Ọ
Ọ
-----------------------------
ũ hị hu
QUÁ
Ì
ương
ỔI MỚ
Ở VIỆT NAM TỪ
U
Á
DUY
Í
M 1986 ẾN NAY
Ế
Hà Nội - 2018
Ị
M 1986 ẾN NAY
CNDVBC & CNDVLS
:
U
DUY
62 22 03 02
Á
Ế
Ế
Ọ
Ớ
D
Ọ :
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC HÀ
XÁC NHẬN NCS Ã
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................... 6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 6
4. Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .......................... 7
5. Đóng góp mới của luận án .................................................................................. 7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án ............................................................ 7
7. Kết cấu của luận án............................................................................................. 7
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI ............................................................................................................. 8
1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến tư duy chính trị và đổi mới tư duy
chính trị ....................................................................................................................... 8
1.1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến tư duy chính trị .................. 8
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về đổi mới tư duy chính trị ..................... 11
1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung của quá trình đổi mới
tư duy chính trị từ năm 1986 đến nay ở Việt Nam ................................................... 20
1.2.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới tư duy chính trị
về xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ................................................... 20
1.2.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới tư duy chính trị
về mô hình kinh tế ở Việt Nam .................................................................................. 28
1.2.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới tư duy chính trị
về mô hình nhà nước ................................................................................................. 36
1.3. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu .................................................. 41
Chƣơng 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI TƢ DUY
CHÍNH TRỊ ............................................................................................................. 44
2.1. Luận giải các khái niệm liên quan: tư duy chính trị và đổi mới tư duy
chính trị ..................................................................................................................... 44
2.1.1. Khái niệm tư duy chính trị ..................................................................... 44
2.1.2. Về đổi mới tư duy chính trị..................................................................... 53
2.2. Những nhân tố tác động đến đổi mới tư duy chính trị của Đảng cộng sản
Việt Nam ................................................................................................................... 62
2.2.1. Những nhân tố trong nước ..................................................................... 62
4.1.3. Những tồn tại trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng
về mô hình Nhà nước .............................................................................................. 128
4.2. Tình hình thế giới và trong nước đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới tư duy
chính trị của Đảng ................................................................................................... 136
4.2.1. Tình hình thế giới đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục đổi mới tư duy
chính trị của Đảng .................................................................................................. 136
4.2.2. Tình hình trong nước đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục đổi mới tư duy
chính trị của Đảng .................................................................................................. 138
4.3. Một số vấn đề đặt ra trong việc tiếp tục đổi mới tư duy chính trị của Đảng
trong giai đoạn hiện nay.......................................................................................... 140
2
4.4. Một số nội dung trọng tâm trong tiếp tục đổi mới tư duy chính trị của Đảng ..... 143
4.4.1. Tiếp tục đổi mới tư duy chính trị của Đảng về mô hình chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam ............................................................................................................. 143
4.4.2. Tiếp tục đổi mới tư duy chính trị của Đảng trong việc tạo lập mô hình
kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và mô hình tăng trưởng mới
ở Việt Nam ........................................................................................................................ 145
4.4.3. Tiếp tục đổi mới tư duy chính trị của Đảng về Nhà nước pháp quyền ..... 150
Tiểu kết chương 4 .................................................................................................. 153
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 155
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ............................................................................. 158
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 159
3
MỞ ĐẦU
trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta” [47, tr.68]. Đổi
mới được đánh giá là mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải
biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng,
toàn dân ta. Nhờ quá trình đó, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn,
có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, nước ta cũng vẫn còn nhiều vấn đề lớn,
phức tạp, còn nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục
để phát triển nhanh và bền vững [47, tr.65].
Giai đoạn 30 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đổi mới là một quá trình lịch sử lâu dài;
là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của các thế hệ tiếp nối nhau; là hoạt
động tự giác, chủ động và sáng tạo của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Đổi mới không chỉ là quá trình đã và đang diễn ra trong quá khứ và hiện tại,
mà còn là vấn đề thường xuyên, liên tục, luôn cần phải được triển khai mạnh
mẽ, toàn diện, rộng rãi hơn nữa trong tương lai. Để tiếp tục thực hiện công
cuộc đổi mới trong những giai đoạn sau này một cách hiệu quả và bền vững
hơn nữa, việc tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận mới là một hướng đi hết
sức cần thiết và quan trọng. Đó là lý do thứ hai khiến chúng tôi lựa chọn
nghiên cứu đề tài đổi mới tư duy chính trị từ năm 1986 đến nay
Hiện nay, ở nước ta, trong công tác nghiên cứu và giảng dạy tư duy lý
luận về chủ nghĩa xã hội được quan tâm. Đảng ta đã có sự đổi mới về tư duy
chính trị, kế thừa, bổ sung và hoàn thiện chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều
kiện hoàn cảnh cụ thể chứ không vận dụng máy móc, cứng nhắc chủ nghĩa
Mác - Lênin. Tuy nhiên, những phát triển sáng tạo của Đảng ta chưa được
luận giải một cách thấu đáo trước hết trong các công trình nghiên cứu về triết
học. Đó là lý do thứ ba khiến chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài quá trình
đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
5
4. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương,
đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước.
- Luận án vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin như mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, quan hệ
biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, quan hệ biện chứng giữa kinh
tế và chính trị, quan hệ giữa ổn định, đổi mới và phát triển.
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng của luận án là: thống
nhất lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, so sánh, hệ
thống hóa, khái quát hóa…
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án đã phân tích và làm rõ thêm nội hàm của khái niệm tư duy
chính trị, đổi mới tư duy chính trị; chỉ rõ những nhân tố tác động đến đổi mới
tư duy chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
- Luận án đã làm rõ thêm một số nội dung cơ bản và những thành tựu
của quá trình đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam.
- Luận án đã chỉ rõ được một số vấn đề đặt ra nhằm tiếp tục đổi mới tư
duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Luận án đã làm sáng tỏ những nội dung chủ yếu trong
quá trình đổi mới tư duy chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 đến
nay, từ đó góp thêm căn cứ cho những nghiên cứu sâu hơn về các vấn đề của
triết học chính trị, chính trị học.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
những ai quan tâm đến các vấn đề đổi mới tư duy, đặc biệt là cho những
người làm công tác tư tưởng, tuyên giáo, chính trị.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương, kết luận, danh mục các công
trình nghiên cứu của tác giả, tài liệu tham khảo.
8
Tác giả đã đưa ra một định nghĩa tương đối khái quát về tư duy chính
trị. Theo đó: “Tư duy chính trị là hoạt động của bộ não người nhằm thu nhận,
xử lý và tạo ra những tri thức về giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị,
quyền lực nhà nước; giúp con người nhận thức, hoạch định và thực thi các
quyết sách chính trị” [27, tr.22]. Tác giả nhận định rằng, tư duy chính trị và tư
tưởng chính trị có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại, tư duy chính trị
chính là quá trình trăn trở, suy nghĩ về những vấn đề chính trị, còn tư tưởng là
kết quả của quá trình ấy. Tác giả cho rằng việc tìm hiểu tư duy chính trị của
một người phải thông qua tư tưởng, quan điểm, lời nói, bài viết và những hoạt
động thực tiễn của người đó. Với khái niệm tư duy chính trị đã được thao tác
hóa của tác giả cùng một số nội dung lý luận cũng như phương pháp nghiên
cứu của công trình, dù không thật nhiều nhưng công trình này cũng đã góp
phần giúp cho chúng tôi định hình rõ hơn khái niệm tư duy chính trị trong quá
trình nghiên cứu.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về tư duy chính trị của những nhân
vật lịch sử tiêu biểu, cũng có một số công trình nghiên cứu về tư duy chính trị
của các đối tượng chung như cán bộ, đảng viên. Đó là bài viết về “Nâng cao
năng lực tư duy chính trị cho cán bộ, Đảng viên” [14] của tác giả Nguyễn Đức
Bình (2017). Bài viết “Về lôgic của tư duy chính trị trong cán bộ ta hiện nay”
[158] của Nguyễn Văn Vĩnh. Với việc xác định chủ thể của tư duy chính trị
trong Luận án này là Đảng Cộng Sản Việt Nam, và cách tiếp cận khác của NCS
thì hai bài viết này ít có tác dụng tham khảo đối với người thực hiện luận án.
Liên quan trực tiếp hơn đến đối tượng tiếp cận của luận án phải kể đến
bài viết của Nguyễn Trọng Phúc (2006) “Đổi mới tư duy chính trị của Đảng
trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới” [106]. Tác giả khẳng định rằng “đường lối
đổi mới do Đại hội VI khởi xướng và sau này được các Đại hội Đảng và Hội
nghị Trung ương tiếp theo bổ sung, phát triển là sự thể hiện tư duy chính trị
cập đến tư duy chính trị nhưng cách thức triển khai của tác giả trong việc luận
giải về tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới có tác dụng tham khảo nhiều
cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án.
10
Từ góc độ tiếp cận triết học chính trị về quyền con người [159], tác giả
Nguyễn Văn Vĩnh (2005) đã bước đầu chỉ ra khái niệm tư duy chính trị về
quyền con người nhìn từ góc độ triết học và những quan niệm khác nhau của
các nước Phương Đông, phương Tây, của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền
con người. Theo tác giả, khi giai cấp xuất hiện, (cùng với nó là xuất hiện nhà
nước và quan hệ chính trị giữa các giai cấp và giữa những con người), con
người dần dần ý thức ra, suy nghĩ tới vai trò, vị trí của mình trong cộng đồng
xã hội. Tác giả viết: “suy nghĩ đó của con người ở giai tầng này hay giai tầng
kia đều là suy tư chính trị, đều dẫn đến hình thành những hệ thống quan điểm
lý thuyết chính trị. Những suy nghĩ đó chính là tư duy chính trị và sản phẩm
của các suy tư này là các hệ thống lý thuyết, các quan niệm khác nhau về đời
sống chính trị của xã hội” [159, tr.12]. Đứng ở góc độ tiếp cận nghiên cứu tư
duy chính trị trong mỗi quan hệ với quyền con người, tác giả cho rằng, tư duy
chính trị chính là suy nghĩ của mỗi con người về vấn đề chính trị; những suy
tư đó đều dẫn đến hình thành những hệ thống quan điểm lý thuyết chính trị.
Như vậy, qua khảo sát tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy với cách
tiếp cận triết học về tư duy chính trị trong đó xác định chủ thể của tư duy
chính trị ở tầm chiến lược là Đảng Cộng sản Việt Nam thì không có nhiều
công trình nghiên cứu đề cập đến một cách trực tiếp về nội hàm cũng như
cách tiếp cận đối với khái niệm tư duy chính trị. Vì thế, Luận án sẽ làm rõ
cách tiếp cận triết học đối với khái niệm tư duy chính trị từ đó luận giải rõ về
nội hàm, đặc điểm của khái niệm này và đây chính là một trong những điểm
mới của Luận án mà ở nhiều công trình trước đây chưa thực hiện được.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về đổi mới tư duy chính trị
Trên cơ sở các văn kiện này, tiếp cận nghiên cứu đổi mới với tư cách là
một đường lối của Đảng (chính là đối tượng nghiên cứu và cách tiếp cận của
môn Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam), do Đảng vạch ra,
bắt đầu từ Đại hội VI, những nghiên cứu thường tập trung vào các khía cạnh
về sự phát triển nhận thức của chủ thể là Đảng, phân tích các văn kiện, nghị
12
quyết của Đảng qua các Đại hội, các Hội nghị Trung ương, từ khóa VI đến
khóa XI và Văn kiện Đại hội XII gần đây. Theo đó, đổi mới được nhìn nhận
và đánh giá từ phương diện đường lối và thực hiện đường lối do Đảng khởi
xướng và lãnh đạo. Qua mỗi kỳ Đại hội đường lối đổi mới của Đảng ta không
ngừng được bổ sung, phát triển, thể hiện những bước tiến và chuyển biến
trong nhận thức của Đảng.
Bên cạnh hướng tiếp cận này, nghiên cứu và tổng kết đổi mới với tư
cách là một phong trào vận động xã hội, một cuộc chuyển đổi rộng lớn và sâu
sắc, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân vào hoạt động đổi mới, là một
quá trình cải biến cách mạng và có thể nói, thực sự là một cuộc cách mạng, đã
được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước nhận thức và triển khai trong
quá trình điều hành đất nước. Các công trình Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của
đất nước và của thời đại [19] của đồng chí Trường Chinh; Đổi mới để tiến
lên[77]của đồng chí Nguyễn Văn Linh; Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ
nghĩa xã hội [87]của Đỗ Mười; Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đổi
mới đất nước [144] (2002), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam[145] của Tổng
bí thư Nguyễn Phú Trọng(2006)… đã thể hiện điều đó. Bên cạnh các công
trình của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước tiếp cận đổi
mới từ khía cạnh này, còn phải kể đến các công trình của các nhà nghiên cứu
kỳ cựu, có uy tín, các chuyên gia trong nghiên cứu về đổi mới như các tác giả
Hoàng Chí Bảo [7, 8, 10]; Dương Phú Hiệp [60], Tạ Ngọc Tấn [124], Phùng
Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa [89, 160], Lê Hữu Tầng [126], Nguyễn Duy Quý
sách và cơ chế kinh tế ở Việt Nam từ cuối những năm 70 đến đầu những năm
90. Qua cuốn sách này, tác giả đã cung cấp cho chúng ta một cách nhìn của
một nhà quan sát phương Tây đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Dwight H. Perkins, David Dapice, Jonathan H. Haughton (1995) có
công trìnhViệt Nam cải cách theo hướng rồng bay [157]. Đây là công trình
thứ hai (sau công trình Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông
Dương nghiên cứu về thời kỳ đổi mới của Việt Nam. Cuốn thứ nhất ra đời
14
trong bối cảnh đầu thời kỳ đổi mới (khi mà nhiều sự việc rất mới còn chưa
định hình rõ nét) nên nội dung có tính gợi mở và dự báo, chưa đủ căn cứ để
có những phán đoán khẳng định. Cuốn sách thứ hai này có cái nhìn khẳng
định và lạc quan hơn về chiều hướng phát triển của Việt Nam.
Trong tác phẩm Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới [86] của
Furata Motoo (1997), tác giả đã thông qua việc trình bày hoạt động của Hồ
Chí Minh để làm nổi bật chân dung của Người trong đấu tranh giải phóng dân
tộc và đặt cơ sở cho quá trình thực hiện công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Furuta Motoo đã nêu một vấn đề (mà ngày nay là nhiệm vụ trọng tâm của
nước ta) đó là: đấu tranh giải phóng dân tộc để xây dựng xã hội văn minh, tiến
bộ bằng công cuộc đổi mới đất nước.
Trong nghiên cứu về công cuộc đổi mới, đổi mới tư duy cũng đã được
các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý. Có rất nhiều công trình gián tiếp hoặc trực
tiếp đề cập đến đổi mới tư duy. Nhấn mạnh đổi mới tư duy là yêu cầu bức
thiết, là mệnh lệnh của cuộc sống, là vấn đề có ý nghĩa sống còn, là nhiệm vụ
quan trọng trong sự nghiệp đổi mới đất nước; công trình Bàn về đổi mới tư
duy [147] của tác giả Đào Duy Tùng (1987), mặc dù chỉ gồm hơn 50 trang
nhưng đã chỉ rõ những phương hướng; nội dung của đổi mới tư duy, điều kiện
để đổi mới tư duy. Theo tác giả, một số việc cần làm là: Thứ nhất, chúng ta
cần coi trọng việc quán triệt Nghị quyết Đại hội, gắn liền nó với việc đổi mới
Nam và trong việc khắc phục sự lạc hậu về lý luận ở nước ta lúc bấy giờ. Các
tác giả viết: “Muốn có tư duy đúng để có lý luận đúng thì phải có phương
pháp tư duy đúng”, “Nguồn gốc sâu xa khiến chúng ta lạc hậu về nhận thức lý
luận và hiện vẫn còn chậm khắc phục được sự lạc hậu này là ở chỗ chúng ta
chưa nắm vững và vận dụng đúng chủ nghĩa Mác - Lênin với tính cách là kim
chỉ nam cho hành động cách mạng, là phương pháp khoa học để nghiên cứu
thực tiễn và giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra” [127, tr.7]. Đặc biệt,
theo các tác giả, đổi mới tư duy gồm hai mặt. Một là, phải nhận thức lại cho
16
đúng những luận điểm mác xít về cách mạng xã hội chủ nghĩa và về chủ
nghĩa xã hội. Hai là, phải vận dụng những luận điểm ấy thật sát vào hoàn
cảnh nước ta; sáng tạo ra lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
(như trước đây chúng ta đã sáng tạo ra được lý luận về cách mạng dân tộc dân
chủ ở nước ta).
Công trình Có một Việt Nam như thế đổi mới và phát triển [93] do tác
giả Trần Nhâm chủ biên (1997) đã làm sáng tỏ các luận cứ khoa học và thực
tiễn của đường lối, chủ trương chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta;
khẳng định những thành tựu to lớn của 10 năm qua; trình bày các định hướng
phát triển cho thời kỳ mới.
Phân tích bối cảnh kinh tế của đất nước tất yếu đòi hỏi phải đổi mới tư
duy, công trình Đổi mới - bước phát triển tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam [71] của tác giả Nguyễn Khánh (1999) tuy chỉ có dung lượng 56
trang, nhưng đã làm rõ những nội dung cơ bản nhất, căn cốt nhất liên quan
đến công cuộc đổi mới ở nước ta. Theo tác giả, từ đổi mới được Đảng ta sử
dụng “để chỉ cuộc cải cách lớn về đường lối, chính sách, về cách nghĩ, cách
làm của Đảng lãnh đạo và của nhân dân, để đưa đất nước vượt qua khó khăn,
tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội” [71, tr.8]. Bằng những tư liệu thực tế từ tình
trạng nền kinh tế nước ta những năm trước đổi mới (thường được diễn tả bằng
hội, cũng như sự chi phối của các nhân tố khác đến quá trình đổi mới tư duy
chính trị của Đảng ta.
Trong công trình Đổi mới tư duy và công cuộc đổi mới ở Việt Nam
[116], tác giả Nguyễn Duy Quý đã làm rõ khái niệm tư duy và đổi mới tư duy.
Tác giả chủ yếu tập trung phân tích khái niệm tư duy với tư cách là giai đoạn
cao của quá trình nhận thức; phân tích vai trò của tư duy, lịch sử hình thành,
phát triển tư duy nhân loại, cấu trúc của tư duy, vai trò của đổi mới tư duy.
Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích đổi mới tư duy về kinh tế, đổi mới tư duy
về hệ thống chính trị, đổi mới tư duy về văn hóa xã hội, đổi mới tư duy trong
nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Theo tác giả, đổi mới tư duy không
18
chỉ đổi mới về nội dung, mà quan trọng hơn là phải đổi mới cả về trình độ tư
duy. Đây là một trong số ít các công trình bàn một cách trực diện về vấn đề
đổi mới tư duy và đổi mới tư duy trên một số lĩnh vực cụ thể, là tài liệu tham
khảo trực tiếp cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án, tuy nhiên với
cách tiếp cận và cách hiểu khác về đổi mới tư duy chính trị nên chúng tôi sẽ
lựa chọn các nội dung phân tích đổi mới tư duy chính trị ở các lát cắt khác với
cách hiểu của tác giả công trình này.
Bên cạnh các công trình trên đây, nhiều bài viết đăng trên các tạp chí
cũng đã đề cập đến vấn đề đổi mới tư duy. Trong bài viết “Một số vấn đề về
tư duy và đổi mới tư duy hiện nay ở nước ta” [135], tác giả Hồ Văn Thông đã
khái quát một số nét cơ bản của tư duy trong mối quan hệ với hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn. Trong bài viết “Quan hệ giữa đổi mới nội dung
tư duy và đổi mới phương pháp tư duy” [109] tác giả Nguyễn Đăng Quang
cho rằng, muốn đổi mới tư duy phải bắt đầu từ việc đổi mới phương pháp tư
duy. Tác giả Nguyễn Quang Thông trong bài “Những đặc trưng cơ bản của
phương pháp tư duy khoa học” [136] đã phân tích mối quan hệ giữa phương
pháp tư duy biện chứng duy vật với phương pháp tư duy của các khoa học cụ
1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung của quá trình
đổi mới tƣ duy chính trị từ năm 1986 đến nay ở Việt Nam
1.2.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đổi mới tư duy chính trị
về xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong đổi mới tư duy chính trị có đổi mới tư duy chính trị về xác định
mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất. Vì thế, vấn đề
này đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu.
Tiếp cận chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo chiều lịch đại, cuốn sách
Quá trình hình thành và phát triển Quan điểm lý luận của Đảng ta về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội [56]do tác giả Trần Hậu chủ biên (1997) phân
tích những giai đoạn phát triển quan điểm lý luận của Đảng ta về con đường
20
đi lên chủ nghĩa xã hội theo các thời kỳ lịch sử. Giai đoạn 1945- 1954 là giai
đoạn tiếp tục hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, bước đầu chuẩn bị lý
luận cho chủ nghĩa xã hội. Đặc điểm giai đoạn này là mới đặt ra về mặt lý
luận vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn từ sau năm 1954 là giai
đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc đã được giải phóng, tiếp tục
hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc trong cả nước. Ở mỗi chặng đường,
nhận thức của Đảng ta về con đường đi lên CNXH đều gắn liền với thực tiễn
trong nước và thế giới và với những yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng. Nhìn
lại quá trình nhận thức lý luận trong mối quan hệ hữu cơ với thực tiễn cách
mạng giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn thực chất nội dung trong quan điểm
đường lối của Đảng ta. Từ sự phân tích đó, tác giả đã chỉ ra những đặc điểm
của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời làm sáng tỏ quá trình hình
thành, phát triển đường lối đổi mới theo định hướng XHCN và rút ra những
bài học kinh nghiệm từ góc độ lịch sử.
Phân tích những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ
rằng, quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là khả năng, là xu
hướng phát triển tất yếu của các nước lạc hậu, tiền tư bản trong thời đại ngày
nay. Lựa chọn con đường phát triển này, là giác ngộ cái tất yếu, là kết quả
nhận thức tự giác, khoa học của chủ thể. Theo tác giả, bước vào thời kỳ đổi
mới, Đảng ta xác định đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khái niệm
“định hướng xã hội chủ nghĩa”, về mặt lý luận, ở cấp độ khái quát và định
tính có thể được xem là tương đương, đồng nghĩa với khái niệm quá độ lên
CNXH. Tác giả cũng khẳng định rằng, từ định hướng tới định hình, đó là thời
gian lịch sử của thời kỳ quá độ với nhiệm vụ cụ thể, với những khác nhau về
trọng điểm ở mỗi giai đoạn, về nội dung và cả bước đi. Ý nghĩa của việc xác
định đó là ở chỗ, việc hoạnh định và áp dụng các giải pháp, biện pháp phải
phù hợp với yêu cầu và tính chất của mỗi giai đoạn, mỗi bước đi của thời kỳ
quá độ.
22