Các dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - Chương trình mới
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo cô giáo trong khoa Đào tạo
giáo viên Tiểu học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và trường Cao
đẳng Sư phạm Quảng Ninh đã tạo điều kiện cho em được thực hiện đề tài
này.
Trong quá trình thực hiện em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đọc để đề tài
của em được hoàn thiện hơn.
Quảng Ninh, ngày 15 tháng 7 năm 2010
Nhóm thực hiện
Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
Mhóm thực hiện: Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
LỚP ĐHTC- K1C - UÔNG BÍ - QUẢNG NINH - ĐHSP THÁI NGUYÊN
1
Các dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - Chương trình mới
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ở Tiểu học, văn học tuy không được dạy như một môn học độc lập
nhưng việc dạy văn là tất yếu. Trước hết bởi vì văn học là môn học dạy học
sinh lòng nhân ái, trí thông minh, khả năng cảm thụ cái đẹp và nhu cầu tạo
cái đẹp trong cuộc sống. Thêm nữa trẻ em rất ham mê văn học. Các em
không chỉ có khả năng cảm thụ những tác phẩm văn học hợp với lứa tuổi mà
còn hứng thú sáng tác văn học. Môn văn sẽ thoả mãn nhu cầu học hỏi của
các em, sẽ hướng các em biết nhận thức và cảm thụ đúng đắn.
Tuy nhiên trong những năm trước, việc học văn chưa thực sự đem
lại hiệu quả như mong muốn. Các giờ làm văn nói học sinh còn gặp nhiều
khó khăn như: Sự e thẹn, rụt rè làm các em rối trí quên cả nội dung cần nói.
Học sinh không dám nói hoặc nói theo bài đọc thực chất là đọc bài viết sẵn.
Bài tập làm văn chỉ có một hình thức độc thoại trước lớp. Mà trong suốt bậc
Tiểu học không có tiết nào, bài học nào hướng dẫn trình bày độc thoại trước
văn trong SGK Tiếng Việt lớp 4, nắm được đặc điểm của từng kiểu bài, nắm
được những điểm mới về nội dung dạy học phân môn này.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp:
1. Phương pháp thống kê - phân loại tài liệu
2. Phương pháp so sánh đối chiếu
3. Phương pháp tổng hợp
4. Phương pháp phân tích
Mhóm thực hiện: Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
LỚP ĐHTC- K1C - UÔNG BÍ - QUẢNG NINH - ĐHSP THÁI NGUYÊN
3
Các dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - Chương trình mới
VI. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI:
Vì thời gian có hạn, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát, tìm hiểu được
"Các dạng bài Tập làm văn trong SGK Tiếng Việt 4 chương trình mới" của
Nhà xuất bản Giáo dục 2005".
VII. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI:
Phần I: Một số vần đề chung
Phần II: Nội dung nghiên cứu
- Chương I: Cơ sở lí luận chung
- Chương II: Các dạng bài tập làm văn trong Tiếng Việt 4
- Chương III: Những điểm mới của chương trình phân môn Tập làm văn 4
Phần III: Kết luận chung
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
I. MỤC TIÊU CỦA MÔN TIẾNG VIỆT Ở BẬC TIỂU HỌC
1. Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,
nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của
lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn các thao tác của tư duy.
phù hợp với thể loại và nội dung văn bản, thể hiện tình cảm thái độ của tác
giả, giọng điệu của nhân vật.
- Đọc thầm có tốc độ nhanh hơn lớp 3.
- Biết cách xác định đại ý, chia đoạn văn bản, nhận ra mối quan hệ giữa các
đồ vật, tình tiết trong bài, biết nhận xét về một số hình ảnh nhân vật trong
bài tập đọc có giá trị văn chương.
- Biết sử dụng từ điển học sinh, có thói quen ghi chép các thông tin
* Viết:
Mhóm thực hiện: Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
LỚP ĐHTC- K1C - UÔNG BÍ - QUẢNG NINH - ĐHSP THÁI NGUYÊN
5
Các dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - Chương trình mới
- Viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, viết hoa đúng quy định. Có khả năng
tự sửa lỗi chính tả. Có thói quen và biết cách lập sổ tay chính tả, hệ thống
hoá các quy tắc chính tả đã học.
- Biết cách lập dàn ý cho bài văn, rút ra dàn ý từ đoạn văn đã cho sẵn,
chuyển dàn ý thành đoạn văn.
- Biết cách viết thư, điền vào một số loại giấy tờ in sẵn, làm các bài văn kể
chuyện, miêu tả đồ vật, cây cối, con vật. Nắm vững cách viết mở bài, kết bài
và đoạn văn.
* Kiến thức Tiếng Việt và văn học (học thành tiếng riêng):
- Về từ vựng:
+ Học thêm khoảng 700 từ, thành ngữ, tục ngữ theo chủ điểm. Nắm được
nghĩa của một số từ Hán Việt, một số thành ngữ, tục ngữ thông dụng. Nắm
được nghĩa bóng của một số từ trong tác phẩm văn học.
+ Nắm được cấu tạo của tiếng (âm đầu, vần, thanh) và cấu tạo của từ (từ
đơn, từ ghép, từ láy, từ phức).
- Về ngữ pháp và ngữ pháp văn bản:
+ Nắm được các khái niệm danh từ, động từ, tính từ.
+ Nắm được các kiểu câu đơn và thành phần của câu đơn (chủ ngữ, vị ngữ,
+ Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả.
- Kĩ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp:
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích của giao tiếp và yêu
cầu diễn đạt.
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt.
- Kĩ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp:
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu
diễn đạt.
Mhóm thực hiện: Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
LỚP ĐHTC- K1C - UÔNG BÍ - QUẢNG NINH - ĐHSP THÁI NGUYÊN
7
Các dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - Chương trình mới
+ Sửa lỗi về hình thức và nội dung diễn đạt.
CHƯƠNG II: CÁC DẠNG BÀI TẬP LÀM VĂN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT 4
I. NHẬN XÉT CHUNG:
1. Cấu trúc của chương trình Tập làm văn:
- Dựa vào chương trình Tiểu học (ban hành kèm theo Quyết định
43/2001/QĐ- BGD&ĐT ngày 9/11/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, SGK
Tiếng Việt 4 hai tập) đã thiết kế chương trình Tập làm văn lớp 4 như sau:
LOẠI VĂN BẢN
SỐ TIẾT DẠY
HỌC KỲ I HỌC KỲ II CẢ NĂM
- Kể chuyện 19 19
- Miêu tả
+ Khái niệm miêu tả 1 1
+ Miêu tả đồ vật 6 4 10
+ Miêu tả cây cối 11 11
+ Miêu tả con vật 8 8
- Các loại văn bản khác
chuyển câu văn ở dạng nói sang dạng viết và ngược lại; biết kể hay tả bằng
một văn bản ngắn, trọn vẹn điều đã nghe, đã đọc, đã thấy, đã thích thú; biết
viết thư cho bạn bè, người thân; bước đầu biết tranh luận, bảo vệ ý kiến cá
nhân bằng chứng lý; biết tóm tắt thông tin.
3. Nội dung của các bài tập làm văn 4:
Nội dung của các bài tập làm văn ở lớp 4 thường gắn liền với các chủ điểm
đang học. Đó là những vấn đề đời sống tinh thần của con người như tính
cách, đạo đức, sở thích, năng lực... cụ thể như sau:
SGK tập 1 gồm 5 chủ điểm học trong 18 tuần:
- Tuần 1, 2, 3: Thương người như thể thương thân (nhân ái)
- Tuần 4, 5, 6: Măng mọc thẳng (trung thực, tự trọng)
- Tuần 7, 8, 9: Trên đôi cánh ước mơ (ước mơ)
- Tuần 10: Ôn tập giữa học kỳ I
Mhóm thực hiện: Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
LỚP ĐHTC- K1C - UÔNG BÍ - QUẢNG NINH - ĐHSP THÁI NGUYÊN
9
Các dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - Chương trình mới
- Tuần 11,12, 13: Có chí thì nên (nghị lực)
- Tuần 14, 15, 16, 17: Tiếng sao diều (vui chơi)
- Tuần 18: Ôn tập cuối học kì I
SGK tập II gồm 5 chủ điểm học trong 17 tuần:
- Tuần 19, 20, 21: Người ta là hoa đất (năng lực, tài trí)
- Tuần 22, 23,24: Vẻ đẹp muôn màu (óc thẩm mỹ)
- Tuần 25, 26, 27: Những người quả cảm (dũng cảm)
- Tuần 28: Ôn tập giữa học kỳ II
- Tuần 29, 30, 31: Khám phá thế giới (du lịch, thám hiểm)
- Tuần 32,33,34: Tình yêu cuộc sống (lạc quan, yêu đời)
- Tuần 35: Ôn tập cuối học kỳ II
Ở các lớp dưới, học sinh học tập làm văn chủ yếu là rèn luyện kĩ các nghi
thức lời nói, viết văn bản dưới dạng một đoạn văn.
1. Văn kể chuyện:
1.1 Số bài văn và thời lượng học:
Văn kể chuyện được học trong 19 tiết, từ tuần 1 đến tuần 13 chiếm khoảng
30% tổng số tiết tập làm văn. Cụ thể bao gồm những tiết sau:
- Thế nào là văn kể chuyện (1tiết)
- Đặc điểm của nhân vật (ngoại hình, hành động, lời nói, ý nghĩ): 4 tiết
- Cốt truyện: 2 tiết
- Đoạn văn: 3 tiết
- Phát triển câu chuyện: 4 tiết
- Mở bài trong bài văn kể chuyện: 1 tiết
- Kết bài trong bài văn kể chuyện: 1 tiết
- Kiểm tra viết: 1 tiết
- Trả bài: 1 tiết
- Ôn tập: 1 tiết
1.2.Yêu cầu của văn kể chuyện:
Mhóm thực hiện: Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
LỚP ĐHTC- K1C - UÔNG BÍ - QUẢNG NINH - ĐHSP THÁI NGUYÊN
11
Các dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - Chương trình mới
Văn kể chuyện đòi hỏi phải có cốt truyện. Mỗi câu chuyện viết ra đâu
chỉ đơn giản là kể lại mà thông qua đó ta muốn kể về ý nghĩa của cuộc sống
xung quanh về phẩm chất, tính cách con người; qua đó thấy cái hay cái dở
của cuộc sống để thêm tin yêu, hăng hái, phấn đấu, tu dưỡng làm cho cuộc
sống thêm tốt đẹp. Do đó "sự việc có diễn biến" chỉ là phương tiện còn "ý
nghĩa, điều muốn nói" mới là mục đích của truyện. Người có thể kể câu
chuyện thật, cũng có thể hư cấu ra câu chuyện, nhân vật dựa trên kinh
nghiệm sống của mình nhưng không thể bịa ra ý nghĩa của cuộc đời. Ý nghĩa
đó phải rất thật, gắn bó, thể hiện sâu sắc cách hiểu, niềm tin, lý tưởng đạo
đức thiêng liêng của con ngưòi. Tóm lại truyện đó hay hay không chính là
nhờ ý nghĩa cuộc sống mà nó mang lại cho người đọc.
a. Bạn nhỏ trên biết quan tâm đến người khác.
b. Bạn nhỏ trên không biết quan tâm đến người khác.
(Bài tập 2/T14- SGK I)
Hay ví dụ: Hãy tưởng tượng và kể lại vắn tắt một câu chuyện có ba nhân vật:
bà mẹ ốm, người con của bà mẹ bằng tuổi em và một bà tiên.
(Bài tập trang 45- SGK I)
Giải quyết các bài tập trên, học sinh còn rút ra được những kinh nghiệm giao
tiếp, cách ứng xử trong cuộc sống đời thường.
1.4 Các kiểu bài tập trong văn kể chuyện:
Do Tập làm văn lớp 4 hướng vào rèn luyện kĩ năng lập dàn ý, viết
đoạn, quan sát... cho nên ứng với mỗi tiết cũng có những kiểu bài khác nhau
phục vụ cho việc luyện tập các kĩ năng đó.
Cụ thể như sau:
* Bài tập tìm hiểu đặc điểm của nhân vật:
- Điền tên nhân vật vào chỗ trống:
Mhóm thực hiện: Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
LỚP ĐHTC- K1C - UÔNG BÍ - QUẢNG NINH - ĐHSP THÁI NGUYÊN
13
Các dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - Chương trình mới
+ Đặc điểm: Dựa vào đặc điểm của nhân vật đã cho sẵn và tình huống trong
truyện, học sinh phải điền tên của các nhân vật vào chỗ trống sao cho phù
hợp với nhân vật đó.
Ví dụ: Chim Sẻ và chim Chích là đôi bạn thân nhưng tính tình khác nhau.
Chích xởi lởi hay giúp bạn còn Sẻ thì đôi khi bụng dạ còn hẹp hòi. Dưới đây
là một số hành động của hai nhân vật ấy trong câu chuyện "Bài học quý". Em
hãy điền tên nhân vật (Chích hoặc Sẻ) vào trước hành động thích hợp và sắp
xếp các hành động ấy thành một câu chuyện.
1. Một hôm,......... được bà gửi cho hộp hạt kê.
2. Thế là hàng ngày........ nằm trong tổ ăn hạt kê một mình.
3. ........ đi kiếm mồi, tìm được những hạt kê ngon lành ấy.
Bước đầu biết lựa chọn những chi tiết tiêu biểu để tả ngoại hình nhân vật
trong bài văn kể chuyện.
- Sự chuyển đổi giữa lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp.
+ Đặc điểm: Cho những đoạn văn trong đó có lời trong truyện có thể là lời
của người dẫn truyện cũng có thể là lời của người trực tiếp tham gia vào tình
huống trong truyện. Yêu cầu học sinh chuyển từ lời dẫn trực tiếp thành lời
dẫn gián tiếp và ngược lại.
Ví dụ: Chuyển lời dẫn gián tiếp sau thành lời dẫn trực tiếp: “...Vua nhìn thấy
những miếng trầu têm rất khéo bèn hỏi bà bán hàng nước xem trầu đó ai têm.
Vua gặng hỏi mãi bà lão đành nói thật là con gái bà têm.”
(Bài tập 2/T33- SGK I)
Chuyển lời dẫn trực tiếp sau thành lời dẫn gián tiếp:
“... Bác thợ hỏi Hoè:
- Cháu có thích làm thợ xây không?
Hoè đáp:
- Cháu thích lắm.”
+ Mục đích:
Mhóm thực hiện: Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
LỚP ĐHTC- K1C - UÔNG BÍ - QUẢNG NINH - ĐHSP THÁI NGUYÊN
15
Các dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - Chương trình mới
Kiểu bài này giúp học sinh vận dụng ngôi kể trong khi kể chuyện. Tuỳ vào
tình huống hoặc ngữ cách giao tiếp mà có thể kể nguyên văn (lời dẫn trực
tiếp) hoặc kể bằng lời kể của người kể chuyện (lời dẫn gián tiếp).
* Bài tập về xây dựng cốt truyện:
Gồm các loại bài:
- Xếp các ý thành câu chuyện:
+ Đặc điểm: Cho các ý chính của câu chuyện đã bị xáo trộn. Yêu cầu học
sinh sắp xếp theo một trình tự logic.
Ví dụ: Truyện "Cây khế" bao gồm các sự việc chính sau:
Ví dụ; Bạn Hà viết thử 4 đoạn câu chuyện "Vào nghề" nhưng chưa viết được
đoạn nào hoàn chỉnh. Em hãy giúp bạn Hà hoàn chỉnh một trong những đoạn
ấy:
a. Đoạn 1:
+ Mở đầu:....
+ Diễn biến:....
+ Kết thúc: Tù đó, lúc nào trong trí óc non nớt của Valia cũng hiện lên hình
ảnh cô diễn viên phi ngựa đánh đàn. Em mơ ước một ngày nào đó cũng được
như cô phi ngựa và chơi những bản nhạc rộn rã.
b. Đoạn 2:
+ Mở đầu: Rồi một hôm, rạp xiếc thông báo tuyển diễn viên. Valia xin bố mẹ
cho ghi tên đi học nghề.
+ Diễn biến:......
+ Kết thúc: Bác giám đốc cười gật đầu bảo em: “Công việc của diễn viên phi
ngựa đánh đàn bắt đầu như thế đấy chúa ạ. Cái tháp cao nào cũng phải xây
lên từ mặt đất.”
c. Đoạn 3:
+ Mở đầu:.........
Mhóm thực hiện: Vũ Thị Duyên – Nguyễn Hải Hậu – Nguyễn Thị Huyên
LỚP ĐHTC- K1C - UÔNG BÍ - QUẢNG NINH - ĐHSP THÁI NGUYÊN
17
Các dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 - Chương trình mới
+ Diễn biến: Những ngày đầu, Valia rất bỡ ngỡ. Có lúc em nản chí. Nhưng
cứ nhớ đến cô diễn viên phi ngựa, em lại thấy phấn chấn hẳn lên.
+ Kết thúc:........
d. Đoạn 4:
+ Mở đầu:........
+ Diễn biến: Cứ mỗi lần Valia bước lên sàn diễn, những tràng vỗ tay nồng
nhiệt lại vang lên. Chỉ trong nháy mắt cô đã đứng lên lưng ngựa, tay ôm cây
vĩ cầm. Rồi tiếng đàn cất lên, vẻ thán phục lộ rõ trên khuôn mặt từng khán