đổi

Ý kiến thứ nhất: không cần phức tạp hóa vấn đề này mà nên
quy về yếu tố cơ bản nhất của tội phạm. Trước hết, tội hiếp dâm có
cấu thành hình thức, tức chỉ cần dùng vũ lực xé quần áo với ý định ép
người khác quan hệ tình dục trái ý muốn nhưng bị ngăn chặn kịp thời
cũng đã phạm tội rồi.
Ý kiến thứ hai: nạn nhân của tội hiếp dâm không nhất thiết
phải là nữ. Điều 111 BLHS năm 1999 về tội hiếp dâm quy định
“dùng vũ lực giao cấu với người khác trái ý muốn” tức xâm phạm
đến quyền tự do tình dục của người khác là phạm tội hiếp dâm.
Chúng ta nên hiểu “người khác” ở đây không hẳn bắt buộc là phụ nữ
mà có thể là người chuyển đổi giới tính. Hiện ngoài những bình luận
khoa học thì chưa có một văn bản pháp quy chính thức nào giải thích
cặn kẽ những trường hợp tương tự nhưng thực thế chúng ta phải vận
dụng sáng tạo sao cho hợp lý nhất.
Ý kiến thứ ba: theo nguyên tắc và cách hiểu thông thường hiện
nay thì nạn nhân trong các vụ án hiếp dâm phải là phụ nữ. Khách thể

12


bị xâm hại trong một vụ án hiếp dâm là quyền tự do bất khả xâm
phạm về tình dục đối với phụ nữ.
Thứ ba, vấn đề xác định tình tiết phạm tội nhiều lần
Theo quan điểm của tác giả, phạm tội nhiều lần là người phạm
tội đã thực hiện hành vi hiếp dâm từ hai lần trở lên, trong đó mỗi lần
đều thỏa mãn cấu thành tội phạm và chưa bao giờ bị đưa ra xét xử.
Còn trường hợp người phạm tội trong một lần đã dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân
hoặc thủ đoạn khác giao cấu nhiều lần trái ý muốn của nạn nhân (thời
gian các lần giao cấu là ngay sát nhau) thì không áp dụng tình tiết

thể từ 31% đến 60%.
+ Thêm trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù
chung thân là trường hợp gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe
hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn
thương cơ thể 61% trở lên
2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự hiện
hành về tội hiếp dâm tại thành phố Hà Nội.
Áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự về tội hiếp dâm là
một quá trình phức tạp được tiến hành qua những giai đoạn nhất định
và bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Nhưng trong khuôn khổ của
một luận văn thạc sĩ, người nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá hai
hoạt động cơ bản đó là hoạt động định tội danh và quyết định hình
phạt đối với tội hiếp dâm.
Định tội danh và quyết định hình phạt trong giai đoạn xét xử là
hoạt động của Tòa án với tư cách là cơ quan duy nhất có thẩm quyền
xét xử để chuyển hóa quy định về tội phạm và hình phạt của BLHS
vào thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm. Điều này cho thấy,

14


định tội danh và quyết định hình phạt mang bản chất là hoạt động áp
dụng pháp luật hình sự
2.3.1 Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với
tội hiếp dâm trên địa bàn thành phố Hà Nội
Theo thống kê của TAND thành phố Hà Nội thấy rằng, trong 5
năm (2012 – 2016) các Tòa án quận, huyện và thành phố Hà Nội đã
giải quyết theo trình tự sơ thẩm 52 vụ với 83 bị cáo về tội hiếp dâm
trong tổng số 61 vụ với 96 bị cáo đã thụ lý để giải quyết, đạt tỷ lệ
85,24% về số vụ và 86,45% về số bị cáo. Như vậy, tính trung bình

tội phạm này trên địa bàn thành phố.
Tuy nhiên, không thể dừng lại một cách đơn gian ở con số
những vụ án đã được xét xử bởi nó không thể phản ánh được đầy đủ
chất lượng xét xử trong đó có hoạt động định tội danh cũng như
quyết định hình phạt đối với tội hiếp dâm
2.3.2 Những mặt hạn chế, thiếu sót trong hoạt động định tội danh
và quyết định hình phạt đối với tội hiếp dâm
2.3.2.1 Những mặt hạn chế, thiếu sót trong hoạt động định tội danh
* Những hạn chế trong xác định đặc điểm giới tính của chủ thể và
đối tượng tội hiếp dâm
Trong thực tiễn thì người nữ giới hoàn toàn có thể thực hiện
hành vi giao cấu trái ý muốn của người nam giới bằng một số thủ
đoạn đã được nêu trong Điều 111 BLHS như thủ đoạn: “lợi dụng tình
trạng không thể tự vệ hoặc biểu lộ đúng đắn ý chí của mình” hoặc
“dùng thủ đoạn khác” để giao cấu trái với ý muốn của nam giới.
Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam hiện hành không công nhận
chuyển đổi giới tính, song thực vẫn diễn ra sự chuyển đổi giới tính
(từ nam sang nữ hay từ nữ sang nam) trái phép. Nếu mãi tư duy duy

16


theo lối mòn cũ – chỉ có nam mới là chủ thể của tội hiếp dâm thì vô
hình chung Nhà nước không đảm bảo được nhân phẩm, danh dự cho
nam giới hay đúng hơn Nhà nước không công nhận nam giới có nhân
phẩm và danh dự.
* Những hạn chế trong xác định ý thức chủ quan của người phạm tội
đối với nạn nhân là nữ giới chưa thành niên (từ đủ 16 tuổi đến dưới
18 tuổi)
Hiện nay có quan điểm khác chưa thống nhất về cách quy buộc

phạt bổ sung của tội hiếp dam được quy định tại Khoản 5 Điều 111
BLHS: “Cấm đảm nhiệm chức vụ,cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định từ một năm đến năm năm”. Đây là quy phạm pháp luật tùy
nghi, vì vậy việc Tòa án áp dụng hay không áp dụng cũng không đặt
ra chế tài hay trách nhiệm cho nên Tòa án ít quan tâm áp dụng, làm
giảm hiệu quả đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
* Những hạn chế trong việc áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
Thực tiễn xét xử tội Hiếp dâm cho thấy có rất nhiều trường
hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ và cả tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự, nhưng do không có hướng dẫn cụ thể nên
khi quyết định mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo, Hội đồng xét xử
thường chỉ cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ mà bỏ qua tình tiết tăng
nặng TNHH nếu thấy có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn tình tiết tăng
nặng nhăm mục đích xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo. Hoặc có
trường hợp, do cân nhắc đến tình tiết tăng nặng là tình tiết định
khung hình phạt, không cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ mà người
phạm tội đáng được xem xét.
*Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót

18


Một là, do hạn chế về trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ, ý thức trách nhiệm của một số Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
của ngành Tòa án thành phố.
Hai là, việc điều tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa còn phiến
diện và không đầy đủ, toàn diện.
Ba là, do những hạn chế, bất cập của những quy phạm pháp
luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt nói chung, về tội hiếp
dâm nói riêng (vấn đề này đã phân tích ở mục 2.1)

Như trên đã trình bày, trong Bộ luật hình sự hiện hành còn
nhiều các quy phạm pháp luật có tính khái quát cao, chưa cụ thể, rõ
ràng...Những quy phạm này chỉ có thể áp dụng đúng đắn, thống nhất
trong thực tiễn xét xử khi có những văn bản hướng dẫn áp dụng. Do
vậy, việc tồn tại đầy đủ các văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định
của pháp luật hình sự về tội phạm về hình phạt, trong đó có quy định
về tội hiếp dâm là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo
áp dụng đúng trong thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt.
3.1.3 Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đạo đức nghề nghiệp của
chủ thể áp dụng pháp luật hình sự
Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy, năng lực chuyên
môn là nhân tố ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động định tội danh và
quyết định hình phạt. Người định tội danh và quyết định hình phạt
cho dù có đạo đức tốt, tinh thần nhiệt tình công tác nhưng nếu không
có chuyên môn vững vàng thì khó có thể làm tốt công tác chuyên
môn, trong đó có hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt
Bên cạnh năng lực chuyên môn, người định tội danh và quyết
định hình phạt còn phải có đạo đức nghề nghiệp. Có thể nói đây cũng
là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho việc định tội
danh và quyết định hình phạt đúng đắn. Nếu như năng lực chuyên

20


môn là điều kiện cần thì phẩm chất đạo đức là điều kiện đủ. Hai điều
kiện này bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau giúp cho người định tội danh
và quyết định hình phạt có nền tảng cơ bản để định tội danh và quyết
định hình phạt đúng.
3.1.4 Những điều kiện vật chất – kỹ thuật, công nghệ cần thiết bảo
đảm cho hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt

hỏi thẩm vấn bị cáo, người bị hại, nhân chứng, ...còn Tòa án chỉ thẩm
vấn bổ sung ở bất kỳ thời điểm nào, đối với bất cứ chủ thể nào khi
thấy cần thiết phải làm cho sáng tỏ những tình tiết nào đó trong vụ án
3.2.2 Kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định
của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội
hiếp dâm
Trong thời gian tới các cơ quan có thẩm quyền cần khẩn
trương ban hành các Thông tư mới thay thế Bản tổng kết, trong đó
cần tập trung hướng dẫn áp dụng các tình tiết định khung hình phạt;
giải thích cụ thể thế nào là hành vi quan hệ tình dục khác, khái niệm
giao cấu cho phù hợp với thực tiễn xã hội ngày nay.
3.2.3 Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ
có thẩm quyền định tội danh và quyết định hình phạt, đặc biệt là
thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên
Việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động áp dụng
pháp luật hình sự nói chung, hoạt động định tội danh và quyết định
hình phạt nói riêng phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, trong đó
có nhân tố chủ thể áp dụng pháp luật đóng vai trò quyết định. Do
vậy, để đảm bảo chất lượng hoạt động định tội danh và quyết định
hình phạt cần phải nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trách

22


nhiệm công tác, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ có thẩm
quyền, mà trước hết là thẩm phán, hội thẩm và những người tiến
hành tố tụng khác theo hướng khác nhau.
3.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và tổng kết thực tiễn
định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội hiếp dâm để kịp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status