skkn; phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa 11 theo định hướng phát triển năng lực học sinh - Pdf 50

MỤC LỤC
Trang
A.MỞ ĐẦU
1. Lí do viết sáng kiến
2.Mục tiêu của sáng kiến
3. Giới hạn của sáng kiến
3.1. Về đối tượng nghiên cứu
3.2. Về không gian
3.3. Về thời gian
B. NỘI DUNG
1. Cơ sở viết sáng kiến
1.1. Cơ sở khoa học
1.2. Cơ sở chính trị, pháp lí
2. Thực trạng vấn đề cần giải quyết
3. Các giải pháp thực hiện
3.1. Phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường
trong giảng dạy địa lí
3.1.1. Phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường
trong khi soạn giảng
3.1.2. Phương pháp sử dụng bản đồ trong việc thực hiện các bước lên lớp
3.1.3.Chú ý sử dụng bản đồ để nêu câu hỏi trong quá trình giảng dạy
3.1.4. Chú ý tổ chưc hướng dẫn học sinh được rèn luyện kỉ năng
3.1.5. Trong bước hướng dẫn học sinh học ở nhà
3.2. Một số bđ giáo khoa treo tường được sử dụng trong chương trình địa
lí 11
3.3. Sản phẩm minh chứng
4. Hiệu quả của sáng kiến
C. PHẦN KẾT LUÂN
1. Kết luận
2. Kiến nghị
Tài liệu tham khảo



- SGK: sách giáo khoa
- LB: liên bang
- SKKN: sáng kiến kinh nghiệm
- KT – XH: kinh tế - xã hội
- GD – ĐT: giáo dục – đào tạo

A. MỞ ĐẦU
1. Lí do viết sáng kiến:

2


Trong những năm qua chúng ta đã và đang tường bước thay đổi cách dạy - học
mới hướng vào học sinh hơn; đó là phương pháp “lấy học sinh làm trung tâm” với
phương pháp dạy - học này đòi hỏi học sinh phải làm việc nhiều hơn bằng sự
hướng dẫn của giáo viên, các em tự tìm ra kiến thức trên sách giáo khoa, tranh ảnh,
bản đồ và các đồ dùng trực quan khác. Đặc biệt với bộ môn Địa lí sử dụng bản đồ
nói chung và bản đồ giáo khoa treo tường là một công cụ, một phương tiện cho
việc dạy học địa lí. Thực sự bản đồ không chỉ là đồ dùng trực quan cũng không chỉ
là một phương tiện để minh họa kiến thức mà chính là nội dung sách giáo khoa
được ghi lại bằng ước hiệu.
Thực tế hiện nay, với chương trình cải cách sách giáo khoa, cũng như việc áp
dụng phương pháp dạy học mới. Các phương tiện dạy - học ở các môn học nói
chung và môn Địa lí nói riêng ngày một nhiều. Đôí với bộ môn Địa lí được trang bị
thêm nhiều bản đồ giáo khoa treo tường mới với nhiều nội dung, nhiều nguồn
thông tin, kiến thức…được thể hiện trên đó, Song việc đưa vào giảng dạy thì chưa
được hiệu quả. Qua trao đổi, dự giờ với nhiều giáo viên trong trường và đồng
nghiệp ở các trường bạn thì việc đưa các bản đồ giáo khoa treo tường có hiện nay

Năm học 2016 - 2017

B. NỘI DUNG
1. Cơ sở viết sáng kiến:
4


1.1 Cơ sở khoa học:
1.1.1. Khái niệm bản đồ Địa lí
Khái niệm bản đồ địa lí là khái niệm được học sinh tiếp nhận ngay từ những
bài học đầu tiên của chương trình THPT, với định nghĩa: “Bản đồ là hình vẽ thu
nhỏ trên giấy, tương đối chính xác về một khu vực hay về toàn bộ Trái Đất.”
“Bản đồ địa lí là mô hình kí hiệu hình tượng không gian của các đối tượng và
các hiện tượng tự nhiên, xã hội, được thu nhỏ được tổng hợp hóa theo một cơ sở
toán học nhất định nhằm phản ánh vị trí, sự phân bố và mối tương quan của các
đối tượng, hiện tượng, cả những biến đổi của chúng theo thời gian để thỏa mãn
mục đích, yêu cầu đã xác đinh trước.” (K.A.Salishev)
“Bản đồ là hình ảnh thực tế của địa lí, được kí hiệu hóa, phản ánh các yếu tố
hoặc các đặc điểm địa lí một cách có chọn lọc, kết quả từ sự nỗ lực, sáng tạo trong
lựa chọn của tác giả bản đồ và được thiếtdụng để sử dụng chủ yếu liên quan đến
các mối liên hệ trong không gian” (Hội bản đồ thế giới)
Các định nghĩa trên hoàn toàn xác thực với bản đồ Địa lí
1.1.2. Khái niệm bản đồ giáo khoa Địa lí và bản đồ giáo khoa treo tường
* Bản đồ giáo khoa Địa lí
U.C.Bilich và A.C.Vasmuc đã định nghĩa: “Bản đồ giáo khoa là những bản đồ
sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng dạy và học tập ở
tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ thống giáo dục cho
tất cả các tầng lớp dân cư từ học sinh cho đến việc đào tạo các chuyên gia. Những
bản đồ đó được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, trước hết là Địa lí và Lịch
sử” [5]

xem bản đồ giáo khoa như thế, mà coi nó là một nguồn tài liệu độc lập, nghĩa là
bản đồ giáo khoa vừa là công cụ để dạy học địa lí, vừa là nguồn tư liệu khoa học
độc lập, là đối tượng nghiên cứu những kiến thức địa lí. Bản đồ được xem như một
cuốn sách giáo khoa địa lí thứ hai.
Các sản phẩm bản đồ giáo khoa được sử dụng rất rộng rãi ở các bậc học khác
nhau từ cấp cơ sở đến đại học, ở các trường Trung học chuyên nghiệp của nhiều
ngành nghề khác nhau, kể cả các bản đồ giáo khoa có đặc trưng riêng phục vụ việc
dạy học ở các trường khiếm thị, khuyết tật. Hệ thống sản phẩm bản đồ giáo khoa
vừa phải đủ kiểu loại để phục vụ mọi phương pháp dạy học, học, nghiên cứu, kiểm
tra, đối thoại, ôn tập và làm bài tập, xây dựng sơ đồ, bình đồ địa thế…

6


Những kiến thức cơ bản về sự thành lập và nhất là sử dụng bản đồ là cơ sở của
hệ thống kiến thức bản đồ ban đầu được nhà trường cung cấp cho học sinh không
thông qua một môn bản đồ học riêng mà thông qua việc học địa lí từ lớp 6 trở lên.
Thế giới hiện đại đòi hỏi mỗi công dân phải hiểu và biết bản đồ - những kiến thức
rất cần để làm việc ở hầu hết các ngành kinh tế quốc dân, dù là quản lí, lập quy
hoạch, thiết kế, thi công… trong dân sự cũng như trong quân đội. Điều đó có nghĩa
là cả trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước đều không thể không biết bản
đồ, dù là ở mức văn hoá chung.
1.1.3. Đặc điểm của bản đồ giáo khoa treo tường
* Tính khoa học của bản đồ giáo khoa
Tính khoa học được biểu thị ở độ chính xác tương ứng về mặt địa lí giữa bản
đồ và thực địa, độ chính xác về cơ sở toán học bản đồ. Bản đồ địa lí được xây dựng
theo quy luật toán học nhất định, theo tỉ lệ nhất định. Quy luật toán học biểu hiện rõ
ở tính đơn trị và tính liên tục của việc biểu hiện bản đồ. Tính đơn trị biểu hiện ở
chỗ một điểm bất kì trên bản đồ có toạ độ x và y chỉ tương ứng với một điểm trên
bề mặt đất và mỗi kí hiệu đặt trên điểm này chỉ có một ý nghĩa cố định rõ ràng

pháp biểu thị trực quanhơn và phần lớn là vượt ra ngoài điều kiện cho phép của tỉ lệ
bản đồ. Tiêu chuẩn để đánh giá tính trực quan của bản đồ là thời gian dùng để nhận
biết và hiểu nội dung bản đồ. Những dấu hiệu dùng trên bản đồ cần có hình dạng và
mầu sắc gần với thực tế để học sinh có thể nhanh chóng nhận biết nội dung của
hiện tượng được phản ánh và nhớ lâu.
Mọi người đều thừa nhận là trong một bài giảng địa lí nếu dùng bản đồ như một
đồ dùng trực quan thì bài giảng sẽ dễ hiểu và có sức hấp dẫn đối với học sinh. Tuy
nhiên, không nên lạm dụng tính trực quan mà cần phải lựa chọn giới hạn một cách
hợp lí cho tính trực quan để khỏi gây ra những ảnh hưởng phản tác dụng.
* Tính chọn lọc và tính tổng hợp của bản đồ giáo khoa
Tất cả những riêng biệt và những hiện tượng trong thực tế nhiều khi không thể

8


hiện được hết trên bản đồ mà có sự chọn lọc. Chẳng hạn, trong các nhân tố hình
thành khí hậu trên lãnh thổ, người ta chỉ lựa chọn lượng mưa và nhiệt độ để biểu
hiện. Các yếu tố khác như áp suất, gió… đều bị loại bỏ
Bản đồ không chỉ có tính chọn lọc mà còn có tính tổng hợp. Tính tổng hợp thể
hiện ở sự thống nhất các hiện tượng và quá trình trong thực tế. Chẳng hạn, muốn
hiểu biết đặc điểm phát triển kinh tế của một đất nước phải biểu hiện các nhân tố:
nguồn lực, trình độ phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thu nhập đầu người…
Tính tổng hợp bao giờ cũng liên quan đến những khái niệm, chỉ tiêu và kí hiệu, nhờ
chúng mà có thể phân tích các hiện tượng và các quá trình.
Tính tổng hợp và tính chọn lọc có nhiều trong bản đồ Địa lí. Sự khác nhau của
các tính chất này chỉ là ở mức độ và tính trực quan.
* Tính sư phạm của bản đồ giáo khoa
Tính sư phạm của bản đồ được biểu hiện trên nhiều mặt, nhưng nói chung đều
thống nhất ở chỗ phải đảm bảo tính tương ứng giữa bản đồ với chương trình, sách
giáo khoa, tâm lí lứa tuổi học sinh, hoàn cảnh của nhà trường và hoàn cảnh xã hội.

- Tính sư phạm còn biểu hiện ở sự thống nhất cách ghi chữ, hệ thống kí hiệu,
các phương pháp biểu hiện mà học sinh đã quen biết. Bố cục bản đồ phải hợp lí,
trình bày đẹp để vừa giáo dục óc thẩm mĩ vừa kích thích học sinh say mê làm việc
với bản đồ, đem lại cho các em sự hứng thú học môn địa lí.
Những biểu hiện của tính sư phạm đều có liên quan chặt chẽ với nhau, cùng
thống nhất ở mục tiêu giảng dạy, học tập và được trình bày một cách có hệ thống
trên các loại bản đồ từ lớp dưới lên lớp trên. Sử dụng bản đồ giáo khoa chỉ có thể
đạt được hiệu quả cao nhất khi chúng thành một hệ thống thống nhất.
1.1.4. Những yêu cầu có tính nguyên tắc với bản đồ giáo khoa treo tường
- Bản đồ giáo khoa treo tường phải đảm bảo phương hướng chính trị, khoa học
nhất định. Mỗi một bản đồ đều có tư tưởng chính trị nhất định phục vụ cho mục
đích của bài giảng.

10


- Bản đồ phải phù hợp với nội dung, chương trình sách giáo khoa, phù hợp với
atlat giáo khoa, phù hợp với bản đồ bài tập và các loại bản đồ khác, đồng thời phù
hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh.
- Bản đồ giao khoa không chỉ có tác dụng minh họa cho sách giáo khoa mà
còn là nguồn tri thức độc lập của địa lí, trên đó phản ánh các đặc tính của địa
phương, mối quan hệ của các hiện tượng nhưng không quá tải. Nếu bản đồ chỉ nội
dung sách giáo khoa thì bản đồ sẽ sơ lược và có nhiều chỗ trống. Những tư liệu bổ
sung có tác dụng làm rõ hơn, dễ hiểu hơn những nội dung trong sách giáo khoa.
- Không biến bản đồ giáo khoa thành sơ đồ. Sự bố trí mạng lưới kinh vĩ tuyến
và các đối tượng phải phù hợp với thực tế, sự định vị phải chính xác. Bản đồ là tài
liệu khoa học nên nó phải đảm bảo tính chính xác về mặt toán học. Kích thước,
hình dạng, vị trí, các mối quan hệ không gian của đối tượng thể hiện phải có sự
chính xác và nêu được đặc tính của đối tượng và phân biệt rõ các đối tượng. Yêu
cầu này phải cân đối với các yêu cầu khác.

bản đồ học sinh có thể nhìn bao quát những khu vực lãnh thổ rộng lớn, xa xôi trên
bề mặt Trái Đất mà họ chưa bao giờ có điều kiện đi đến tận nơi để quan sát. Vì
không phải là môn học riêng ở trường phổ thông nên những kiến thức về bản đồ
phải dạy lồng vào các kiến thức địa lí và ngược lại, từ kiến thức về bản đồ giúp học
sinh hình thành những biểu tượng, kĩ năng địa lí dưới sự tổ chức và hướng dẫn của
giáo viên. Đặc biệt hiện nay , hệ thống kỉ năng trong học tập môn địa lí ở trường
THPT rất đa dạng như: phân tích, nhận xét, tổng hợp, so sánh , thu thập, xử lí, trình
bày , vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng và sự vật địa lí…
2.2.2. Một số thuận lợi và hạn chế còn tồn tại trong sử dụng bản đồ giáo khoa
Địa lí 11 trong dạy và học
Trong cuộc sống hằng ngày, trong sản xuất, nhất là trong nền sản xuất xã hội
chủ nghĩa, vai trò của bản đồ ngày càng trở nên quan trọng. Chính vì vậy mà
chương trình cải cách giáo dục đề ra cho giáo viên địa lí những nhiệm vụ khá nặng
nề: Thông qua việc dạy địa lí mà phải trang bị cho học sinh những kiến thức về
bản đồ. Học sinh không chỉ nắm bắt những màu sắc, kí hiệu … của bản đồ. Mà
13


nhiệm vụ đặt ra là phải biết phân tích, đánh gía, thu thập, xử lí, vận dụng các kiến
thức để giả thích các hiện tượng. Tóm lại những kiến thức này được đặt ra ở mức
độ khá cao. Tức là khi tốt nghiệp phô thông học sinh trở thành một công dân, phải
có khả năng đọc và sử dụng bản đồ trong sản xuất, trong chiến đấu. Trong phân
phối chương trình, không có giờ học về bản đồ. Khi dùng bản đồ để dạy địa lí,
cũng là trang bị cho học sinh những kiến thức về bản đồ. Nhận thức một cách đúng
đắn chức năng của bản đồ trong công tác giảng dạy điạ lí có một giá trị quan trọng,
nó ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của người giáo viên, nên vấn đề sử dụng
bản đồ trọng dạy học là vấn đề hết sức quan trong không thể thiếu của mỗi người
giáo viên dạy học địa lí.
*Thuận lợi
Từ kết quả nghiên cứu cho thấy giáo viên và học sinh có nhiều thuận lợi

II năm học 2007-2008. Hơn nữa, mặt bằng học sinh chưa cao tại nhiều lớp cơ bản,
đặc biệt trong trường THPT Yên Châu, bên cạnh những khó khăn khác (cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học của trường…)
Một thực tế hiện nay, đó là bản đồ thì mới nhưng lại thêm phần giáo viên
chưa nhiệt tình hay chưa có thói quen trong vấn đề xử dụng bản đồ trong dạy học
có chăng thì giáo viên chúng ta cứ đến tiết dạy thì giáo viên mới đến phòng thiết bị
để mượn bản đồ để đi dạy tiết đó. Vì vậy khi lên lớp nhiều giáo viên mắc phải
những lúng túng trong sử dụng bản đồ, cũng như nói những kiến thức trong bản đồ
và các kỉ năng xử dụng còn mập mờ. Bởi vì, đó là những bản đồ mới nhưng giáo
viên thì chưa chú ý đến nó trong khi soạn bài, cũng như chú ý đến các kỉ năng xử
dụng bản đồ và một tâm lí còn chủ quan trong xử dụng bản đồ.
2.2.3. Nguyên nhân tồn tại hạn chế trong việc sử dụng bản đồ giáo khoa Địa lí
Hiện nay, với chương trình cải cách sách giáo khoa, cũng như việc áp dụng
phương pháp dạy học mới. Các phương tiện dạy - học ở các môn học nói chung và
môn Địa lí nói riêng ngày một nhiều. Đôí với bộ môn Địa lí được trang bị thêm
nhiều bản đồ giáo khoa treo tường mới với nhiều nội dung, nhiều nguồn thông tin,
kiến thức…được thể hiện trên đó, Song việc đưa vào giảng dạy thì chưa được hiệu
15


quả. Qua trao đổi, dự giờ với nhiều giáo viên trong trường và đồng nghiệp ở các
trường bạn thì việc đưa các bản đồ giáo khoa treo tường có hiện nay vào giảng dạy
khó khăn trong, bởi nhiều lí do:
- Số lượng bản đồ lớn trong khi phòng giành cho bộ môn chưa có nên chưa
được đưa vào sử dụng.
- Đã được đưa vào sử dụng nhưng hiệu quả chưa được như mong muốn phần
lớn là do:
+ Mặt bằng học sinh không đồng đều gây khó khăn trong việc áp dụng các
phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa trong giảng dạy Địa lí, đặc biệt là Địa lí 11
+ Học sinh chưa quan tâm và nhận biết tầm quan trong của việc rèn luyện kĩ

giảng không chỉ giới hạn trong những bản đồ đã có trong sách giáo khoa (SGK),
mà còn bao gồm cả những bản đồ treo tường… Như vậy, việc chuẩn bị bản đồ cho
bài giảng phải được tiến hành trên tất cả các loại hình bản đồ đặc biệt cần phát huy
bản đồ treo tường, nhưng nội dung cũng như phương pháp phải có sự thống nhất,
đáp ứng mục tiêu của bài giảng. Số lượng bản đồ cần dùng cho một tiết học cũng
cần xác định hợp lí, nếu dùng quá nhiều bản đồ cho một tiết học thì không những
không phát huy được tác dụng mà đôi khi còn dẫn đến những kết quả ngược lại, dễ
làm cho học sinh phân tán tư tưởng, không xác định được chủ điểm của bài. Vì thế,
bài giảng sẽ không đạt được mục tiêu đặt ra. Tuy nhiên cho đến nay, cũng không ai
đưa ra số lượng bản đồ cần dùng cho một tiết học là bao nhiêu, tuỳ theo tính chất
và yêu cầu của từng bài, từng tiết, từng điều kiện của mỗi giáo viên và mỗi trường
hợp cụ thể mà giáo viên xác định số lượng và thể loại bản đồ cho thích hợp. Khi số
lượng và thể loại bản đồ cần cho bài giảng đã được xác định giáo viên phải tiến
hành công tác chuẩn bị cho mỗi
bản đồ bao gồm:
- Chọn lọc nội cần thiết và phù hợp để sử dụng cho bài giảng.

17


3.1.2. Phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa trong thực hiện các bước lên
lớp.
Trong giờ giảng bài ở trên lớp ngoài việc khai thác kiến thức địa lí trong sách
giáo khoa, giáo viên còn hướng dẫn học sinh khai thác những kiến thức, kĩ năng từ
bản đồ thông qua tư duy, phục hồi lại môi trường địa lí trên thực địa đã được thu
nhỏ. Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận biết, hiểu được những hiện tượng địa lí và
khả năng phân tích các hiện tượng ấy trên bản đồ, đồng thời cũng hướng dẫn các
em tiếp nhận các kiến thức địa lí bằng bản đồ. Trong giờ học tại lớp, nếu bài giảng
của giáo viên gắn liền với bản đồ thì học sinh phải luôn luôn làm việc, vừa nghe,
nhìn, suy nghĩ, phát biểu ý kiến và ghi chép. Như vậy mới phát huy được tính tích

chứng ( hữu cơ ) giữa điều kiện tự nhiên, dân cư và tình hình phát kinh tế xã hội
của các quốc gia và khu vực. Từ những sự vật hiện tượng đã biết có thể phân tích
những sự vật hiện tượng địa lí chưa biết theo quy luật của chúng.
3.1.3. Chú ý sử dụng bản đồ để nêu câu hỏi trong quá trình giảng dạy.
Bản đồ nói chung và bản đồ treo tường nói riêng là một công cụ để giáo viên
khai thác và truyền đạt kiến thức, là một phương tiện để gáo viên dẫn dắt học sinh
để tìm ra những nội dung chủ yếu của bài tập có thể nói hầu như mọi kiến thức cơ
bản cuả bài giảng địa lí đều có ở trên bản đồ này hay ở bản đồ khác. Vì vậy, trong
quá trình giảng bài giáo viên cần chú ý đến phương pháp phát vấn trên cơ sở quan
sát bản đồ, làm được như vậy chẳng những giúp học sinh nắm được nội dung của
bài học một cách dễ dàng, mà còn tăng cường rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ và bồi
dưỡng khả năng tư duy địa lí.
Để thực hiện những yêu cầu trên một cách hiệu quả trong quá trình thực hiện
phương phát phát vấn trên cơ sở đọc bản đồ chúng ta cần lưu ý những điểm sau:
+ Đặt câu hỏi từ dễ đến khó:
Khi giảng bài 5: Một số vấn đề của châu lục và khu vực ( tiếp theo )
Tiết 2: Một số vấn đề của Mĩ La Tinh. Gíáo viên cũng nên đặt những câu hỏi
vừa mang tính chất gợi ý vừa có tính chất dẫn dắt để học sinh có thể đi từ nhận xét
trên cơ sở màu sắc (ước hiệu của bản đồ) đến những nội dung màu sắc của bản đồ.
19


Ví dụ: Như bài trên và học sinh quan sát bản đồ Các cảnh quan và khoáng sản
chính ở Mĩ La Tinh giáo viên đưa ra câu hỏi.
-Quan sát bản đồ địa lí tự nhiên châu Mĩ .em hãy cho biết Mĩ La Tinh có
những cảnh quan và khoáng sản chính nào ? ( sau khi học sinh trả lời giáo viên bổ
sung và hỏi tiếp )
-Qua bản đồ trên em hãy cho biết cảnh quan và loại khoáng sản nào chiếm tỉ
lệ nhiều nhất ở Mĩ La Tinh?( sau khi học sinh trả lời giáo viên bổ sung và hỏi tiếp )
- Những loại cảnh quan và khóang sản đó có thuận lợi và khó khăn trong việc

trình cũng như kế hoạch giảng dạy không bố trí nhiều thời gian cho công việc này.
Việc rèn luyện kĩ năng bản đồ cho học sinh hầu như chỉ được tiến hành trong khi
dạy các bài học địa lí. Kĩ năng đọc bản đồ, phân tích bản đồ, dùng bản đồ để nhận
định khái quát về địa lí tự nhiên một khu vực, một quốc gia... các em có thể làm
ngay trên lớp. Còn những kĩ năng tính toán như: tính chiều dài một dòng sông, một
tuyến đường giao thông, diện tích một khu rừng bị cháy...hầu như các em không
làm được trên lớp mà giáo viên thường dùng thời gian của các buổi thực hành để
hướng dẫn các em.

.

+ Đặt câu hỏi với yêu cầu trả lời các nội dung từ đơn giản đến phức tạp:
Ví dụ : Khi giảng bài 8 : Liên Bang Nga, phần II/ Điều kiện tự nhiên, dựa vào
bản đồ tự nhiên của Liên Bang Nga, giáo viên có thể nêu ra những câu hỏi :
+ Dựa vào bản đồ địa lí tự nhiên
Liên Bang Nga em nhận xét gì về địa
hình của LB Nga? ( Cao ở phía đông
và thấp dần về phía đông)
+ Địa hình của Liên Bang Nga được
chia làm mấy phần ? ( hai phần :
Phía đông và phía tây)
+ Sự phân hoá như vậy ảnh hưởng
như thế nào đến sự phát triển kinh tế
21


và phân bố dân cư giữa phía tây và phía đông? ( học sinh phải có sự liên hệ giữa
các yếu tố tự nhiên trên bản đồ để liên hệ, so sánh trả lời câu hỏi )
3.1.4. Chú ý tổ chức hướng dẫn cho học sinh được rèn luyện kĩ năng mọi lúc
mọi nơi.

Những nội dung thường xuyên cần lưu ý hướng dẫn học sinh trong tất cả các
tiết:
+Một số ước hiệu của bản đồ trong sách giáo khoa cần học bổ sung để phục
vụ cho nội dung bài học.
+Cách đọc mối liên hệ giũa các nội dung chủ yếu của bài học thể hiện trong
bản đồ sách giáo khoa.
+Những ước hiệu mới ( ước hiệu học sinh chưa biết) để phục vụ cho quá
trình nghe giảng của tiết sau.
3.2. Một số bản đồ giáo khoa treo tường được sử dụng trong chương trình địa
lí 11.
TT

Tên bản đồ
Bản đồ tự

1

nhiên Châu
Phi
Châu Phi –

2

Địa Lí tự
nhiên
Mĩ Latinh-

4

1:12.000.00

1:13.000.00
0
1:15.000.00
0
1:5.000.000

số vấn đề về kinh tế )
Bài 5: Một số vấn đề của châu lục và khu vực.
Tiết 2: Một số vấn đề của Mĩ La Tinh.(I/ Một
số vấn đề về tự nhiên)
Bài 5: Một số vấn đề của châu lục và khu vực.
Tiết2: Một số vấn đề của Mĩ La Tinh.(II/ một
số vấn đề về kinh tế)
Bài 5: Một số vấn đề của châu lục và khu vực.
Tiết 3: Một số vấn đề khu vực Tây Nam Ávà
Trung Á.
Bài 6: Hợp chủng quốc Hoa Kì
23


Tiết 2: Kinh tế .

tế Hoa Kì

7

Các nước
Châu Âu

Tiết 3: Thực hành sự phân hoá lãnh thổ sản

Nhật Bản 13

Kinh tế
chung

1:2.200.000

- Kinh tế

1:

1:

chung
Ôtrâylia Địa lí tự
nhiên

Tiết 1: Tự nhiên, dân cư và tình hình phát
triển kinh tế.( I/ Điều kiện tự nhiên)

Tiết 1: Tự nhiên, dân cư và tình hình phát
triển kinh tế.( III/ Tình hình phát triển kinh tế)
Tiết 2: Các ngành và các vùng kinh tế.
Bài 10: Cộng Hoà ND Trung Hoa.

chung
ĐNÁ – KT

15



Ôtrâylia –
16

kinh tế
chung

Bài 12: Ô-Xtrây-Li-A
1:6.000.000

Tiết 1: Khái quát về Ô-Xtrây-Li-A (II/Kinh tế)

3.3. Sản phẩm minh chứng
( Chương trình cơ bản)
1/ Bản đồ: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CHÂU PHI
Bản đồ: KINH TẾ KINH TẾ CHUNG LIÊN BANG NGA.
( Sử dụng cho bài 8: Liên Bang Nga - Tiết 2: Kinh tế )

Bản đồ kinh tế chung Liên Bang Nga .

THUYẾT MINH NỘI DUNG VÀ HƯỚNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ
CẤU TRÚC BẢN ĐỒ:
Bản đồ giáo khoa địa lí treo tường địa lí kinh tế chung Liên Bang Nga và biểu
đồ tổng sản phẩm trong nước qua các năm từ năm 2000- 2004.
NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH ĐƯỢC THỂ HIỆN TRÊN BẢN ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ:

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status