PHẦN I:MỞ ĐẦU
Sầu Riêng có tên khoa học là Durio zibethinus, là loại cây ăn quả của vùng nhiệt
đới rất được ưu chuộng và có giá trị kinh tế cao ở các nước như Thái Lan, Malaysia, Ấn
Độ…và Việt Nam. Do yêu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu ngày càng cao, các nước
như Thái Lan và Malaysia đã tập trung nghiên cứu và phát triển cây Sầu Riêng từ 20
năm trước đây. Ở Việt Nam những nghiên cứu về cây Sầu Riêng phát triển mạnh trong
những năm gần đây.
Cây Sầu Riêng thuộc họ Mavaceae, có nguồn gốc từ quần đảo Halay Archipelago
( gồm Sumatra, Java, Borneo, Philippine, New Guinea). Đây là loại cây ăn quả mang lại
hiệu quả kinh tế cao, có giá trị hơn nhiều so với các loại cây ăn quả khác, bởi cây Sầu
Riêng có mùi vị rất hấp dẫn, hàm lượng các chất dinh dưỡng cao như lipit, prôtêin, acid
amin, canxi, lân và các chất thơm như thiols esters, hydrogen sufic, diethyl sunfic rất
được người tiêu dùng ưa chuộng. Không những thế tất cả các bộ phận của cây như vỏ,
quả, hạt cũng làm nguyên liệu cho nghành y dược rất tốt, thân cây dùng làm vật lệu gỗ.
Ở Việt Nam Sầu Riêng được du nhập từ Inđônêsia được trồng ở Cái Mơn-Bến Tre
và du nhập từ Thái Lan được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía nam như Tiền Giang, Đồng
Nai, Lâm Đồng, Vĩnh Long…Tuy nhiên nông dân chỉ trồng theo tập quán cổ truyền,
không tuyển chọn giống và kỹ thuật thâm canh chưa đạt yêu cầu nên năng suất, chất
lượng và sản lượng còn thấp so với một số nước trong khu vực, năng suất biến động từ
8- 20 tấn/ha, trung bình khoảng 10 tấn/ha chủ yếu tiêu thụ trong nước, tỷ lệ xuất khẩu
thấp.
Ngày nay, Sầu Riêng được phát triển mạnh mẽ ở khu vực đông nam bộ và tây
nguyên. Đăklăk là một trong những tỉnh có điều kiện thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu thích
hợp với cây Sầu Riêng. Đặc biệt trong những năm gần đây, do giá cà phê không ổn định
nên một số địa bàn trong tỉnh như huyện CưM’Gar đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
chuyển từ cây cà phê sang một số cây ăn quả có giá trị kinh tế cao hơn, trong đó cây Sầu
Riêng là một trong những cây ăn quả có giá trị kinh tế cao nhất được người dân ưu tiên
phát triển hàng đầu.
Cây Sầu Riêng là loại cây có tác dụng nhiều mặt, mở rộng diện tích trồng Sầu
Riêng là hướng kinh doanh ổn định đối với người dân Đăk lăk nói chung và người dân
huyện Cư M’Gar nói riêng.
thể tồn tại trong lòng đất .
- Bệnh tảo vàng: Do tảo Cephaleurosvirescens (Suchartvichitranon, 1998). Nấm
này chủ yếu ký sinh trên lá và cành, trong thời kỳ ẩm độ cao bệnh phát triển mạnh.
- Bệnh thối trái: Do nấm Phytopthora pamivora (Butler)(Suchartvichitranon,
1998). Làm cho quả bị thối từ cuống vào, sau đó làm cho quả bị rụng, ở quả non cũng
như quả trưởng thành.
Theo tiến sỹ K.V Ahmed Baveppa, do Phạm Kim Hồng Phúc dịch trong cuốn “
Hỏi đáp kỹ thuật trồng Sầu Riêng.” cho biết trên cây Sầu Riêng có các bệnh sau:
- Bệnh thối trái: Do nấm Sclerotium rolfsii. Nấm này tấn công lên quả Sầu Riêng
còn non cũng như quả trưởng thành.
- Bệnh thán thư: Do nấm Collectotrichum sp gây ra. nấm này gây hại trên lá và rất
phổ biến
- Bệnh mốc hồng: Do nấm Corticium samonicolor gây hại trên cành làm cành
chết.
- Bệnh thối rễ : Do Pythium sp
- Bệnh thối chảy mủ: Do Phytopthora pamivora
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước: Theo GS.TSKH Trần Thế Tục cho biết trên cây
Sầu Riêng có những loại sâu bệnh hại chính sau:
* Sâu hại:
- Sâu đục quả ( Conogethes punctieralis):Trưởng thành loài này đẻ trứng trên vỏ
quả, sâu non ăn phần vỏ rồi đục vào quả, gây ảnh hưởng đến giá trị thương phẩm, đồng
thời tạo điều kiện cho các loài nấm bệnh xâm nhập gây thối quả và rụng quả.
- Rầy nhảy (Allocaridara malayensis): Đây là đối tượng gây hại phổ biến và
nghiêm trọng, chúng chích hút các lá non làm lá phát triển kém đồng thời tiết mật ngọt
tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển ảnh hưởng tới quang hợp của cây.
- Rệp sáp (Planococus sp): Bámvào cuốn quả hoặc rãnh giữa các gai trên vỏ quả
làm quả phát triển kém, quả bị hại nặng sẽ bị biến dạng hoặc rụng non.
- Nhện đỏ: Chích hút dịch lá làm lá rụng sớm.
*Bệnh hại:
- Xì mủ chảy nhựa: Bệnh này do nấm Phytopthora palmivora gây ra, nấm gây hại
Theo tài liệu của Công ty công nghệ sinh học (Dona Techno- 1998) cho biết trên
cây Sầu Riêng có các bệnh sau:
- Bệnh thối gốc chảy mủ: do nấm Phytopthora pamivora
- Bệnh thán thư: do nấm Collectotrichum sp gây ra
- Bệnh mốc hồng:do nấm Corticium samonicolor
- Thối trái: Do nấm Sclerotium rolfsic: vết bệnh phủ khuẩn dày, to, trắng, hình
quạt. Nấm xâm nhiễm từ cỏ dại, trái thối rụng xuống đất.
Theo tài liệu của Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Tiền Giang cho biết trên cây Sầu
Riêng có những bệnh chính sau:
- Bệnh thán thư: Do Collectrichum sp gây ra
- Bệnh thối gốc chảy nhựa : do Phytopthora pamivora
- Cháy lá chết ngọn: Do Rhizoctonia solani gây ra
- Thối hoa : Do nấm Fusarium sp gây ra
Theo Thạc sỹ Lâm Thị Mỹ Nương (Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam) cho
biết các bệnh hại chủ yếu trên cây Sầu Riêng là
- Thán thư: Do nấm Collectotrichum sp gây ra
- Thối gốc chảy mủ: Phytopthora pamivora
- Cháy lá chết ngọn : Rhizoctonia solani
- Bệnh mốc hồng: Do nấm Corticium salmonicolor
PHẦN III: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu thành phần sâu bệnh hại trên cây Sầu Riêng tại huyện CưM’Gar,
tỉnh Đăk Lăk
3.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu:
3.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu:
3.2.1.1 Vị trí địa lý:
Huyện Cư M’Gar nằm giáp với thành phố Buôn Ma Thuột, cách trung tâm thành
phố khoảng 17 km về phía bắc
Có giới hạn toạ độ địa lý:
- Từ 12
địa lý, chế độ bức xạ mặt trời, cơ chế hoàn lưu và điều kiện địa hình quy định chế độ khí
hậu của huyện là khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên.
- Nhiệt độ trung bình năm là 22,2
0
C
- Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 36
0
C
- Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 9
0
C
- Độ ẩm tương đối là 90%
- Số giờ nắng trung bình là 2440 giờ/ năm, tháng 3 có số giờ nắng cao nhất 260
giờ, tháng 9 có số giờ nắng thấp nhất 135 giờ.
- Lượng mưa bình quân năm 1712mm (cao nhất là 2334 mm, thấp nhất là
114mm).
- Lượng bốc hơi bình quân năm là 1178 mm.
- Gió: Từ tháng 3 đến tháng 10 hướng gió chính là hướng tây nam, tháng 11 đến
tháng 4 năm sau là hướng đông bắc. Mùa mưa gió cấp 2, cấp 3. Mùa khô gió cấp 6,7 có
lúc cấp 11.
Một năm có hai mùa rõ rệt, đó là mùa mưa và mùa khô, mùa khô bắt đầu từ tháng
11 đến tháng 4, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa mưa tập trung lượng
mưa nhiều, mùa khô lượng mưa thấp từ 10 -15% tổng lượng mưa cả năm.
3.2.1.4 Thuỷ văn:
Hệ thống suối trên địa bàn huyện thuộc lưu vực sông Sêrêpok do chịu ảnh hưởng
của địa hình nên suối ở đây có xu hướng chảy từ đông sang tây, đáng chú ý nhất trên địa
bàn huyện là suối Ea Tul và suối Ea Mroh, suối Ea Tul bắt đầu từ xã Ea Ngai huyện
Krông Puk, đoạn chảy qua huyện dài 45 km và chạy qua các xã Ea Tul, thị trấn Quãng
Phú, xã Quảng Tiến, xã Ea M’nang
3.2.1.5 Thổ nhưỡng:
3.2.2.2 Dân số, lao động và việc làm.
* Dân Số:
Theo niên giám thống kê của huyện CưM’Gar năm 2005, huyện có 16 đơn vị hành
chính với tổng dân số toàn huyện là 159.659 nhân khẩu, mật độ dân số là 194 người/km.
Trong đó dân tộc Kinh 98.653 người chiếm 61,8%, dân tộc Ê Đê 46.399 người chiếm
29,1%; các dân tộc khác như Mơ Nông, Gia Rai, Xê Đăng, Mường, Tày…14.607 người
chiếm 9,1%.
Dân số di cư tự do đến huyện hàng năm rất lớn bình quân tăng 6.500 người/năm.
Chủ yếu là dân tộc phía Bắc vào.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện hiện nay 1,773 %.
Nguyên nhân tăng dân số cơ học của huyện còn cao là do tiềm năng phát triển
nông nghiệp của huyện lớn. Các điều kiện tự nhiên thuận lợi nên thu hút lao động cũng
như dân cư tăng nhanh, đây là vấn đề hết sức phức tạp hiện nay.
* Lao Động Và Việc Làm: Nguồn lao động của toàn huyện năm 2005 là 85.548
người. Trong đó:
-Số người trong độ tuổi lao động là 82.619 người.
-Số người ngoài độ tuổi thực tế có tham gia lao động là 4.789 người.
-Phân phối nguồn lao động: Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
là:72.077 người. Trong đó chia ra:
Nghành nghề số lao động ( người) Cơ cấu(%)
Nông lâm nghiệp, thuỷ sản 65.133 90,37
Công nghiệp khai thác và chế biến 1.322 1,83
Xây dựng thương mại dịch vụ 2.875 4,00
Giáo dục 2.232 3,10
Y tế 194 0,27
Văn hoá thể thao 19 0,02
Các nghành công chức 300 0,41
Tổng 72.077 100
(Nguồn: phòng kinh tế huyện Cư M’Gar)
PHẦN IV: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU