VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM NAM GIANG
TRÌNH TỰ THỦ TỤC, GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM NAM GIANG
TRÌNH TỰ THỦ TỤC, GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI, 2019
LỜI CAM ĐOAN
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam
hiện nay.................................................................................................... 62
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam
hiện nay.................................................................................................... 63
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực hiện thủ tục giải thể doanh
nghiệp tại Việt Nam ................................................................................. 69
KẾT LUẬN ............................................................................................. 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................ 74
9
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian gần đây, hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam đã
có bước phát triển đột phá, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã
hội, góp phần quyết định vào phục hồi tăng trưởng kinh tế và hội nhập
quốc tế.
Tuy nhiên, trong một vòng đời của mình, doanh nghiệp sẽ phải trải
qua nhiều giai đoạn khác nhau từ khi ra đời, phát triển tới lúc chấm dứt
hoạt động. Khi gặp khó khăn, doanh nghiệp có thể tạm ngưng hoạt động
sản xuất, kinh doanh để tìm kiếm các biện pháp khôi phục “năng lực sản
xuất”, cải thiện tình trạng xấu. Đến một thời điểm, khi không thể tiếp tục
hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải chấm dứt sự tồn tại bằng hai hình
thức chủ yếu là giải thế hoặc phá sản.
Khi rơi vào tình trạng buộc phải giải thể, bản thân doanh nghiệp sẽ
phải đối mặt với nhiều khó khăn cần phải giải quyết như: đảm bảo thanh
toán các nghĩa vụ trả nợ, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao
động, mối quan hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp. Trong diễn
biến thị trường kinh tế thế giới có nhiều biến động bất thường, nền kinh tế
thể doanh nghiệp, các quy định của pháp luật Việt Nam về giải thể doanh
nghiệp và thực tiễn áp dụng tại một công ty cổ phần [2]. Nội dung của luận
văn không nghiên cứu sâu về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp theo
quy định của pháp luật Việt Nam và chỉ nghiên cứu trên phạm vi nhỏ hẹp
là tại một công ty cổ phần. Tuy nhiên, những cơ sở lý luận của luận văn,
cách tiếp cận nghiên cứu của luận văn trên rất có ích đối với công trình
nghiên cứu của tác giả.
-
Chuyên đề nghiên cứu: Đỗ Tiến Thịnh, Chuyên đề Giải thể
doanh nghiệp – Thực trạng và kiến nghị (2014), Cục quản lý kinh doanh,
2
Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Tập trung nghiên cứu về vấn đề giải thể doanh
nghiệp, đặc biệt chú trọng đến thực trạng và kiến nghị. Tuy nhiên, chỉ dừng
lại ở hình thức chuyên đề nên nội dung không nghiên cứu sâu về các quy
định pháp luật cũng như trình tự thủ tục, thực tiễn áp dụng mà chỉ tập trung
và thực trạng giải thể và kiến nghị. Những ý kiến, nội dung của kiến nghị
trong chuyên đề là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với luận văn của
tác giả.
Một số bài viết: TS Nguyễn Thị Dung, Bài viết Thực trạng pháp luật
về giải thể doanh nghiệp, một số đánh giá và kiến nghị, Tạp chí Luật học
số 10 (2012) [1]; Nguyễn Thị Diễm Hường, Pháp luật về giải thể doanh
nghiệp, thực trạng và kiến nghị, Tạp chí Công thương số 7-tháng
7(2016)…Các bài viết của các tác giả chủ yếu đánh giá về thực trạng pháp
luật giải thể doanh nghiệp và nêu ra các kiến nghị nhằm nâng cao chất
lượng áp dụng pháp luật. Phạm vi đánh giá hoạt động áp dụng pháp luật
Luật thương mại Việt Nam dẫn giải (tác giả Lê Tài Triển) và một số
bài báo, công trình nghiên cứu khác trên các tạp chí, trang web của Bộ tư
pháp, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh...
Về mặt lý luận và thực tiễn, là nguồn tài liệu tham khảo phong phú
và có giá trị lớn đối với luận văn của bản thân tác giả, đối với các học giả,
các doanh nghiệp, tổ chức và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt
Nam.
Luật Doanh nghiệp 2014 mới có hiệu lực từ ngày 01/07/2015, các
công trình nghiên cứu hiện nay vẫn chưa đi sâu vào những đổi mới của thủ
tục giải thể doanh nghiệp hiện tại. Do đó, luận văn là những cập nhập, đánh
giá những mặt tích cực và hạn chế của những quy định pháp luật được ghi
nhận trong Luật Doanh nghiệp 2014 nhằm bổ sung, hoàn thiện thủ tục giải
thể doanh nghiệp trên quan điểm cá nhân.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Giải thể doanh nghiệp là việc các chủ doanh nghiệp chấm dứt hoạt
động kinh doanh và sự tồn tại của doanh nghiệp; đồng thời tiến hành làm
các thủ tục pháp lý với cơ quan quản lí có thẩm quyền về việc giải thể,
nhằm mục đích chấm dứt tư cách pháp nhân và các quyền, nghĩa vụ liên
quan đến doanh nghiệp đó.
Xét từ một khía cạnh khác, giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự
tồn tại của doanh nghiệp theo ý chí của doanh nghiệp hoặc cơ quan có thẩm
quyền với điều kiện doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
Bằng việc tìm hiểu các quy định pháp luật doanh nghiệp hiện hành,
kết hợp với quá trình nghiên cứu những điểm đổi mới từ hướng dẫn trong
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực
tiễn của trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam
hiện nay.
Ngoài ra, các kinh nghiệm về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp
tại một số quốc gia trên thế giới cũng được sử dụng để làm bài học khi áp
dụng tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi như sau:
-
Các quy định về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp của Luật
doanh nghiệp Việt Nam sửa đổi bổ sung 2014 và các quy định, văn bản
pháp luật có liên quan.
-
Thực tiễn giải thể doanh nghiệp của một số doanh nghiệp Việt
-
Về thời gian: Kể từ khi Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực thi
Nam.
hành đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Phương pháp luận sử dụng sự kết hợp triết học duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lê Nin làm cơ sở. Đồng thời phải
doanh nghiệp đánh giá là có chuyển biến đáng kể và đã đạt được những
điểm sáng so với trước đây. Tuy vậy, một số vấn đề còn tồn tại trong các
quy định về giải thể doanh nghiệp cũng như trong thực tiễn thi hành cần
được tiếp tục nghiên cứu xem xét, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, đặc biệt
là trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu
rộng vào nền kinh tế thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi Việt Nam
7
phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính liên quan đến doanh
nghiệp, trong đó có thủ tục hành chính về giải thể doanh nghiệp.
Các quy định về trình tự thủ tục giải thể doanh nghiệp không chỉ tạo
cơ sở pháp lý để chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là
còn bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có liên quan, đặc biệt là quyền lợi
của chủ nợ và người lao động khi doanh nghiệp chấm dứt tồn tại. Tuy
nhiên, trên thực tế khâu triển khai thủ tục giải thể của doanh nghiệp hiện
nay còn những bất cập hoặc vướng mắc đòi hỏi cần được nghiên cứu, đề
xuất những giải pháp nhằm giải quyết khó khăn vướng mắc, để hoàn thiện
các văn bản luật, tạo hành lang pháp lý kinh doanh thông thoáng, thuận lợi
và minh bạch hơn.
Kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tham khảo hữu ích cho
việc nghiên cứu về thủ tục giải thể nói chung và quá trình triển khai thực tế
khi áp dụng Luật doanh nghiệp 2014 nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được sắp xếp rất cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về trình tự thủ tục, giải thể
doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trình tự thủ tục, giải thể doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
được thành lập theo vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về trái
vụ của công ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó góp vào công ty.
Công ty được thành lập dựa trên một thỏa thuận về quản lý điều hành,
9
thường gọi là điều lệ, có thể phát hành các loại chứng khoán để huy động
vốn và được thừa nhận là pháp nhân ở hầu hết các nước. Như vậy, dù định
nghĩa ở góc độ mở rộng là doanh nghiệp hoặc xem xét ở góc độ hẹp là
công ty, thì hình thức thể hiện phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ
chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh doanh.
Theo luật doanh nghiệp của Việt Nam thì “doanh nghiệp là tổ chức
kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh”. Như vậy,doanh nghiệp được xác lập bằng thủ tục thành
lập và đăng ký kinh doanh, có năng lực chủ thể để tham gia các quan hệ
pháp luật và có quyền tự chủ trong các hoạt động kinh doanh.
Từ các cách hiểu trên, có thể khái niệm về doanh nghiệp như sau:
Doanh nghiệp là đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức nhằm tạo
ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên thị trường, thông qua
đó để tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và
quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.
Từ khái niệm trên, ta thấy doanh nghiệp bao gồm các đặc trưng cơ
bản sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp có chức năng sản xuất và kinh doanh, hai
chức năng này liên hệ hết sức chặt chẽ với nhau và tạo thành chu trình
khép kín trong hoạt động của doanh nghiệp. Các hoạt động lẻ tẻ và mang
tính cá biệt không phải là đặc trưng của doanh nghiệp. Chỉ khi một tổ chức
kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho người tiêu
nghiệp, nơi tiến hành hoạt động kinh doanh, nơi doanh nghiệp giao dịch
với các bên có liên quan và để xác định các mối quan hệ với cơ quan Nhà
nước. Trụ sở doanh nghiệp cũng là nơi để các cơ quan quản lý thực hiện
chức năng kiểm tra, giám sát. Để có thể tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp
cần có tài sản. Do vậy, các thành viên phải bỏ ra một số tài sản để góp vào
11
doanh nghiệp. Số tài sản của các thành viên góp vào tạo thành tài sản của
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp muốn được thừa nhận là một pháp nhân, tham gia hoạt
động kinh doanh và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình thì đều phải
đăng ký một cách hợp pháp. Pháp luật nhiều nơi quy định về trình tự, thủ
tục đăng ký hoặc công nhận một tổ chức là doanh nghiệp. Việc đăng ký
thực hiện thông qua thủ tục “hai chiều”, tức là chủ sở hữu khi muốn thành
lập doanh nghiệp phải nộp hồ sơ xin cấp phép, và cơ quan quản lý nhà
nước, khi chấp thuận bộ hồ sơ ấy thì ban hành giấy phép thành lập doanh
nghiệp. Một khi doanh nghiệp được “cấp phép”, nó đương nhiên được thừa
nhận ra đời, được pháp luật bảo hộ và phải chịu sự ràng buộc bởi các quy
định pháp lý có liên quan. Tính hợp pháp không chỉ thể hiện ở việc doanh
nghiệp xin phép đăng ký và được cấp phép thành lập và hoạt động, để nhà
nước ghi nhận sự hình thành hay tồn tại của doanh nghiệp, mà còn thể hiện
ở việc, khi tham gia vào các quan hệ xã hội, doanh nghiệp cũng là một thực
thể độc lập và phải chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình, bằng tài
sản riêng của mình.
1.1.2. Khái niệm, bản chất và đặc điểm của giải thể doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể gặp phải
những khó khăn khiến doanh nghiệp phải ngừng hoạt động sản xuất kinh
doanh hoặc chấm dứt sự tồn tại của mình. Việc ngừng hoạt động sản xuất
nghiệp, bởi họ tự nguyện góp vốn thành lập doanh nghiệp thì họ cũng là
người có quyền tự thoả thuận việc giải thể doanh nghiệp. Các chủ sở hữu
doanh nghiệp với tư cách là người “khai sinh” ra doanh nghiệp thì cũng có
quyền “khai tử” cho doanh nghiệp khi cần. Các chủ sở doanh nghiệp cùng
nhau bàn bạc, thỏa thuận và đi đến quyết định chấm dứt sự tồn tại của
doanh nghiệp. Nó có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với tất cả các thành
13
viên, cổ đông trong doanh nghiệp, kể cả những người không tham gia giao
kết, không biểu quyết tán thành.
Với trường hợp doanh nghiệp bị buộc phải chấm dứt sự tồn tại của
mình theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền bằng hình thức giải thể thì
được hiểu là khi doanh nghiệp rơi vào một trong các trường hợp pháp luật
quy định, cơ quan Nhà nước sẽ yêu cầu chủ sở hữu doanh nghiệp phải ra
quyết định giải thể. Như vậy, việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp
trong trường hợp này là phụ thuộc vào ý chí của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền. Ý chí đó được thể hiện thông qua việc yêu cầu chủ sở hữu doanh
nghiệp thực hiện thủ tục giải thể.
Tóm lại, về bản chất thì giải thể doanh nghiệp chính là một sự thỏa
thuận hoặc hành vi pháp lý đơn phương trước pháp luật và nhà nước để
chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, việc chấm dứt sự tồn tại này phụ
thuộc vào ý chí của bản thân doanh nghiệp hoặc ý chí của cơ quan có thẩm
quyền.
Từ khái niệm giải thể doanh nghiệp, ta có thể rút ra một số các đặc
trưng cơ bản sau:
Một là, giải thể doanh nghiệp là quá trình diễn ra với các hoạt động
thanh lý tài sản, thanh toán nợ và hoạt động pháp lý thực hiện thủ tục hành
chính để "xóa tên” doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh, là một
buộc phải quyết định giải thể doanh nghiệp trên cơ sở quyết định đình chỉ
hoạt động, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của cơ quan có
thẩm quyền hay quyết định của Toà án. Trong trường hợp này, mặc dù
không trực tiếp ra quyết định giải thể nhưng về bản chất, có thể coi cơ quan
nhà nước có thẩm quyền là chủ thể quyết định giải thể doanh nghiệp, vì
chủ sở hữu doanh nghiệp ra quyết định giải thể mà không xuất phát từ tự
do ý chí của mình.
15
Như vậy, giải thể doanh nghiệp thể hiện được tính chủ động cho mỗi
doanh nghiệp trước tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mình vì giải thể
doanh nghiệp có yếu tố tự quyết của chủ doanh nghiệp. Thủ tục giải thể
doanh nghiệp bản chất lại là thủ tục hành chính nên thời gian giải quyết
một vụ giải thể có thể sẽ ngắn và đơn giản hơn.
Doanh nghiệp giải thể chỉ đơn thuần là giải quyết dứt điểm tình trạng
công nợ, thanh lý tài sản chia cho các cổ đông, trả giấy phép. Giám đốc
doanh nghiệp giải thể có thể đứng ra thành lập, điều hành công ty mới.
Doanh nghiệp giải thể sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản vẫn có
thể chuyển sang một ngành nghề kinh doanh khác nếu có thể. Đối với nền
kinh tế, giải thể có tác dụng tích cực sắp xếp lại sản xuất theo hướng có
hiệu quả hơn. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn tìm tòi,
sáng tạo, thích ứng với môi trường kinh doanh thường xuyên biến động
hiện nay.
1.1.3. Phân biệt giải thể doanh nghiệp với các trường hợp chấm dứt
hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, chấm dứt sự tồn tại khi được tổ
chức lại doanh nghiệp hoặc bị phá sản. Đối với mỗi trường hợp, bản chất
chung là chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, nhưng vẫn có những đặc
có thể sáp nhập vào một doanh nghiệp khác bằng cách chuyển toàn bộ tài
sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang doanh nghiệp nhận sáp nhập.
Khi sáp nhập doanh nghiệp thì doanh nghiệp mới không được thành lập
(doanh nghiệp được sáp nhập vẫn tồn tại) nhưng các doanh nghiệp bị sáp
nhập sẽ chấm dứt sẽ tồn tại. Doanh nghiệp nhận sáp nhập được hưởng các
quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh
toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp bị sáp
nhập.
17
Chuyển đổi doanh nghiệp, là trường hợp chuyển đổi qua lại giữa các
loại hình doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể được chuyển
đổi thành công ty cổ phần hoặc ngược lại; doanh nghiệp tư nhân có thể
được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn (chuyển đổi hình thức
pháp lý). Sau khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được chuyển đổi chấm
dứt tồn tại; doanh nghiệp chuyển đổi được hưởng các quyền và lợi ích hợp
pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao
động và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp được chuyển đổi.
Như vậy, các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp về bản chất là do
chính chủ sở hữu doanh nghiệp thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả trong
hoạt động kinh doanh.
Thứ nhất, về chủ thể quyết định.
Đối với giải thể doanh nghiệp thì chủ thể quyết định là chủ doanh
nghiệp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua quyết định thu hồi
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp bị thu hồi Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì buộc phải tiến hành giải thể. Đối với
tổ chức lại doanh nghiệp thì chủ thể quyết định là chủ doanh nghiệp. Như
vậy, chủ thể quyết định đối với trường hợp giải thể doanh nghiệp ngoài chủ
-
Phân biệt giải thể doanh nghiệp với phá sản doanh nghiệp
Các văn bản pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa thế nào là
phá sản, phá sản doanh nghiệp mà chỉ giải thích khi nào thì doanh nghiệp/
hợp tác xã được coi là “lâm vào tình trạng phá sản”.
Như vậy, phá sản dù chưa định nghĩa thống nhất nhưng về cơ bản
được sử dụng để chỉ sự đổ vỡ trong hoạt động kinh doanh của một doanh
nghiệp hoặc cá nhân.
Giải thể doanh nghiệp thực chất đó là việc chấm dứt sự tồn tại, hoạt
động của doanh nghiệp theo ý chí của doanh nghiệp hoặc cơ quan có thẩm
quyền với điều kiện doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh
nghiệp đều là thủ tục chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp. Tuy nhiên,
giữa giải thể và phá sản doanh nghiệp về cơ bản là khác nhau:
Thứ nhất, về nguyên nhân của hiện tượng: Giải thể doanh nghiệp
xuất phát từ nhiều lý do như chủ doanh nghiệp không muốn tiếp tục kinh
doanh hoặc hết thời hạn kinh doanh hoặc đã hoàn thành được mục tiêu đã
định hoặc không thể tiếp tục kinh doanh vì làm ăn thua lỗ. Hoặc doanh
nghiệp phải tiến hành giải thể theo yêu cầu quản lý nhà nước khi mà doanh
nghiệp không còn đủ điều kiện tồn tại theo luật định hoặc có vi phạm pháp
luật. Trong khi đó, phá sản doanh nghiệp chủ yếu xuất phát từ việc doanh
20
nghiệp lâm vào tình trạng không có khả năng thanh toán được các khoản
nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu 2, tr.14.
Thứ hai, về chủ thể quyết định giải thể: Giải thể doanh nghiệp về cơ