VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG CÁC BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH
TẾ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG CÁC BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật kinh tế
Mã: 8 38 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA
HỌC: PGS.TS NGÔ THỊ HƯỜNG
án, quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân ...................... 46
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI
PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THI HÀNH PHẦN NGHĨA
VỤ DÂN SỰ TRONG CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ ĐÃ CÓ
HIỆU LỰC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN..................................................... 53
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác thi hành
phần NVDS trong Bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án
nhân dân ..................................................................................................... 53
3.2. Giải pháp cụ thể .................................................................................. 55
KẾT LUẬN ................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................... 69
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Kí hiệu
CNH-HDH
Diễn giải
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CHV
Chấp hành viên
NVDS
Nghĩa vụ dân sự
TAND
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án
nhân dân mang tính quyền lực nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết định đã
có hiệu lực của Tòa án trong thực tiễn. Nhiệm vụ của giai đoạn này nhằm thi
hành các hình như phạt tiền, tịch thu tài sản và thi hành các phần quyết định
dân sự khác mà Tòa án áp dụng đối với người bị kết án. Đó cũng chính là việc
tước bỏ một phần hay toàn bộ tài sản của người bị kết án để sung quỹ Nhà
nước hoặc để thu hồi, khắc phục những hậu quả về vật chất mà người phạm
tội đã gây ra; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân góp phần giữ vững kỷ cương, phép nước, tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa. Với ý nghĩa đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình
giải quyết một vụ án, thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình
sự có mối quan hệ hữu cơ với các giai đoạn tố tụng: khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử. Nếu mục đích của thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định
hình sự không đạt được thì hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng: điều
tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô nghĩa.
Thực tiễn thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của
Tòa án từ thực tiến TP. Hà Nội đã bộc lộ một số mặt hạn chế, bất cập, chưa
đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình
hình mới. Do vậy việc nghiên cứu đề tài: "Thi hành nghĩa vụ dân sự trong
các bản án, quyết định hình sự của tòa án nhân dân từ thực tiễn thành phố
Hà Nội" để trên cơ sở đó giải quyết các vướng mắc trong lý luận và thực tiễn
và góp phần hoàn thiện hơn về mặt lập pháp các qui định thi hành nghĩa vụ
dân sự trong bản án, quyết định hình sự.
1
Nguyễn Văn Diễn: “Thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án và quyết
định hình sự của tòa án ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa LuậtĐại học Quốc gia Hà Nội, 2014.
Các công trình nói trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của việc
thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án nhưng
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và tương đối
có hệ thống về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của
tòa án và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản
án, quyết định hình sự của tòa án nhân dân trong phạm vi thành phố Hà Nội
dưới cấp độ một luận văn thạc sĩ Luật học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa lí thuyết qua lí luận chung về thi hành nghĩa vụ dân sự
Phân tích thực trạng thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết
định hình sự từ thực tiến tại Hà Nội
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thi hành nghĩa vụ
dân sự trong bản án, quyết định hình sự.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả của luận văn đã đặt ra và giải quyết
các nhiệm vụ sau:
Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ
quyết định hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự khác trong
bản án, quyết định hình sự cũng như lý luận và thực tiễn về thi hành nghĩa vụ
dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án.
Đánh giá thực tiễn thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định
hình sự của tòa án tại TP.Hà Nội; nêu ra mặt được, mặt chưa được của việc
thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án.
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự
điểm của các nghiên cứu đã được công bố để minh chứng cho các lập luận
đưa ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan
trọng đối với hoạt động thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định
hình sự của tòa án ở Việt Nam. Việc đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao
hiệu quả thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa
án có ý nghĩa góp phần hoàn thiện các qui định của pháp luật về thi hành
nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định hình sự của tòa án, hướng dẫn áp
dụng thống nhất các qui định về thi hành nghĩa vụ dân sự trong bản án,
quyết định hình sự của tòa án, giúp cơ quan thi hành án có các biện pháp
hữu hiệu nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích và tái
hòa nhập với xã hội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thi hành nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình
sự đã có hiệu lực của Tòa án
Chương 2:Thực trạng thi hành phần nghĩa vụ dân sự trong các bản án,
quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa án nhân dân tại các cơ quan
THADS TP.Hà Nội
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi
hành phần nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu
lực của Tòa án nhân dân
Chương1
THI HÀNH NGHĨA VỤ DÂN SỰ TRONG CÁC BẢN ÁN,
QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ ĐÃ CÓ HIỆU LỰC CỦA TÒA ÁN
1.1. Nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự
các hình phạt bố sung. Và có thể thấy trong quá trình giải quyết các vụ án
hình sự đã phát sinh nghĩa vụ dân sự của chủ thể. Đa phần khi Tòa án đưa ra
phán quyết về các vụ án hình sự luôn kết hợp các nghĩa vụ dân sự trong đó.
Các tội danh hình sự như Tàng tữ trái phép chất ma túy, Đánh bạc,
Tổ chức đánh bạc, Giết người, Lạm dụng quyền hạn, Tham ô tài sản, nhận hối
lộ tài sản… khi đưa ra xét xử ngoài các hình phạt chính như phạt tù, chung
than, tử hình… đều kèm theo một hoặc nhiều hình phạt bổ sung khác về nghĩa
vụ dân sự điển hình như là phạt tiền bổ sung, truy thu tiền sung công quy nhà
nước đối với tội danh Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc; bồi thường thiệt hại đối
với tội giết người hay bồi thường một phần nghĩa vụ dân sự đối với người bị
kết án tội tham ô tài sản, nhận hối lộ tài sản nhằm giảm án.
Khi tòa án ra phán quyết cuối cùng trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên
án bị án không có kháng cáo, bản án quyết định hình sự có hiệu lực thì
chuyển giao cho cơ quan thi hành án hình sự thi hành phần nghĩa vụ hình sự
và cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định
đó.
1.1.2. Vai trò, tác động và hiệu quả của việc tổ chức thi hành phần
nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực của Tòa
án nhân dân đối với công tác thi hành án dân sự
1.1.2.1. Chức năng nhiệm vụ cơ quan thi hành án dân sự
Ngày 24/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số
13/SL, quy định về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán, trong đó,
khoản 3, Điều 3 của Sắc lệnh quy định: Ban Tư pháp xã có quyền “Thi hành
những mệnh lệnh của các Thẩm phán cấp trên”. Đây chính là văn bản pháp lý
đầu tiên đánh dấu sự ra đời về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Thi hành
án dân sự trong chế độ mới; tiếp đó ngày 19/7/1946 Chủ tịch Chính phủ Việt
Nam Dân chủ cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 130/SL quy định về thể thức thi
hành mệnh lệnh hoặc bản án của Tòa án. Có thể nói, đây là văn bản của Chính
Bộ Tư pháp Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan: Sắp
xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế công chức, tăng cường cơ sở vật chất
cho các cơ quan thi hành án dân sự bảo đảm triển khai thực hiện có hiệu quả
công tác thi hành án hành chính.
Để tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, ngày 25 tháng 11
năm 2014 tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ
sung Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2015, ngày 20 tháng 7 năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số
62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi bổ sung
một số điều của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản này đã tạo hành lang
pháp lý vững chắc cho công tác thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu
quả công tác thi hành án dân sự trong thời gian tới.
Theo quy định pháp luật hiện hành thì cơ quan Thi hành án dân sự là cơ
quan trực tiếp thi hành phần nghĩa vụ dân sự trong bản án, quyết định của Tòa
án. Khi thi hành, cơ quan đã gặp không ít bản án, quyết định thiếu sót, vi
phạm được thể hiện ngay trong bản án, quyết định đó. Chính vì thế, để tạo
điều kiện thuận cho cơ quan thi hành bản án, quyết định một cách nhanh
chóng, đúng pháp luật thì Luật thi hành án dân sự đã quy định rõ nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan Thi hành án tại điều 14,15,16 Luật Thi hành án dân sự
năm 2008 sửa đổi năm 2014, trong đó:
Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh bao
gồm:
- Quản lý, chỉ đạo về thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương, bao gồm:Bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy
định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự;Chỉ đạo hoạt động thi
hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; hướng dẫn
nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên, công chức khác của cơ
quan thi hành án dân sự trên địa bàn;Kiểm tra công tác thi hành án dân sự đối
- Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự.
- Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 174 của Luật này.
- Báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân khi có
yêu cầu.
Trình tự thủ tục thi hành án
- Thụ lý thi hành án: tiếp nhận yêu cầu thi hành án, bản án, hồ sơ ủy
thác; kiểm tra, xử lý yêu cầu thi hành án, bản án, hồ sơ ủy thác; ra quyết định
thi hành án, phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành án.
- Tổ chức thi hành án: lập hồ sơ thi hành án; thông báo về thi hành án;
xác minh điều kiện thi hành án; xác minh việc chưa có điều kiện thi hành án,
công khai thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án;
tạm đình chỉ thi hành án , đình chỉ thi hành án, ủy thác thi hành án; miễn giảm
nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách; kiến nghị, xem xét lại
bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; áp dụng biện pháp
đảm bảo thi hành án; ra quyết định cưỡng chế thi hành án; tổ chức cưỡng chế
thi hành án; thực hiện thẩm định giá tài sản; thược hiện bán đấu giá tài sản;
tiêu hủy vật chứng, xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung
công quỹ; trả lại tiền, tài sản tạm giữ cho đương sự; thu tiền, thanh toán tiền
thi hành án, thu phí thi hành án; xác nhận kết quả thi hành án; rà soát hồ sơ thi
hành án.
- Thẩm tra, lưu trữ hồ sơ thi hành án: Thẩm tra hồ sơ thi hành án; lưu
trữ hồ sơ thi hành án.
1.1.2.2. Vai trò, tác động và hiệu quả của việc tổ chức thi hành phần
nghĩa vụ dân sự trong các bản án, quyết định hình sự
Thứ nhất, đảm bảo cho công tác xét xử diễn ra đúng luật, hợp lí. Việc
thi hành nghĩa vụ trong bản án quyết định dân sự chính là góp phần đảm bảo
cho công tác xét xử,thi hành án diễn ra đúng trình tự, thủ tục pháp luật. Thực
một trong những nội dung quan trọng của hoạt động thi hành án dân sự. Theo
quy định tại Điều 1 “Phạm vi điều chỉnh” và mục 1 Chương V Luật Thi hành
án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật THADS) thì những vụ
việc dân sự phải thi hành án trong bản án, quyết định hình sự thuộc thẩm
quyền của cơ quan THADS bao gồm: hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu
tiền (truy nộp), tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và thi
hành nghĩa vụ cấp dưỡng; bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm; bồi thường thiệt hại về tài sản…
- Án phí hình sự: là án phí mà người bị xử phạt về hình sự phải nộp vào
ngâ
n
ph
úc
thi
ệt
mứ
c
dân
sự.
khá
ng
sơ thẩm thì ngườikháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.Theo danh
mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy đinh về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban
thường vụ quốc hội thì mức án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc
thẩm là 200.000 đồng/ bị cáo.
- Phạt tiền: là hình phạt có tính chất kinh tế, nhằm vào tài sản của người
tang trữ, vận chuyển, mua bán, lưu hành, như: vũ khí quân dụng, pháo nổ, ma
túy, chất phóng xạ, chất nổ, văn hóa phẩm đồi trụy,… Đây là những vật mà
người phạm tội sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc là đối tượng
của việc thực hiện tội phạm. Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật
cấm lưu hành, là tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ
Nhà nước. Tuy nhiên, nếu vật không còn giá trị sử dụng, vật cấm lưu hành là
các chất ma túy, văn hóa phẩm đồi trụy thì tuyên tịch thu nhưng không sung
quỹ Nhà nước mà tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- Tịch thu tài sản: là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu
của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước.Theo điều 45 Bộ luật hình
sự có nêu: Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội
phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng xâm phạm đến an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham
nhũng hoặc tội phạm khác do Bộ luật này quy định. Khi tịch thu toàn bộ tài
sản vẫn để cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện để sinh sống. Ví
dụ: Vụ án đường dây ma túy Vũ Xuân Trường được phát hiện ở thời điểm
năm 1996 và đã từng gây chấn động dư luận cả nước. Có 34 đối tượng tham
gia mua bán, vận chuyển hơn 400kg heroin. TAND TP Hà Nội thời điểm ấy
đã tuyên phạt 8 án tử hình và 7 án chung thân trong vụ án này.Là "đệ tử"
trung thành của Vũ Xuân Trường, bản án đã tuyên Đào Xuân Xe mức án tử
hình, ngôi nhà số 184 Khâm Thiên của Xe bị tịch thu sung công quỹ Nhà
nước và đã được bàn giao lại cho Sở Tài chính - Vật giá quản lý theo đúng
luật định. Hiện nay, ngôi nhà số 184 Khâm Thiên là trụ sở của cơ quan Thi
hành án dân sự quận Đống Đa.
- Truy nộp: là khoản tiền nộp thêm của người phạm tội mà đáng lẽ phải
nộp trước đó để sung quỹ Nhà nước. Biện pháp truy nộp (truy thu tiền)
thường là hình phạt bổ sung đối với các tội danh như đánh bạc, tổ chức đánh
bạc, môi giới mại dâm...
nhau.
1.3.3. Tổ chức bộ máy các cơ quan thi hành án dân sự
Tổ chức bộ máy cơ qaun THADS càng tinh gọn, đơn giản thì công tác
thi hành NVDS càng đạt được hiệu quả tích cực. Ngược lại, bộ máy rườm rà,
cồng kềnh sẽ là yếu tố kìm hãm chất lượng công tác thi hành NVDS, khiến
cho hoạt động thi hành NVDS rời rạc, thiếu tính liên kết, thậm chí mang lại
kết quả tiêu cực.
Trong xu thế hiện nay, các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan
THADS nói riêng thực hiện tinh giản biên chế, đơn giản hóa bộ máy, tăng
cường hiệu lực, hiệu quả, giảm bớt sự cồng kềnh sẽ là yếu tố tiên phong giúp
cho thi hành NVDS trong bản án, quyết định hình sự ngày một nâng cao cả về
lượng cũng như về chất. Tinh giản biên chế giúp giảm tải trình tự, thủ tục trở
nên đơn giản hơn, tránh những sai sót không đáng có, nâng cao hiệu lực bộ
máy nhà nước.
1.3.4. Năng lực của chấp hành viên
Trong thời gian gần đây, công tác thi hành án dân sự (THADS) ngày
càng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Đội ngũ chấp hành viên (CHV) được
tăng cường về số lượng và cả chất lượng. Tuy nhiên, đến nay, THADS vẫn là
một vấn đề bức xúc trong lĩnh vực tư pháp bởi lượng án tồn đọng chưa được
thi hành còn nhiều, số lượng đơn thư khiếu nại vượt cấp còn lớn. Điều này
xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản
là do năng lực của CHV trong THADS còn hạn chế. Bởi vậy, trong tiến trình
cải cách tư pháp hiện nay, nâng cao năng lực của CHV trong THADS, giúp
họ hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra là một vấn đề rất
đáng quan tâm.Năng lực chấp hành viên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác
thi hành NVDS. CHV càng giỏi, chuyên môn cao thì hoạt động thi hành
NVDS càng hiệu quả, chuẩn xác, ngược lại, CHV yếu kém về chuyên
môn,trình độ là yếu tố cản trở công tác thi hành án, gây ra những sai sót, bất