Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12
THPT
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU............................................................................................................2
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................2
2. Nhiệm vụ của đề tài...........................................................................................3
3. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................3
4. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................3
II. NỘI DUNG.......................................................................................................4
1. Cơ sở lý luận......................................................................................................4
1.1 Khái niệm câu hỏi, bài tập:......................................................................4
1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử
theo định hướng phát triển năng lực học sinh:.............................................4
1.3. Yêu cầu dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử ....................................5
1.4. Các dạng câu hỏi, bài tập trong dạy học lịch sử.....................................6
1.5. Qui trình xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử..............................7
1.6. Các mức độ (cấp độ) nhận thức của câu hỏi...........................................9
2. Thực trạng việc xác định và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập trong dạy học
lịch sử..................................................................................................................11
3. Các giải pháp đã tiến hành trong xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập theo định
hướng phát triển năng lực....................................................................................13
3.1. Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập trong soạn giáo
án.........................................................................................................................13
3.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập trong kiểm tra, đánh giá theo định
hướng phát triển năng lực....................................................................................16
4. Tổ chức thực nghiệm và kết quả.....................................................................27
III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ...............................................................30
1. Kết luận...........................................................................................................30
2. Khuyến nghị....................................................................................................31
những nội dung đã ghi. Nội dung câu hỏi, bài tập kiểm tra, đánh giá chưa toàn
diện, thiếu khách quan, không thể hiện sự phù hợp với từng đối tượng học sinh,
chưa thể hiện được sự dân chủ, nhất là chưa phát huy tính tích cực, tư duy, chủ
động của học sinh khi học lịch sử, vì vậy đã dẫn đến kết quả dạy- học chưa cao.
Theo yêu cầu đổi mới hiện nay, việc xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài
tập không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, rèn luyện các kỹ năng
đã học mà phải khuyến khích tư duy năng động, sáng tạo của học sinh trước các
vấn đề của thực tiễn cuộc sống. Từ các sự kiện lịch sử đã học các em phải lí giải,
phân tích, đánh giá những vấn đề mang tính thời sự, gia đình và cộng đồng hiện
nay, và cũng từ các vấn đề lịch sử đã học các em biết đề xuất các giải pháp để
tháo gỡ, giải quyết nhiều vấn đề khó khăn trong thực tiễn hiện nay.
Vì vậy việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học Lịch sử là việc làm
thường xuyên, liên tục, bao gồm nhiều khâu, nhiều việc, có liên quan đến nhiều
người. Trước hết đòi hỏi sự nổ lực để tìm phương thức giải quyết hợp lý, có hiệu
quả của bản thân giáo viên trên nhiều mặt: từ đổi mới kiểm tra - đánh giá đến
thay đổi cách dạy, cách học, cách sọan giáo án…
Lê Thị Kim Loan
2
Trường THPT Trần Quốc Tuấn
Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12
THPT
Xuất phát từ những lý do trên, tôi nhận thấy việc xây dựng hệ thống câu
hỏi, bài tập đáp ứng năng lực học sinh là rất quan trọng và cần thiết đối với giáo
viên dạy học nói chung và giáo viên dạy học môn lịch sử nói riêng. Đó là lí do
để tôi chọn đề tài “Biện pháp xây dựng câu hỏi, bài tập lịch sử theo định hướng
Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12
THPT
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
1.1 Khái niệm câu hỏi, bài tập:
a. Câu hỏi lịch sử là gì?
Câu hỏi là thuật ngữ dùng để chỉ việc nêu vấn đề, đòi hỏi có cách giải
quyết. Câu hỏi được sử dụng trong cuộc sống thường ngày cũng như trong dạy
học nhưng câu hỏi trong cuộc sống thường là người hỏi chưa biết câu trả lời còn
trong dạy học thì câu hỏi là những vấn đề giáo viên đã biết, học sinh đã học
hoặc dựa trên những kiến thức đang học, sẽ học mà trả lời một cách thông minh,
sáng tạo. Chính vì vậy, câu hỏi trong dạy học bao giờ cũng mang yếu tố mở, yếu
tố nhận biết, khám phá...
b. Bài tập lịch sử là gì?
Là dạng câu hỏi mà muốn trả lời được học sinh phải vận dụng kiến thức,
tức là dùng kiến thức đã biết (tư liệu, sự kiện, hiện tượng lịch sử) để giải quyết
vấn đề, kết hợp tư duy logic (chủ yếu là khả năng phân tích, tổng hợp, đánh
giá...) để soi vào những điều đã cho để tìm câu trả lời. Câu trả lời như là đáp số
của bài toán.
Như vậy câu hỏi hay bài tập lịch sử đều là một tình huống được đặt ra trong
quá trình dạy học lịch sử, yêu cầu học sinh phải trả lời trên cơ sở hiểu biết của
học sinh.
1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch
sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh :
a. Mục đích:
- Đáp ứng nhu cầu về đổi mới kiểm tra- đánh giá hiện nay, giúp cho quá
trình dạy học vận động đúng hướng:
Đánh giá trình độ, khả năng tiếp nhận kiến thức lịch sử của học sinh ở
trường phổ thông hiện nay, về cơ bản chúng ta đánh giá khả năng Biết (ghi
nhớ, thuộc sự kiện), Hiểu (bản chất sự kiện) và Vận dụng kiến thức trong quá
trình học tập, trong thực hành.
+ Đối với câu hỏi tự luận: Đòi hỏi học sinh phải vận dụng vốn kiến thức,
kinh nghiệm học tập để tự trình bày ý kiến về vấn đề mà câu hỏi nêu ra.
+ Đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan: Câu hỏi trắc nghiệm khách
quan trong dạy học lịch sử gồm nhiều loại: Trắc nghiệm đúng - sai, trắc nghiệm
nhiều lựa chọn, trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm đối chiếu - cặp đôi, thực
hành (vẽ bản đồ, biểu đồ). Câu hỏi kiểm tra trắc nghiệm cho phép bao kín kiến
thức của chương trình, trong đó mỗi câu chỉ nêu ra một vấn đề cùng những
thông tin cần thiết để học sinh lựa chọn câu trả lời ngắn, song lại có độ tin cậy
cao đòi hỏi học sinh phải tích luỹ được nhiều kiến thức.
- Về thái độ, tình cảm:
Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông rất có ưu thế trong việc giáo dục thế hệ
trẻ, rèn luyện những phẩm chất, nhân cách cao đẹp của con người mới từ những
bài học kinh nghiệm quí báu của cha ông trong công cuộc dựng nước và giữ
nước.
- Về kỹ năng:
+ Sử dụng bản đồ, lược đồ.
+ Quan sát, nhận xét tranh ảnh, bản đồ.
+ Kỹ năng ghi nhớ, tái hiện kiến thức, so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh
giá, vận dụng kiến thức.
Lê Thị Kim Loan
5
Trường THPT Trần Quốc Tuấn
cơ bản. Việc giải quyết các câu hỏi nhỏ có tính gợi ý, bổ trợ sẽ dẫn đến việc giải
quyết vấn đề chính.
Loại câu hỏi này thường được sử dụng ở đối tượng học sinh khá giỏi, có
khả năng tư duy lô gic, phân tích, đánh giá các sự kiện lịch sử để rút ra kết luận
từ đó lí giải nguyên nhân, ý nghĩa, đặc điểm các sự kiện, nhân vật lịch sử.
- Dạng câu hỏi, bài tập ôn tập, tổng kết:
Được sử dụng trong trường hợp cần thiết để khái quát, củng cố kiến thức đã
học. Ví dụ, qua một chương trình hay một khoá trình lịch sử cần tổ chức trao đổi
Lê Thị Kim Loan
6
Trường THPT Trần Quốc Tuấn
Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12
THPT
ôn tập, để học sinh nhận thức sâu sắc quy luật về sự phát triển của xã hội loài
người. Đây là một phần của bài giảng, có khi là cả chương, phần vào cuối học kì
hay cuối năm học.
- Dạng câu hỏi, bài tập mở:
Đòi hỏi trên cơ sở hiểu bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử, yêu cầu HS
đánh giá nhận xét, bày tỏ kiến thức lịch sử giải quyết những vấn đề trong cuộc
sống thực tiễn, biết rút ra những chính kiến, quan điểm, thái độ về các vấn đề
lịch sử, biết liên hệ với thực tiễn và vận dụng những những bài học kinh nghiệm.
1.5. Qui trình xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử.
Bước 1. Xác định chủ đề
Chọn chủ đề để mô tả các mức độ nhận thức và định hướng năng lực được
hình thành của chủ đề đó. Chủ đề được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ
Lê Thị Kim Loan
7
Trường THPT Trần Quốc Tuấn
Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12
THPT
Bước 3. Xây dựng câu hỏi, bài tập cho từng mức độ nhận thức và năng
lực
- Trên cơ sở các mức độ nhận thức cần đạt được và định hướng năng lực
được hình thành trong chủ đề tiến hành biên soạn câu hỏi/bài tập theo bảng đã
mô tả.
- Một chuẩn có thể ra nhiều câu hỏi khác nhau dưới những hình thức câu
hỏi khác nhau.
- Để các câu hỏi biên soạn đạt chất lượng tốt, chú ý đến kĩ thuật biên soạn
câu hỏi bài tập.
* Các yêu cầu đối với câu hỏi, bài tập:
+ Câu hỏi, bài tập phải đánh giá được những nội dung cơ bản của chương
trình;
+ Câu hỏi, bài tập phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình
bày và số điểm tương ứng;
+ Câu hỏi phải thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo;
+ Từ ngữ, cấu trúc của câu phải rõ ràng, ngôn ngữ trong sáng và dễ hiểu
đối với mọi HS;
+ Yêu cầu của câu phải phù hợp với trình độ và nhận thức của HS;
+ Câu hỏi, bài tập phải nêu rõ các vấn đề: mục đích kiểm tra, thời gian làm
bài, các tiêu chí cần đạt.
Cấp độ tư duy
Mô tả
thể giải thích được một sự kiện, hiện tượng lịch sử, tóm tắt
được diễn biến một sự kiện, nghe và trả lời được câu hỏi có
liên quan.
Thí dụ: Học sinh có thể giải thích được sự kiện lịch sử diễn ra
như thế nào.
- Học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng các
khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng
không hoàn toàn giống như tình huống đã gặp trên lớp.
Vận dụng thấp - Ở bậc nhận thức này, học sinh có thể sử dụng được kiến thức
để giải quyết 1 tình huống cụ thể.
Thí dụ: Áp dụng một sự kiện lịch sử này để lý giải một sự kiện
khác.
- Học sinh có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản để giải
quyết một vấn đề mới hoặc không quen thuộc chưa từng được
học hoặc trải nghiệm trước đây, nhưng có thể giải quyết bằng
các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độ tương đương.
Các vấn đề này tương tự như các tình huống thực tế học sinh
sẽ gặp ngoài môi trường lớp học.
- Ở bậc này học sinh phải xác định được những thành tố trong
Vận dụng cao
1 tổng thể và mối quan hệ qua lại giữa chúng; phát biểu ý kiến
cá nhân và bảo vệ được ý kiến đó về 1 sự kiện, hiện tượng hay
nhân vật lịch sử nào đó.
Thí dụ: Tìm hiểu một sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử,
học sinh phải phân biệt, phân tích được các sự kiện, hiện
tượng, nhân vật lịch sử khác nhau, v.v. Hoặc học sinh đánh
giá được một sự kiện, nhân vật lịch sử.
Việt
Nam
thời kì
1939 1945
- Nêu được - Lý giải được vì - Phân tích vai - Hãy đánh
hoàn cảnh
sao đến tháng 2 trò của Mặt trận giá ý nghĩa
lịch sử, nội năm 1941, Nguyễn Việt Minh đối của
Hội
dung cơ
Ái Quốc mới về với thắng lợi nghị Trung
bản, ý
nước ? Vai trò của của cách mạng ương Đảng
nghĩa của
Nguyễn Ái Quốc tháng Tám năm Cộng sản
Hội nghị
tại Hội nghị lần 8 1945.
Đông
Trung
Ban Chấp hành
Dương
ương Đảng Trung ương Đảng
(tháng 11 –
Cộng sản
Cộng sản Đông
1939).
Đông
Dương (5 – 1941)
dạy học lịch sử:
Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới chương trình sách giáo
khoa, đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra - đánh giá nhằm nâng cao chất
lượng bộ môn. Một trong những việc giáo viên từng làm đó là đổi mới từ khâu
soạn giáo án và giảng dạy trên lớp đến việc biên soạn đề kiểm tra để từng bước
nâng cao chất lượng bài dạy. Tuy nhiên, thực tế quá trình thực hiện của giáo
viên bộ môn Lịch sử còn có thực trạng sau:
- Giáo viên chưa xác định mức độ nhận thức của câu hỏi, bài tập, trong quá
trình soạn giáo án giáo viên chưa có những câu hỏi nhằm hướng tới từng đối
tượng học sinh (yếu, trung bình, khá, giỏi). Vì vậy, chưa phân hoá được các đối
tượng học sinh và do đó chưa phát hiện được những học sinh có khả năng nhận
thức tốt, khái quát phân tích vấn đề lôgíc tạo tiền đề cho chọn và bồi dưỡng đội
tuyển học sinh giỏi cũng như xác định đối tượng HS để thi vào các trường đại
học, cao đẳng khác nhau.
- Trong quá trình soạn giảng, giáo viên sử dụng những câu hỏi dễ quá, câu
hỏi mà yêu cầu trả lời chỉ dừng ở mức độ phát hiện, có sẵn trong sách giáo khoa,
học sinh không cần tìm tòi, suy nghĩ cứ đọc y nguyên sách giáo khoa là được.
Giáo viên còn sử dụng những câu dạng như "đúng không? “được không?"... dẫn
đến tình trạng học sinh trả lời "bừa" là "có" hoặc "không" mà không hiểu, không
lí giải được bản chất vấn đề.
- Cũng trong quá trình sử dụng câu hỏi, bài tập giáo viên đưa ra và giải
quyết các loại câu hỏi, bài tập chưa hiệu quả, chủ yếu câu hỏi dựa trên cơ sở
sách giáo khoa, chưa có câu hỏi nâng cao, khái quát vấn đề (trong khi đó một
trong những yêu cầu của dạy - học lịch sử là phải nêu được quy luật, rút ra bài
học).
- Trong một số giờ dạy, còn một số giáo viên sử dụng và khai thác hệ thống
câu hỏi mang tính vụn vặt, câu hỏi không thể hiện tư duy vấn đề, HS cũng
không có điều kiện để phát triển tư duy, trí tuệ. Từ thực trạng trên dẫn đến tình
trạng giờ học lịch sử trở nên nhàm chán, không có hứng thú đối với học sinh và
là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng bộ môn thấp.
tình trạng GV đặt câu hỏi mà nội dung đã có sẵn trong sách giáo khoa, và HS
đọc sách giáo khoa trả lời.
+ Câu hỏi đa dạng về hình thức, thể loại, vừa gây hứng thú trong học tập,
vừa tạo điều kiện cho học sinh làm quen với các dạng câu hỏi, bài tập khác
nhau, tránh việc học sinh lúng túng, bỡ ngỡ khi làm bài kiểm tra.
+ Khi xây dựng và lựa chọn hệ thống câu hỏi, người giáo viên cần chuẩn bị
nhiều dạng câu hỏi để có thể áp dụng đối với nhiều đối tượng HS (khối, lớp)
thuộc các trình độ nhận thức khác nhau, câu hỏi đảm bảo quá trình tư duy phát
triển (câu hỏi đảm bảo đi từ dễ đến khó), đối với các câu hỏi "khó" phải có các
phương án gợi ý cho học sinht ránh rơi vào tình trạng "đánh đố", khiến các em
ngại trả lời khi thầy cô đặt câu hỏi.
- Đối với giáo viên:
+ Cần nêu câu hỏi một cách rõ ràng - câu hỏi đưa ra có tính chất bài tập
nhận thức.
+ Tổ chức, hướng dẫn và tạo điều kiện gợi mở, cung cấp tài liệu... nhằm
giúp học sinh tự giác, tích cực giải quyết vấn đề nêu ra từng bước, từng phần.
Lê Thị Kim Loan
12
Trường THPT Trần Quốc Tuấn
Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12
THPT
+ Khi sử dụng GV có thể tiến hành bằng cách nêu câu hỏi và tổ chức học
sinh trả lời, cũng có thể tiến hành trao đổi, thảo luận giữa học sinh với nhau,
thậm chí bản thân mỗi học sinh tự đặt câu hỏi và trả lời. Song vấn đề đặt ra là
Lê Thị Kim Loan
13
Trường THPT Trần Quốc Tuấn
Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12
THPT
+ Bài tập: Yêu cầu HS hoàn thành bảng niên biểu về diễn biến Chiến cuộc
Đông- Xuân 1953-1954.(Sau khi HS trình bày diễn biến qua lược đồ “Chiến
trường đông- xuân 1953-1954”
Chiến dịch
Thời gian
Nơi tiến công
của quân ta
Hoạt động đối phó
của TD Pháp
Tây Bắc
Trung Lào
Thượng Lào
- Ví dụ : Sau khi GV yêu cầu HS quan sát một số hình ảnh về công tác
chuẩn bị mở chiến dịch Điện Biên Phủ (những đoàn dân công phá đá mở đường,
đoàn xe đạp thồ, ngựa thồ, xe vận tải, ảnh kéo pháo khẩn trương ra mặt trận,
hình ảnh Tô Vĩnh Diện lấy thân chèn pháo...) Để giáo dục truyền thống yêu
nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, GV dẫn dắt : Em có nhận xét gì về những hình
ảnh trên?(Tinh thần đoàn kết, dũng cảm hi sinh, sự quyết tâm của toàn Đảng,
toàn dân dốc sức cho mặt trận)
+ Để giúp HS rèn luyện kĩ năng sử dụng lược đồ, GV yêu cầu HS trình bày
diễn biến Chiến dịch ĐBP qua lược đồ.
+ Phần củng cố bài học, GV yêu cầu HS trả lời bài tập sau: Vì sao nói
Chiến thắng LS ĐBP là chiến thắng lớn nhất, vĩ đại nhất của dân tộc ta, buộc
Pháp phải chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương ?(dành cho HS khá – giỏi)
Như vậy, từ các câu hỏi, bài tập ở ví dụ trên sẽ giúp học sinh nắm vững hơn
tri thức lịch sử hình thành các kỹ năng học tập, xử lí các thông tin, từ đó bồi
dưỡng phẩm chất đạo đức và hình thành nhân cách cho học sinh. Với mục đích
giúp cho giáo viên xác định đúng mức độ nhận thức của từng loại câu hỏi, bài
tập và sử dụng từng loại câu hỏi sao cho phù hợp với yêu cầu của bài, phù hợp
với đặc điểm của từng học sinh, từng khối lớp để nâng cao hiệu qủa bài dạy lịch
sử.
3.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập trong kiểm tra, đánh giá theo
định hướng phát triển năng lực
a. Một số lưu ý khi xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập trong kiểm tra,
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực
- Giáo viên phải nắm vững các hình thức kiểm tra đánh giá đối với môn
Lịch sử THPT bao gồm: Kiểm tra, đánh giá thường xuyên (Kiểm tra 10- 15
phút); Kiểm tra, đánh giá định kì (Kiểm tra trong một tiết hoặc kiểm tra cuối học
kỳ với thời gian có thể từ 45 phút đến 90 phút); Kiểm tra, đánh giá tổng kết (bài
thi tốt nghiệp, hết năm, có thể là từ 45 phút đến 180 phút).
Các hình thức kiểm tra, đánh giá nêu trên được tiến hành một cách linh
+ Phải căn cứ vào trình độ học sinh, mục đích, thời gian làm bài của mỗi
lần kiểm tra, đánh giá.
+ Các câu hỏi, bài tập được xây dựng theo hướng phát huy tính tích cực,
khuyến khích tư duy độc lập của học sinh.
+ Giáo viên phải dự đoán được phần trả lời của học sinh và định ra được
đáp án, biểu điểm cụ thể cho từng câu hỏi.
+ Giáo viên cần tìm cách xây dựng các dạng câu hỏi, bài tập kiểm tra khác
nhau để gây hứng thú cho học sinh.
+ Xây dựng câu hỏi bài tập theo các mức độ nhận thức (Nhận biết, thông
hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao). Chú trọng xây dựng các dạng câu hỏi, bài
tập nhằm phát huy tính tích cực và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã học
để giải quyết các câu hỏi, những vấn đề mang tính thực tiễn của cuộc sống.
b. Ví dụ về xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập trong kiểm tra, đánh giá
theo định hướng phát triển năng lực.
Khi giảng dạy phần Lịch sử thế giới lớp 12 THPT, với chủ đề “Quan hệ
quốc tế trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai” (Bài 1và bài 9- trong
chương trình lịch sử lớp 12)(Ban cơ bản), tôi tiến hành xây dựng hệ thống câu
hỏi, bài tập theo các mức độ nhận thức như sau.
Bước 1: Xác định chủ đề.
Bước 2: Lập bảng mô tả các mức độ nhận thức và định hướng năng lực
được hình thành theo chủ đề.
Lê Thị Kim Loan
16
Trường THPT Trần Quốc Tuấn
Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12
THPT
hội nghị Ianta.
Sự
hình
thành
tổ
chức Liên
Hợp
Quốc(LHQ)
+ Hoàn cảnh,
mục
đích,
nguyên tắc hoạt
động và vai trò
của tổ chức
Liên Hợp Quốc.
- Giải thích
được vì sao
các
cường
quốc
đồng
minh tổ chức
hội
nghị
Ianta.
Lí giải
được vì sao
lạnh
bùng
nổ.
17
Vận dụng
thấp
Vận dụng
cao
- Phân tích
được tác động
của hội nghị
Ianta làm thay
đổi trật tự thế
giới mới sau
chiến tranh thế
giới hai.
- Phân tích - Đánh giá
đượcvai trò của vai trò của
LHQ. Rút ra
tổ chức LHQ.
được vai trò
của
LHQ
trong
việc
hòa hoãn Đông
– Tây, Chiến
tranh lạnh chấm
dứt.
- Các xu thế
phát triển của
thế giới sau
Chiến
tranh
lạnh .
-Giải
thích
được vì sao
Xô-Mĩ chấm
dứt
Chiến
tranh lạnh.
- Khái quát
các xu thế
chính của thế
giới
sau
Chiến tranh
lạnh.
Thế
giới - Biết được
sau chiến những xu thế
tranh lạnh. chính của thế
thế giới sau
chiến
tranh
lạnh và xác
định được xu
thế nào là chủ
đạo.
hình
các
nước trên thế
giới.
- Tìm ra
được
mối
liên hệ giữa
Chiến tranh
lạnh với Việt
Nam trong
giai
đoạn
1945
- Nhận xét về
quan hệ quốc
tế sau khi
chiến tranh
lạnh
chấm
dứt.
a/ Em hãy chứng minh Liên Hợp Quốc là một diễn đàn quốc tế vừa hợp tác vừa
đấu tranh để nhằm duy trì hòa bình, an ninh thế giới.
b/ Bằng những sự kiện lịch sử, em hãy chứng minh từ sau hội nghị Ianta một trật
tự thế giới mới đã hình thành theo xu thế đối đầu.
c/ Phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng chiến tranh lạnh sau chiến tranh thế
giới hai.
d/ Bằng những sự kiện lịch sử, chứng minh trong những năm 70-80 của TK XX
xuất hiện xu thế hòa hoãn giữa hai phe TBCN và XHCN?
e/ Phân tích các xu thế phát triển của thế giới sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt.
f/ Chiến tranh lạnh chấm dứt đã tạo ra thời cơ và thách thức gì đối với các quốc
gia dân tộc trên thế giới? Liên hệ đến Việt Nam.
4) Câu hỏi vận dụng cao
a/ Hiện nay, Việt Nam đã vận dụng nguyên tắc hoạt động nào của tổ chức LHQ
để giải quyết vấn đề Biển Đông?
b/ Em có nhận xét gì về quan hệ quốc tế sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt?
c/ Chiến tranh lạnh kết thúc đã ảnh hưởng như thế nào đến tình hình các nước
Châu Á. Liên hệ đến Việt Nam.
d/ Từ những dự liệu trong bảng dưới đây, hãy xác định nội dung của mối quan
hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Theo em thì tình hình quan hệ
quốc tế hiện nay có điểm gì nổi bật ? Các nước cần phải làm gì để giữ gìn an
ninh, độc lập, sự toàn vẹn lãnh thổ, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững đất
nước và thế giới?
Thời gian
3/1947
6/1947
Lê Thị Kim Loan
Nội dung
Tổng thống Truman đưa ra học thuyết Truman…phát động
Chiến tranh lạnh
tương trợ kinh tế(SEV) nhằm hợp tác về kinh tế, khoa học - kỹ
thuật ...
10/1949
Cộng hòa Dân chủ Đức ra đời ( xã hội chủ nghĩa)
1/10/1949
Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời
Với việc xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập như ở ví dụ trên là cơ sở để
GV vận dụng trong biên soạn giáo án, sử dụng để hình thành đề cương ôn tập
theo chủ đề, xây dựng hệ thống ngân hàng câu hỏi, bài tập, và nhất là vận dụng
để ra đề kiểm tra đánh giá theo các hình thức khác nhau. Đây là việc làm cần
thiết của mỗi giáo viên trong hành trang dạy học của mình, góp phần quyết định
sự thành công mục tiêu dạy học đã đề ra.
c. Sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập trong biên soạn đề kiểm tra đánh
giá.
- Giáo viên phải thực hiện biên soạn đề kiểm tra theo các bước sau:
+ Bước 1: Xác định mục tiêu đề kiểm tra, các chủ đề cần kiểm tra trong
chương trình.
+ Bước 2: Xác định hình thức đề kiểm tra (kiểm tra 1 tiết hay học kì, dạng
đề trắc nghiệm hay tự luận, số lượng câu hỏi), từ đó: Quyết định phân phối tỉ lệ
% tổng điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương...); Tính số câu hỏi, bài tập
(hoặc chuẩn kiến thức, kỹ năng) ở các cấp độ cho các chủ đề.
+ Bước 3: Thiết lập khung ma trận: Mô tả yêu cầu cần kiểm tra và xây
dựng nội dung ma trận.
KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA
(Dùng cho loại đề kiểm tra TL hoặc TNKQ)
Lê Thị Kim Loan
20
Trường THPT Trần Quốc Tuấn
KT,
KNcần
kiểm tra
Số câu
Số câu
Số điểm
Số điểm
Tỉ lệ %
Tổng số câu Số câu
Tổng số
Số điểm
điểm
%
Tỉ lệ %
Thông
hiểu
Vận dụng
Cấp độ thấp Cấp độ cao
Chuẩn
Chuẩn KT,
KT, KN KN cần kiểm
cần kiểm tra
tra
Số câu
Số câu
Số điểm
Số điểm
Số câu
Số điểm
Chuẩn KT,
KNcần kiểm
tra
Chuẩn KT,
KNcần kiểm
tra
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
%
Số câu
Số điểm
Số câu
Số điểm
%
Cộng
THPT
ĐỀ KIỂM TRA 1 TIẾT, NĂM HỌC 2014 - 2015
Môn: Lịch sử 12
Thời gian: 45’ (không kể thời gian phát đề)
* MỤC TIÊU ĐƯỢC XÁC ĐỊNH TRONG ĐỀ KIỂM TRA
- Kiểm tra khả năng tiếp thu kiến thức Lịch sử thế giới hiện đại (1945-2000):
Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản; Quan hệ quốc tế 1945-2000; Cách mạng KHKT và xu
thế toàn cầu hóa. Kết quả kiểm tra giúp các em tự đánh giá trong việc học tập
thời gian qua và điều chỉnh hoạt động học tập ngày càng tốt hơn.
- Thực hiện yêu cầu trong phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào
tạo.
- Đánh giá quá trình giảng dạy của giáo viên, từ đó diều chỉnh phương pháp,
hình thức dạy học.
1) Kiến thức:
- Lý giải được nguyên nhân phát triển kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế
giới thứ hai. So sánh nguyên nhân phát triển kinh tế của Nhật Bản với Mĩ.
- Trình bày được những xu thế chính của thế giới sau chiến tranh lạnh. Lí giải
được nguyên nhân kết thúc Chiến tranh lạnh.
- Trình bày được xu thế toàn cầu hóa từ những năm 80 (thế kỷ XX). Đánh giá
được ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa đối với Việt Nam hiện nay.
2) Kĩ năng:
Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng: trình bày vấn đề, giải thích, so sánh,
đánh giá các vấn đề lịch sử.
* HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA
Đề kiểm tra theo hình thức tự luận
* THIẾT LẬP MA TRẬN
cao
Cộng
Trường THPT Trần Quốc Tuấn
Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 12
THPT
Chủ đề
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ %
2. Quan
hệ quốc
tế (1945
– 2000)
Nhận biết Thông hiểu
Số câu
Số điểm
Vận dụng
thấp
sau Chiến
tranh
Số điểm: 2 Số điểm: 1
3. Cách Trình
bày được
mạng
xu
thế
KHKT
toàn cầu
và
xu
hóa
từ
thế toàn những
cầu hóa năm
80
(thế
kỷ
XX).
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ %
Tổng số
câu
Tổng số
điểm
Tỉ lệ %
Lê Thị Kim Loan
Số câu: 1
Số điểm: 3
Tỉ lệ: 30 %
Số câu: 1/2
Số điểm: 2
Tỉ lệ: 20 %
- Đánh giá
được
ảnh
hưởng của
xu thế toàn
cầu hóa đối
với
Việt
Nam hiện
nay.
Số câu: 1
(b)
Số điểm: 1
Số câu: 1/2
Số điểm: 1
Tỉ lệ: 10 %
23
Trường THPT Trần Quốc Tuấn
Số câu: 1
Số điểm: 3
niên Nhật Bản đã vươn lên thành một siêu cường kinh tế-tài chính
thế giới, nhiều người gọi đó là "thần kỳ Nhật Bản"
* Lí giải những nguyên nhân phát triển kinh tế Nhật Bản: (Trên cơ
sở những nguyên nhân sau, yêu cầu học sinh phải biết lí giải hợp lí
thì mới đạt điểm tối đa)
- Con người được coi là vốn qúi nhất, là nhân tố quyết định hàng
đầu...
- Vai trò lãnh đạo, quản lý của nhà nước Nhật...
- Các công ty Nhật có tầm nhìn xa, cạnh tranh cao...
- Biết tận dụng thành tựu cách mạng khoa học kỹ thuật, tăng năng
suất lao động, hạ giá thành sản phẩm...
- Chi phí quốc phòng thấp nên có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho
kinh tế...
- Tận dụng tốt các yếu tố bên ngoài để phát triển...
* So sánh nguyên nhân phát triển kinh tế của Mĩ và Nhật Bản sau
chiến tranh thế giới thứ hai:
- Giống nhau:
+ Vai trò lãnh đạo, quản lý của nhà nước
+ Áp dụng KHKT vào sản xuất.
+ Các công ty TB có sức sản xuất và cạnh tranh cao.
- Khác nhau:
+ Mĩ: . Lãnh thổ rộng lớn tài nguyên phong phú.
. Lợi dụng chiến tranh để làm giàu.
Lê Thị Kim Loan
24
Điểm
4.0
+ Nhật : . Coi trọng nhân tố con người.
. Chí phí cho quốc phóng thấp.
. Tận dụng tốt các yếu tố bên ngoài.
0,25
0,25
0,25
Vì sao Liên Xô và Mĩ chấm dứt Chiến tranh lạnh?Trình bày
những xu thế chính của thế giới sau khi Chiến tranh lạnh.
3.0
a) Vì sao Liên Xô và Mĩ chấm dứt Chiến tranh lạnh:
- Cuộc chạy đua hơn 4 thập kỉ đã làm cho cả hai siêu cường Xô Mĩ đều giảm sút.
- Sự vươn lên của Nhật Bản, Tây Âu và một số nền kinh tế mới...
- Sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm
xuất hiện xu thế toàn cầu hóa.
b) Các xu thế chính:
- Trật tự hai cực bị sụp đổ, một trật tự thế giới đa cực đang dần hình
thành với sự vươn lên mạnh mẽ của các cường quốc (Mĩ, Tây Âu,
Nhật Bản, Liên bang Nga, TQ)
- Các quốc gia điều chỉnh chiến lược phát triển theo hướng lấy phát
triển kinh tế làm trọng tâm.
- Sự tan rã của CNXH ở LX và Đông Âu đã tạo ra những lợi thế
nhất định cho Mĩ. Mĩ ra sức thiết lập trật tự thế giới đơn cực nhưng
vấp phải những thách thức không nhỏ từ các cường quốc và một số
nền kinh tế mới nổi.
- Hoà bình thế giới được củng cố, nhưng xung đột, li khai, chủ
+ Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, tài chính quốc tế và khu vực:
Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức thương mại
thế giới (WTO), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia ĐNA
(ASEAN)
Lê Thị Kim Loan
25
Trường THPT Trần Quốc Tuấn