SKKN một số giải pháp dạy văn bản cô bé bán diêm ngữ văn 8 theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THTHCS quang trung - Pdf 57

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỤC LỤC

GIẢI PHÁP DẠY VĂN BẢN “CÔ BÉ BÁN DIÊM”
(AN-ĐÉC-XEN) - NGỮ VĂN 8 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TH&THCS
QUANG TRUNG - THỊ XÃ BỈM SƠN

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Vân
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường TH&THCS Quang Trung
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Ngữ văn

BỈM SƠN NĂM 2018


Các đề mục

1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3

5
Xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực người học
6
theo trình độ học sinh
Hệ thống bài tập phát huy năng lực học sinh
7
Thực hiện dạy học tăng cường sử dụng công nghệ thông tin
10
Bồi dưỡng năng lực tự học tích cực đối với học sinh
10
Kết luận và kiến nghị
19

1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là một xu hướng dạy học
hiện đại được nhiều nước trên thế giới đã và đang áp dụng. Văn kiện đại hội XII
của Đảng ghi rõ “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của


giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của
người học”. Giáo dục nước ta những năm gần đây đã đổi mới dạy học theo
chuẩn kiến thức kĩ năng nhưng vẫn còn quá chú trọng truyền thụ hệ thống tri
thức khoa học mà chưa chú trọng đến chủ thể người học cũng như khả năng ứng
dụng tri thức đã học vào những tình huống thực tiễn. Trước bối cảnh đó và để
chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông
sau năm 2018, việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển
năng lực người học thực sự là điều cần thiết.
Ngữ văn từ lâu được coi là môn học công cụ có vai trò rất quan trọng đối
với việc định hướng phát triển năng lực học sinh. Tuy nhiên thực tiễn dạy học

1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của sáng kiến là năng lực cần phát triển cho học
sinh khi học văn bản Cô bé bán diêm - Ngữ văn 8, HS trường THCS Quang
Trung, Thị xã Bỉm Sơn.
1.4. Phương pháp nghiên cứu


Xuất phát từ mục đích, đối tượng nghiên cứu, sáng kiến được tiến hành
với các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp khảo sát thực tiễn
- Phương pháp phân tích, so sánh, quy nạp
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

2. NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận
Nghị quyết 29 của ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8( Khóa XI)
đã nêu rõ yêu cầu “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Trong đó
việc đổi mới giáo dục phổ thông được xem là khâu đột phá. Nội dung trọng tâm


của việc đổi mới căn bản toàn diện giáo dục phổ thông là sự phát triển năng lực
người học, từ đó nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực trong chiến lược phát
triển đất nước”.
Thứ trưởng Bộ giáo dục đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cũng đã khẳng định
“Dạy học phát triển năng lực là đổi mới căn bản cốt lõi nhất của đổi mới giáo
dục hiện nay”
Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Dung (Học viện quản lý giáo dục) thì cho rằng:
“Đổi mới giáo dục là chúng ta không quá chú trọng vào mục tiêu kiến thức,

kết trong quá trình dạy học để bạn bè đồng nghiệp cùng trao đổi nhằm nâng cao
chất lượng dạy học môn Ngữ văn phù hợp với xu thế đổi mới hiện nay.
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
* Về chương trình sách giáo khoa
- Các câu hỏi trong SGK và sách bài tập Ngữ văn 8 hiện hành, những câu hỏi
thiên về khai thác nội dung chiếm tỷ lệ cao.
- Những câu hỏi phát huy tính tích cực, tính sáng tạo của HS không nhiều.


- Các câu hỏi khái quát thường là quá khó đối với HS.
* Về phía giáo viên:
- Giáo án của GV chủ yếu là các hoạt động để giải quyết các nội dung
kiến thức trong bài học, ít có phần thiết kế cho các hoạt động phát triển năng lực
hay lồng ghép bài tập phát triển năng lực vào trong kế hoạch giảng dạy.
- Trong giờ dạy, đa số GV chỉ chú ý và cố gắng giảng hết những phần nội
dung đã được trình bày trong SGK, rất ít, thậm chí không đưa thêm những câu
hỏi hay bài tập nhằm mở rộng có tác dụng phát triển năng lực học sinh.
- Việc rèn luyện năng lực chưa thực sự hấp dẫn, chưa gây hứng thú cho
người học. Giáo viên còn truyền thụ kiến thức một chiều, không dám để HS tự
do tranh luận vì sợ làm mất thời gian, không hoàn thành được bài dạy. Các hoạt
động trao đổi, thảo luận được tiến hành rất nhanh, rất gấp gáp, dường như cho
xong việc. Cách làm này thực sự cản trở sự phát triển năng lực trong học tập của
HS. Giáo viên vô tình ''thả nổi'' HS, để HS ''bơi'' trên những đơn vị kiến thức mà
các em chưa được chuẩn bị để tiếp nhận.
Tất cả những cách thực hiện như nêu trên của GV trong giờ dạy dẫn đến
hệ quả là không phát huy được năng lực của HS đối với môn Ngữ văn nói chung
cũng như phân môn đọc hiểu văn bản truyện nói riêng.
* Về phía học sinh:
Đối với bộ môn Ngữ văn, bên cạnh một số em học sinh ham học và yêu
thích văn chương, rất nhiều em thờ ơ với việc học Ngữ văn ở các trường phổ

%

SL

%

10

25,0

17

42,5

13

32,5

Thực trạng trên cho thấy việc phát triển năng lực người học chưa được
quan tâm đúng mức, đòi hỏi cần thay đổi và khắc phục.
2.3. Một số giải pháp dạy học văn bản truyện Cô bé bán diêm - Ngữ văn 8
theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
Để phát triển năng lực người học, có rất nhiều nhóm giải pháp khác nhau
về những năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Trong khuôn khổ của sáng


kiến, người viết chỉ trình bày một số giải pháp cơ bản gắn liền với một tiết dạy
cụ thể:
2.3.1. Cải tiến các phương pháp dạy học
a. Cải tiến phương pháp dạy học truyền thống:

việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập. Học sinh được tăng cường vận dụng kiến
thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức
một cách máy móc thông qua đó phát triển được những năng lực cần thiết, nhất
là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống.
Ví dụ 1: Dạy văn bản: Cô bé bán diêm có thể vận dụng một số biện pháp
tích hợp như sau:
- Tích hợp theo đặc trưng thể loại :
+ Tích hợp môn Mĩ thuật: chiếu chân dung An-đéc-xen, truyện An-đécxen, tranh minh họa trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 được vẽ lại hoặc chiếu lên
màn hình máy chiếu; vẽ sơ đồ hệ thống sự việc, sơ đồ tư duy.


+ Tích hợp môn Âm nhạc: Chiếu chân dung tác giả trên nền nhạc bài Dấu
chấm hỏi của nhạc sĩ Thế Hiển.
- Tích hợp liên môn qua hệ thống câu hỏi
? Bẳng hiểu biết từ môn Địa lí, em hãy cho biết khí hậu Bắc Âu có đặc
điểm gì ? (Tích hợp môn Địa lí 7).
? Đời sống của người dân tại thành phố lớn của Đan Mạch thế kỉ XIX như
thế nào? (Tích hợp lịch sử)
? Em bé bán diêm chết vì đói, rét, cô đơn trong đêm giao thừa, khi nhà
nhà rực sáng ánh đèn với mùi ngỗng quay sực nức cho em hiểu điều gì về thái
độ của con người?
? Em sẽ hành động thế nào nếu gặp người có hoàn cảnh như cô bé bán
diêm? (Tích hợp môn Giáo dục công dân)
2.3.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi phát triển năng lực người học theo trình
độ học sinh.
Câu hỏi: Đọc- hiểu văn bản Cô bé bán diêm
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng thấp
Vận dụng cao

nét về tác giả
cách rõ nét như màu sắc cổ tích. của chúng ta? Bày tỏ
An-đéc-xen và thế?
Em thấy trong suy nghĩ về những
truyện Cô bé bán
phần truyện này việc làm đó?
diêm?
có chỗ nào giống
-Vì sao em bé và khác
với - Phần kết thúc là một
- Em bé đi bán quẹt diêm?
những truyện cố đoạn truyện gợi nhiều
diêm trong bối - Mục đích ấy có tích mà em đã ám ảnh, suy nghĩ cho
cảnh nào?
toại
nguyện biết?
người đọc. Nhận xét
không? Vì sao?
về kết truyện, có một
- Kể tóm tắt
- Theo em, vì sao số ý kiến cho rằng:
những lần quẹt - Lời kể: giá quẹt nhà văn đã dành Đó là cảnh tượng thật
diêm, thực tế và một que diêm mà phần lớn câu thương tâm. Đó là


mộng tưởng của sưởi cho đỡ rét,
em bé?
đánh liều thể hiện
điều gì?
- Nhà văn đã kể,

mơ của cô bé bán
diêm?

một cáo trạng lên án
thói vô cảm của con
người
Một số ý kiến lại cho
rằng: Đó là cảnh một
cái chết hạnh phúc.
Một kết thúc mang
màu sắc cổ tích.
Nêu cảm nhận riêng
của em?
- Nếu được tưởng
tượng một kết thúc
khác cho truyện, em
sẽ định kể như thế
nào?
- Viết 1 bài thơ 4 chữ,
5 chữ, hoặc thơ lục
diễn tả cảm xúc về
nhân vật, câu chuyện?

2.3.4 Hệ thống bài tập phát huy năng lực người học
Trong nhà trường, học sinh là những người bạn đọc. Mỗi cá nhân có một
tầm đón riêng của mình, cho nên, giáo viên phải tôn trọng tầm đón nhận của các
em và phải biết phân loại tầm đón của học sinh để có chiến lược dạy học cụ thể
và hợp lý. Tầm đón đợi gắn liền với hứng thú, nên nó là động lực để hình thành
năng lực. Trong việc rèn luyện cần có các bài tập thể hiện đúng tầm đón nhận
một cách đa dạng (dựa vào vùng phát triển gần nhất- Vyzgotxki) không quá khó,

? Viết thêm phần kết cho truyện ngắn…
?Ước mơ về một thế giới trong tương lai…
* Bài tập nhóm
Khi được hỏi “Học truyện nước ngoài, em thích loại bài tập nào nhất?”,
có đến 65,4% các em lựa chọn phương án “bài tập nhóm”. Điều này chứng tỏ sự
thích thú của các em khi giải quyết bài tập theo hình thức nhóm học gồm nhiều
HS bởi các em có thể tích cực phát huy được nhiều năng lực khác nhau, có thể là
năng lực độc lập tự chủ, năng lực giải quyết và chọn lọc vấn đề, năng lực sáng
tạo…
Nhóm 1: Hình ảnh cô bé bán diêm hiện lên trong đoạn truyện mở đầu gợi cho
em liên tưởng đến những cảnh ngộ nào đã gặp trong cuộc sống? Em nhớ đã từng
nhìn thấy, đọc truyện, xem phim có những cảnh tượng, nhân vật nào như thế?
Nhóm 2: Theo em, vì sao nhà văn đã không để một bà tiên xuất hiện trong phần
truyện này? (Chẳng hạn, trước lúc em bé quẹt diêm có bà tiên lấy cây đũa thần
chạm vào một bao diêm của em). Em có đồng ý với ý kiến khi cho rằng: chính
vì không có những nhân vật mang phép màu xuất hiện, cảnh tượng những lần
quẹt diêm mới trở nên kì diệu, gây xúc động lòng người đến thế?
Nhóm 3: Vì sao nhà văn đã dành phần lớn câu chuyện để kể về những mộng
tưởng đẹp của cô bé? Nếu truyện chỉ dừng lại miêu tả cảnh ngộ của cô bé thì em
có hiểu được những điều cô bé mơ ước không? Thử tìm thông điệp mà nhà văn
muốn nói với bạn đọc, từ những ước mơ của cô bé?
Nhóm 4: Nhận xét về kết truyện, có một số ý kiến cho rằng đó là một cảnh
tượng thương tâm, là một cáo trạng lên án thói vô cảm của con người; ý kiến
khác lại cho rằng đó là một cái chết hạnh phúc, mang màu sắc cổ tích. Em
nghiêng về ý kiến nào? Có thể nêu cảm nhận, suy nghĩ của riêng em?
- Câu hỏi tìm hiểu giá trị nội dung:
? Liệt kê những lần quẹt diêm? Khi diêm sáng, ảo ảnh hiện lên như thế
nào? Khi diêm tắt trả em về với thực tại ra sao?
- Câu hỏi tìm hiểu giá trị nghệ thuật:
? Sức hấp dẫn về nghệ thuật của tác phẩm do nghệ thuật tiêu biểu nào

ngắn để trình bày trong buổi sinh hoạt Câu lạc bộ Văn học của trường sắp tới.
c. Hoạt động tìm tòi mở rộng
Dạng 1: Tập làm nhà báo
- Thực hiện 1 phóng sự ảnh, đoạn phim ngắn, hoặc 1 bài viết, phỏng vấn 1 em
nhỏ bán báo, đánh giầy… em thường gặp trên đường đi học.
- Tìm kiếm các tư liệu, tin tức … để viết một bài báo về thực trạng trẻ em nghèo
ở Việt Nam hiện nay.
Dạng 2: Tập làm nhà phê bình hội hoạ
- Trình bày những nhận xét của em về tranh minh họa trong sách giáo khoa, một
số bức tranh khác của các hoạ sĩ hoặc các bạn trong lớp vẽ về hình tượng cô bé
bán diêm.
? Tranh minh hoạ trong sách giáo khoa vẽ cảnh gì? Đã thể hiện được hình ảnh
của nhân vật miêu tả trong đoạn truyện này chưa? Nét mặt của cô bé lúc que
diêm cháy sáng đáng lẽ ra phải được thể hiện thế nào?
Dạng 3: Tập làm hoạ sĩ nhí
- Vẽ một bức tranh về truyện Cô bé bán diêm theo ý tưởng của em.
Học sinh biết vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống thực
tiễn: rèn được năng lực huy động kiến thức, năng lực giao tiếp tự tin, sử dụng
ngôn ngữ, màu sắc. Các em có thể vẽ, làm thơ, viết văn xuôi để hoàn thành bài
tập của mình.
Ví Dụ: Minh họa giáo án 1.3 - Phụ lục.
2.3.5: Thực hiện dạy học tăng cường sử dụng công nghệ thông tin


a. Giáo viên
TS Đỗ Ngọc Thống cho rằng “Đã đến lúc nếu không nói là đã quá muộn,
cần nghiên cứu và triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở
bộ môn ngữ văn một cách rộng rãi, đúng hướng và có hiệu quả”.
Ví dụ: Khai thác các đoạn phim về nhà văn An-đéc-xen, bài hát, khúc ngâm dẫn
vào nội dung bài dạy; tranh ảnh về tác giả, các tập truyện, hình ảnh con người

duy kích thích khả năng huy động vốn kiến thức, khắc sâu kiến thức và hiểu bài
lâu hơn. Có thể thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Trình bày kiến thức dưới dạng dàn bài.
Bước 2: Đọc nhẩm (ghi nhớ thầm).
Bước 3: Ghi tóm tắt ra giấy.
Bước 4: Củng cố bài học bằng nhiều cách như tự đặt ra những câu hỏi
trên cơ sở nội dung bài học để tự trả lời.
Hoặc đơn giản hóa khối kiến thức bài học bằng sơ đồ tư duy.


Ví Dụ: Minh họa giáo án 1.4 - Phụ lục.
* MINH HỌA GIÁO ÁN
TiÕt 22: V¨n b¶n:

C« bÐ b¸n diªm (Tiếp theo)
( An-®ec-xen)

I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức
- Khám phá nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, có sự đan xen giữa hiện thực và
mộng tưởng với các tình tiết diễn biến hợp lí.
- Qua đó nhà văn truyền đến cho chúng ta lòng thương cảm của ông đối với em
bé bất hạnh.
2. Kỹ năng
- Tóm tắt được tác phẩm và cách đọc truyện cổ tích An- đéc- xen.
- Nêu cảm nghĩ về một đoạn truyện, viết đoạn văn tự sự đan xen yếu tố miêu tả
và biểu cảm.
- Làm việc nhóm, tham gia các hoạt động trong bài đặc biệt là thực hành, ứng
dụng, bổ sung để phát huy những năng lực bản thân (năng lực giải quyết vấn đề,
năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực sáng tạo, năng lực hợp tác.....)

- Năng


?Trình bày những ấn
tượng sâu sắc của em
về tác giả An- đéc –
xen và hoàn ảnh của
cô bé bán diêm?

- Mời một nhóm lên
trình bày
- Các nhóm khác nhận
xét

II. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
GV chuyển dẫn từ tiết
1. Hình ảnh cô bé
học trước.
bán diêm trong đêm
Gợi nhắc lại hoàn
giao thừa.
cảnh đáng thương của
cô bé bán diêm và
mục đích quẹt những
que diêm.
? Em hãy cho biết
mỗi lần quẹt diêm
những hình ảnh mộng
tưởng nào xuất hiện?
Cùng với nó là hiện

2. Mộng tưởng và
hiện thực
Hiện thực
Lò sưởi biến mất, cô
bé nghĩ thế nào cũng
bị cha mắng
Phố xá lạnh buốt,
khách qua đường thờ
ơ với em
Cô bé đang hoa mắt
vì đói

Dự báo cô bé sắp
chết
Cô bé bán diêm đã
chết

lực hợp
tác.
- Năng
lực tự
giải
quyết
vấn đề

- Năng
lực giao
tiếp
tiếng
Việt.

người.
? Qua những hình ảnh mộng
tưởng, em nhận thấy điều gì
trong vẻ đẹp tâm hồn cô bé bán
diêm?

? Từ khát khao cháy bỏng của
cô bé, ta lắng nghe được bức
thông điệp gì của An- đéc –
xen?
? Qua đó em hiểu gì về tấm
lòng của nhà văn?
GV: chuyển ý

a.Mộng tưởng
* Nhận xét: hình ảnh mộng
tưởng
- Mộng tưởng là sản phẩm
của trí tưởng tượng phong
phú tạo cho câu chuyện
màu sắc cổ tích.
- Những hình ảnh mộng
tưởng đều bắt nguồn từ thực
tế, nó diễn biến theo một
thứ tự tự nhiên và hợp lí.
Rét → Lò sưởi

Đói →bàn ăn

Đón giao thừa, sum họp gia

- Năng
lực cảm
thụ
thẩm mĩ
- Năng
lực giao
tiếp
tiếng
Việt

- Năng
lực
sáng tạo

Năng
lực tự
học


Thế giới cổ tích tuyệt đẹp với
những mộng tưởng tuyệt đẹp
đã tan biến đi thay vào đó là
hiện thực ùa về. Đó là những
hiện thực như thế nào, các em
cùng quan sát lại những chi tiết
trên bảng
? Mỗi khi que diêm tắt cô bé
phải đối mặt với những hiện
thực nào? Từ hiện thực ấy có
cảm nhận được điều gì về số

Việt

- Hiện thực thời tiết: Tê
lạnh, rét buốt.
- Hiện thực cuộc đời cô bé
bán diêm: Nghèo đói, cô
đơn, thiếu tình yêu thương.
? Để làm nổi bật những hình
- Hiện thực xã hội: Mọi
ảnh mộng tưởng và hiện thực
người đều lãnh đạm trước
tác giả đã sử dụng biện pháp HS tự
nỗi khổ của em.
nghệ thuật nào?
bộc lộ
=> Số phận bất hạnh của cô
- Năng
bé bán diêm.
GV chiếu hình ảnh: Mộng
lực

Nghệ thuật
tưởng >
lực
sáng tạo

Gọi học sinh đọc đoạn cuối.
? Có ý kiến cho rằng đoạn kết
là một cảnh thương tâm?
? Em có đồng ý không?
Hs trả
? Tại sao?
lời
HS thảo luận: 3 phút
Hình thức: 2 bàn một nhóm

GV chốt: Hình ảnh cái chết của
cô bé bán diêm bi thương
nhưng không quá bi lụy”

? Vì sao cô bé bán diêm chết?
Trong đó nguyên nhân nào là
chủ yếu?

- Năng
- Đoạn kết là một cảnh lực giải
thương tâm:
quyết
+ Cô bé bán diêm chết vấn đề
trong khung cảnh đầu năm
mới, khi mọi người đang
hưởng niềm vui đón xuân
về.

diêm
- Năng
lực hợp
tác

HS tự
bộc lộ

- Năng
lực tự
học

- Năng
lực giải
- Tấm lòng nhân đạo cao quyết
cả của nhà văn:
vấn đề
+ Lên án sự thờ ơ, lãnh đạm
của mọi người trong xã hội
trước số phận đáng thương
của những mảnh đời bất
Năng
hạnh.
lực hợp


? Từ đó tác giả muốn gửi gắm
bức thông điệp gì?

Hs trao


III. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
? Nêu cảm nhận của em về ý
- Hình ảnh ngọn lửa diêm
nghĩa của hình ảnh ngọn lửa
xuất hiện khi cô bé quẹt
diêm trong tác phẩm Cô bé bán
diêm 5 lần- tương ứng với
diêm.
5 lần mộng tưởng đem đến
- GV yêu cầu học sinh thảo luận HS thảo cho câu chuyện màu sắc
nhóm ( 2 bàn một nhóm) rồi
luận
cổ tích.
viết ra giấy hoặc sử dụng hình
nhóm và - Ánh sáng ngọn lửa diêm
thức khác.
đại diện đã thắp lên ước mơ về tuổi
nhóm
thơ, về mái ấm gia đình,
trình bày. về ấm no hạnh phúc và
ước mong về tình yêu
thương.
- Lửa diêm cũng nhỏ bé
mong manh như số phận
và cuộc đời cô bé bán
diêm.
- Qua hình ảnh ngọn lửa
diêm An- đéc- xen muốn
gửi tới người đọc bức

tác,
thuyết
trình.

V. HOẠT ĐỘNG BỔ SUNG
Nhóm HS
diễn kịch

- Năng
lực hợp
tác

Kịch: Cô bé ăn xin

Học sinh thảo
luận
Cá nhân trình
bày ý kiến,
quan điểm

- Năng
lực
đánh
giá,
nhận
xét.
-Năng
lực tự
quản
bản

năng lực

SL

%

SL

%

SL

%

26

65,0

8

20,0

6

15,0


Sau khi thực hiện các biện pháp trên tôi nhận thấy bản thân tự tin và chủ
động hơn khi dạy các tác phẩm truyện, tiết dạy trở nên sôi nổi, học sinh tích cực
học tập và tham nhiệt tình vào các hoạt động học tập.

đồng tâm và cùng khắc phục.
3.2.3. Đối với nhà trường.
Bổ sung cơ sở vật chất, xây dựng các phong học đa chức năng hiện đại
để tổ chức một giờ học theo phương pháp mới thực hiện dễ dàng hơn.
Trên đây là những kinh nghiệm của cá nhân trong việc dạy văn bản Cô bé
bán diêm (An-đec-xen) theo định hướng phát triển năng lực học sinh mà tôi đã
áp dụng thành công. Tuy vậy, đề tài nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Bỉm Sơn ngày 12 tháng 4 năm 2018
CAM KẾT KHÔNG COPPY
Người viết

Nguyễn Thị Thanh Vân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 8 - Tập 1. NXB giáo dục Việt Nam (2014)
2. Sách giáo viên Ngữ văn 8 - Tập 1. NXB giáo dục Việt Nam (2014)


3. Sách thiết kế bài dạy Ngữ văn 8 - Tập 1. NXB giáo dục Việt Nam (2014)
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục
trung học phổ thông môn Ngữ văn. Nxb Giáo dục.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh môn
Ngữ văn cấp trung học cơ sở.
6. Phan Trọng Luận (1999), Phương pháp dạy học Văn. Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội.
7. Nguyễn Viết Chữ (2005), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo

Sơn
văn 6.
3. Chốt lại kiến thức cơ bản cho học sinh Sở
C
GD&ĐT
lớp 7.
Thanh Hóa
4. Phương pháp dạy văn tự sự cho học
PGD Bỉm
B
Sơn
sinh lớp 6.
5. Nguyên nhân và biện pháp khắc phục
PGD Bỉm
B
Sơn
các lỗi viết hoa ở học sinh.
6. Nâng cao hiệu quả dạy bài “Hồi hương Sở
C
GD&ĐT
ngẫu thư” (Hạ Tri Chương) cho học
Thanh Hóa
sinh lớp 7.
6
Dạy bài “Tiếng gà trưa” (Xuân Quỳnh) Sở
C
GD&ĐT
cho học sinh lớp 7.
Thanh Hóa
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status