VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC LINH
TỘI HIẾP DÂM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIẾN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN TRUNG THÀNH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả được nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Ngọc Linh
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến nay, hơn 30 năm
thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn và quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế không
ngừng tăng trưởng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, đời
sống của nhân dân ngày một nâng cao, vị thế của nước ta trên trường quốc tế
ngày càng được củng cố. Song, bên cạnh những thành tựu đạt được, nền kinh tế
thị trường đặc biệt là những mặt trái của nó đã ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống
xã hội làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp như vấn đề về dân số, việc
làm, các tệ nạn xã hội, tình hình tội phạm nói chung trong đó có tội hiếp dâm.
Tội hiếp dâm là hành vi xâm phạm đến danh dự nhân phẩm của con
người, đến giá trị đạo đức thiêng liêng, cao quý mà pháp luật bảo vệ. Điều 20
Hiến Pháp 2013 khẳng định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm” [5]. Bảo
vệ danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe của con người, của công dân là
nhiệm vụ của xã hội. Nhưng, thực tế cho thấy, bên cạnh những người có ý thức
tôn trọng danh dự nhân phẩm của người khác thì vẫn còn một số cá nhân cố ý
xem thường pháp luật, thực hiện những hành vi sai trái, chà đạp danh dự nhân
phẩm của người khác. Vì thế, việc đấu tranh chống loại tội phạm này ngày càng
chống tội hiếp dâm trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, Luận văn thạc sĩ luật học, Học
viện Khoa học Xã hội [10]; Cao Hữu Sáng (2015), Các tội hiếp dâm theo quy
định của Bộ luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội [18].
Ngoài ra, còn có một số bài báo khoa học khác, điển hình là: “Một vài ý
kiến trao đổi về tội hiếp dâm theo quy định tại Điều 111 Bộ luật hình sự”, Ths.
Đỗ Việt Cường, Tạp chí Kiểm sát số 23, năm 2008 [3]; “Trao đổi về tội hiếp
dâm theo điều 111 Bộ luật hình sự”, Ths. Đặng Xuân Nam, Tạp chí kiểm sát số
07, năm 2009. [9]
Thêm vào đó, tội hiếp dâm còn được đề cập trong các cuốn: “Bình luận
khoa học Bộ luật hình sự - phần các tội phạm” do Nhà xuất bản thành phố Hồ
2
Chí Minh xuất bản năm 2002 của thạc sĩ Đinh Văn Quế [14]. Hoặc trong các
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam Phần các tội phạm cụ thể của Khoa luật, Đại
học quốc gia Hà Nội năm 2003; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường
Đại học Luật Hà Nội năm 2008 v.v...
Mặc dù có khá nhiều các công trình nghiên cứu khoa học về tội hiếp dâm
nhưng do mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu nên chưa có công trình khoa
học nào nghiên cứu về: “Tội hiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ
thực tiễn thành phố Hà Nội”. Chính vì vậy, đề tài này là một đề tài mới, lần
đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ luận văn Thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài là trên cơ sở nghiên cứu làm rõ những vấn đề về lý
luận, các quy định của pháp luật liên quan đến tội hiếp dâm, và thực tiễn áp
dụng pháp luật hình sự nhất là thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt
khi xét xử tội hiếp dâm để tìm ra những hạn chế, thiếu sót từ đó đưa ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn đấu
phạm và hình phạt, các tri thức của khoa học luật hình sự, tội phạm học, tâm lý
học và khoa học điều tra tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể để làm rõ
đối tượng nghiên cứu như:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp.
+ Phương pháp diễn dịch, quy nạp.
+ Phương pháp thống kê so sánh đối chiếu.
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
+ Phương pháp đánh giá.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu về tội hiếp dâm
cả phương diện lý luận và thực tiễn. Do vậy:
* Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và làm
phong phú thêm kho tàng lý luận chuyên ngành luật hình sự về một tội danh cụ
thể - tội hiếp dâm.
* Về thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể tham khảo
hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội hiếp dâm và nâng hiệu quả áp
dụng trong thực tiễn.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, học tập tại các
cơ sở đào tạo chuyên ngành luật hình sự
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp về tội hiếp dâm.
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội hiếp dâm và
cố ý dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ
được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn
của họ”
6
1.1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm
Xét về mặt cấu trúc, tội hiếp dâm được cấu thành bởi bốn yếu tố, đó là:
khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Nghiên cứu bốn yếu tố này
của tội hiếp dâm giúp làm sáng tỏ bản chất pháp lý của loại tội này, cho phép
xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng
thời cho phép phân biệt giữa tội phạm này và tội phạm khác. Từ đó làm cơ sở
pháp lý cho việc định tội và truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như làm tiền đề
cho việc áp dụng hình phạt.
* Khách thể của tội phạm
Cũng giống như các hoạt động khác của con người, hoạt động phạm tội
cũng nhằm vào những khách thể cụ thể, tồn tại ngoài ý thức và độc lập với ý
thức của chủ thể nhưng không phải là cải biến khách thể mà là gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại cho chính những khách thể đó.
Khách thể của tội phạm được hiểu là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ và bị tội phạm xâm hại. [12]
Theo Luật Hình sự Việt Nam, những quan hệ được coi là khách thể bảo
vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định tại Khoản 1 Điều
8 BLHS, bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ Quốc,
chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do,
sở hữu, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân,...
Dựa vào các căn cứ trên nhận thấy khách thể của tội phạm hiếp dâm là
“quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền tự do tình dục của con người” [13].
trường hợp nữ giới thực hiện là rất cá biệt, hầu như chưa từng xảy ra với nữ giới
ở nước ta vốn chịu ảnh hưởng bởi các truyền thống đạo đức và lễ nghi nho giáo.
Mặt khác, trong xã hội còn tồn tại những đối tượng cũng bị xâm hại tình
dục tương tự nhưng không được coi là đối tượng của loại tội này như người
chuyển giới hay người phụ nữ đang trong thời kỳ hôn nhân (trong trường hợp
người phụ nữ này là nạn nhân của bạo lực gia đình, bị cưỡng bức giao cấu trái ý
muốn nhưng không được coi là đối tượng của tội hiếp dâm).
8
Khoản 4 Điều 111 BLHS chỉ ra cho ta thấy tuổi của nạn nhân có ý nghĩa
quan trọng trong việc định tội hiếp dâm. Chỉ khi nạn nhân từ đủ 16 tuổi trở lên
thì mới định tội hiếp dâm đối với người phạm tội. Còn nếu nạn nhân nữ từ đủ 13
tuổi đến chưa đủ 16 tuổi thì phải định tội hiếp dâm trẻ em. Mọi trường hợp giao
cấu với trẻ em dưới 13 tuổi đều là hiếp dâm trẻ em.
Đối tượng tác động là một trong những dấu hiệu được mô tả trong cấu
thành của Điều 111 BLHS, nó có ý nghĩa trong việc phân biệt tội hiếp dâm với
tội danh khác cũng như xác định khung hình phạt và quyết định hình phạt.
* Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội hiếp dâm bao gồm các dấu hiệu sau đây:
- Dấu hiệu thứ nhất, người phạm tội có thể có một trong các hành vi sau:
Hành vi dùng vũ lực, hành vi đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể
tự vệ được của nạn nhân, thủ đoạn khác giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân.
- Dấu hiệu thứ hai, việc giao cấu phải trái với ý muốn của nạn nhân. Tội
phạm hoàn thành khi có hành vi giao cấu với nạn nhân.
Để hiểu rõ mặt khách quan của tội phạm này cần tìm hiểu từng hành vi
khách quan cụ thể:
- Hành vi dùng vũ lực giao cấu trái ý muốn của nạn nhân: trong tội hiếp
dâm cũng tương tự với hành vi dùng vũ lực ở một số tội phạm khác mà người
lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân).
Đây là quy định mở nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm
này, bởi lẽ thực tiễn xét xử có những trường hợp hành vi phạm tội của người
phạm tội không thuộc một trong các hành vi cụ thể đã được quy định trong cấu
thành, nhưng hành vi này bản chất lại là hành vi hiếp dâm và việc truy cứu
người phạm tội về tội hiếp dâm là cần thiết. Tuy nhiên, khi xác định hành vi
dùng thủ đoạn khác để giao cấu trái ý muốn của nạn nhân cần chú ý một số vấn
đề sau:
Những thủ đoạn mà người phạm tội thực hiện hoặc lợi dụng phải là những
thủ đoạn nhằm đưa người bị hại lâm vào tình trạng không còn khả năng làm chủ
bản thân để người phạm tội giao cấu trái với ý muốn của họ như: nạn nhân bị mê
10
man bất tỉnh (do bị tật động kinh, bị say thuốc lào, bị gây mê, tiêm thuốc bị dị
ứng...) ngủ mê tưởng nhầm can phạm là chồng nên không kháng cự hoặc một số
trường hợp ngủ mê khác như bị say rượu nặng; bị ốm đau liệt nhược; bị lên cơn
điên dại; ở trong tình trạng cô đơn yếu đuối ở nơi hẻo lánh hoặc trong mọi tình
trạng không thể chống cự khác...để thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn
của nạn nhân.
Ví dụ: Khoảng 21h ngày 6/10/2015, đối tượng Lê Trung Kiên (45 tuổi, trú
tại quận Đống Đa, Hà Nội) hành nghề xe ôm ở bến xe Giáp Bát, nhìn thấy chị
Nguyễn Thị T (40 tuổi) ở Hai Bà Trưng đang đi bộ trên vỉa hè nên đã mời đi xe
và được chị T đồng ý. Trên đường đi, đối tượng Kiên tìm cách bắt chuyện với
chị T rồi sau đó rủ chị này đi uống rượu, ăn đêm tại khu vực Ngã Tư Sở.
Ban đầu chị T chỉ định ăn đêm, nhưng bị Kiên mời rượu nên đành phải
uống, sau đó chị T bị say và đòi về. Thay vì đưa chị T về nhà, gã xe ôm thú tính
đã chở chị này tới khu vực bãi đất trống ở phường Đại Kim rồi giở trò đồi bại,
mặc dù nạn nhân muốn kháng cự nhưng vì thể trạng yếu nên đành bất lực.
Tuy nhiên, khái niệm trên không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay nữa.
Bởi những năm 1976 công nghệ cũng như bao cao su chưa phát triển rộng rãi
như bây giờ, nếu như hiện tại áp dụng khái niệm trên thì chỉ cần mang bao cao
su đi thực hiện hành vi hiếp dâm, cưỡng dâm,... thì sẽ không bị coi là phạm tội
hiếp dâm vì lúc này không được xem là cọ sát trực tiếp (đã qua lớp bao cao su).
Hơn nữa, hành vi tình dục của con người rất đa dạng, không chỉ nhằm mục đích
sinh sản mà còn đem lại khoái cảm. Hành vi tình dục không chỉ diễn ra ở bộ
phận sinh dục mà còn có thể ở những bộ phận khác trên cơ thể,....Chính vì vậy,
để đảm bảo tối đa quyền tự do tình dục và danh dự nhân phẩm của con người
chúng ta không nên bó hẹp khái niệm giao cấu ở “sự cọ sát trực tiếp dương vật
vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ...” cũng như trong cấu thành cơ bản tội
hiếp dâm không nên chỉ bó hẹp trường hợp nam giới giao cấu trái ý muốn với nữ
giới mà cần phải mở rộng ra hơn nữa để đảm bảo danh dự nhân phẩm cho người
bị xâm hại.
12
Một câu hỏi đặt ra là trường hợp nam giới bắt nữ giới tự thực hiện các
hành vi tình dục trên có được coi là hành vi giao cấu hay không? Tại Quyết định
giám đốc thẩm số 24/2011/HS-GĐT ngày 07/12/2011 của Hội đồng thẩm phán
TANDTC về vụ án hình sự, các bị cáo bị kết án về các tội “cướp tài sản” và
“hiếp dâm”, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã thể hiện quan điểm cũng coi là
hành vi giao cấu đối với trường hợp nam giới bắt nữ giới tự đưa dương vật vào
âm hộ. Vì vậy, cũng cần coi những trường hợp sau thuộc nội hàm của khái niệm
giao cấu: nam giới bắt nữ giới tự đưa dương vật vào âm hộ, hậu môn; nam giới
bắt nam giới tự đưa dương vật vào hậu môn.
Qua phân tích trên, có thể thấy rằng khái niệm giao cấu trong tội hiếp dâm
cần được mở rộng theo hướng: “Giao cấu được hiểu là việc đưa bộ phận sinh
dục của người này chủ động tác động vào bất cứ bộ phận nào trên cơ thể người
hiệu này góp phần xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi,
đồng thời cũng thông qua đó xác định được những nguyên nhân và điều kiện
phạm tội để từ đó tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm.
* Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội hiếp dâm theo quy định của luật hình sự hiện hành thì chỉ
có thể là con người cụ thể đang sống, bởi chỉ khi đó, họ mới nguy hiểm cho xã
hội. Và không phải bất kì ai cũng có thể là chủ thể của tội hiếp dâm khi thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chỉ những người có đủ điều kiện sau mới
có thể trở thành chủ thể của tội hiếp dâm, đó là: một người cụ thể đang sống
thực hiện hành vi được mô tả trong Điều 111 BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung
năm 2009) và là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt đến một độ tuổi
theo luật định.
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Điều 12 BLHS năm 1999 (sửa đổi
bổ sung năm 2009) có quy định:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
14
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về mọi tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng”
Như vậy, nguời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi
hành vi hiếp dâm của mình theo quy định của Điều 111 BLHS. Còn người từ đủ
14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp
dâm trong các trường hơp quy định tại các Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều
111 BLHS.
Năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi là những dấu hiệu pháp lý bắt
buộc của chủ thể của tội hiếp dâm. Trong đó, năng lực trách nhiệm hình sự là
tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp.
+ Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội thấy trước hậu quả có thể xảy ra,
nhưng vì mong muốn hậu quả đó xảy ra nên đã thực hiện hành vi phạm tôi.
+ Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức và thấy trước được hậu
quả có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả
xảy ra (có ý thức chấp nhận hậu quả đó).
- Mục đích phạm tội:
Mục đích là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội danh. Người phạm tội thực
hiện hành vi với mục đích giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân.
- Động cơ phạm tội:
Động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm
tội thực hiện hành vi phạm tội đó. Động cơ chính thúc đẩy đối với tội phạm hiếp
dâm đôi khi không chỉ là thỏa mãn sự nhục dục mà đôi khi còn là sự khao khát
được chứng tỏ quyền uy, quyền điều khiển người khác và trạng thái muốn trút
tức giận lên ai đó .
1.1.2. Phân biệt tội hiếp dâm với các tội xâm phạm tình dục khác
Hành vi xâm hại đến quyền bất khả xâm phại về tình dục bị coi là tội
phạm và bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tùy từng dấu hiệu cụ thể
của tội phạm như hành vi, tuổi của người bị hại, tuổi của người thực hiện hành
vi,... tội phạm xâm hại tình dục được chia thành các tội danh khác nhau quy định
16
trong Bộ luật Hình sự. Do vậy, trong thực tiễn định tội danh đòi hỏi phải phân
biệt được tội hiếp dâm với một số tội phạm khác cũng như một số trường hợp
phạm tội có liên quan.
1.1.2.1 Phân biệt tội hiếp dâm với tội cưỡng dâm
Trong các tội danh được áp dụng cho loại tội phạm này, tội hiếp dâm và
cưỡng dâm khiến nhiều người khó hiểu về hành vi để phân biệt. Tội hiếp dâm
chống cự được của nạn nhân hoặc quẫn bách phải miễn cưỡng
Mặt
thủ đoạn khác để giao cấu trái ý giao cấu
khách
muốn của họ.
quan
+ Hành vi khách quan nhằm mục phạm là sử dụng lệ thuộc vật
+ Hành vi khách quan của tội
đích áp đảo ý trí chống cự của nạn chất
(nuôi
dưỡng,
chăm
nhân hoặc làm cho nạn nhân sóc,...) về quan hệ công tác
không thể chống cự được sau đó (cấp trên cấp dưới, nhân viên
thực hiện hành vi giao cấu.
với lãnh đạo,...), về quan hệ
xã hội (giáo viên với học sinh,
BLHS) có năng lực trách
nhiệm hình sự.
Mặt chủ Thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp .
quan
Mức
hình
phạt
Thực hiện với lỗi cố ý trực
tiếp.
Mức hình phạt thấp nhất của tội là Mức hình phạt thấp nhất của
hai năm tù. Mức hình phạt cao tội là sáu tháng tù. Mức hình
nhất của tội là tù chung thân
phạt cao nhất của tội là mười
tám năm tù.
So với tội cưỡng dâm, hành vi khách quan của tội hiếp dâm nguy hiểm
hơn so với hành vi khách quan của tội cưỡng dâm. Tuy đều là lỗi cố ý trực tiếp
nhưng hành vi của tội hiếp dâm mãnh liệt hơn so với tội cưỡng dâm, ngoài việc
xâm phạm về tình dục, hành vi hiếp dâm còn xâm phạm cả đến tính mạng, sức
khỏe của nạn nhân. Do đó, mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt thấp
nhất của tội hiếp dâm là hai năm tù, cao hơn so với tội cưỡng dâm là sáu tháng tù.
18
Mức hình phạt cao nhất của tội hiếp dâm là tù chung thân còn của tội cưỡng dâm
là mười tám năm tù. Điều đó thể hiện chính sách pháp luật hình sự của Đảng và
(Điều 112
(Điều 115
(Điều 116
BLHS)
BLHS)
BLHS)
BLHS)
Đối
Những
Trẻ em dưới 16 Trẻ em từ 13 Trẻ em dưới
tượng
người từ đủ tuổi.
tuổi đến dưới 16 tuổi.
tác động 16 tuổi trở
16 tuổi.
về tình dục.
dục
của tình dục của trẻ
người
phụ em.
nữ, danh dự,
nhân phẩm;
19
bất
xâm
phạm về tình
dục.
sức khỏe của
người
phụ
nữ, trật tự an
toàn xã hội.
Mặt
nhân tuổi từ 13 đến sinh dục của
của hoặc thủ đoạn dưới 16 tuổi trẻ em hoặc
nhân khác để giao cấu và
hoặc
có
sự bắt
thủ trái ý muốn của thuận tình của làm
đoạn khác để họ
các em
trẻ
em
những
việc đồi bại
giao cấu trái - Riêng đối với
với mình như
ý muốn của đối
hoặc
làm cho nạn
nhân không
thể chống cự
20
minh,...
được sau đó
thực
hiện
hành vi giao
cấu
Chủ thể
Chủ thể của Bất kỳ người nào Bất kỳ người Bất kỳ người
tội phạm là từ đủ 14 tuổi trở nào đã thành nào đã thành
bất kỳ người lên có năng lực niên (từ đủ 18 niên (từ đủ
nào từ đủ 14 trách nhiệm hình tuổi trở lên) 18 tuổi trở
tuổi trở lên sự.
có năng lực lên) có năng
có nặng lực
trực tiếp
chí Trái với ý Trái với ý muốn Có sự thuận Không
của nạn muốn
nhân
trách
nạn nhân.
của của nạn nhân là tình
xem
của xét đến ý chí
trẻ em từ 13 tuổi người bị hại.
của nạn nhân
đối với
đến dưới 16 tuổi.
có
hành vi
Trẻ em dưới 13