VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ HUY QUANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS BÙI NGUYÊN KHÁNH
ĐẮK LẮK - NĂM 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên
cứu khoa học độc lập của tôi. Các thông tin, tư liệu được sử
dụng trong Luận văn có nguồn dẫn rõ ràng, các kết quả
nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của Tôi.
TÁC GIẢ
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Học viện Khoa học Xã hội,
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ................................ 6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ............................................................... 6
7. Kết cấu của đề tài .................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TUYỂN
DỤNG CÔNG CHỨC................................................................................................. 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm ............................................................................................ 7
1.1.1. Khái niệm công chức ........................................................................................ 7
1.1.2. Khái niệm tuyển dụng công chức.................................................................... 11
1.1.3. Căn cứ tuyển dụng công chức ......................................................................... 13
1.1.4. Điều kiện tuyển dụng công chức ..................................................................... 13
1.2. Nguyên tắc tuyển dụng công chức ..................................................................... 15
1.2.1. Bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật ..................... 15
1.2.2. Dân chủ, công bằng ......................................................................................... 16
1.2.3. Bảo đảm tính cạnh tranh ................................................................................. 16
1.2.4. Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm ........... 17
1.2.5. Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc
thiểu số ...................................................................................................................... 17
1.3. Các phương thức tuyển dụng công chức ........................................................... 18
1.3.1. Tuyển dụng theo phương thức thi tuyển ......................................................... 19
1.3.2. Tuyển dụng theo phương thức xét tuyển ........................................................ 22
1.3.3. Tiếp nhận không qua thi tuyển đối với công chức .......................................... 23
1.4. Quy trình tuyển dụng công chức ........................................................................ 24
1.4.1. Quy trình tiến hành tổ chức một kỳ thi tuyển (hoặc xét tuyển công chức)..... 24
1.4.2. Quy trình tiếp nhận không qua thi tuyển đối với công chức ........................... 27
1.5. Vai trò của tuyển dụng trong xây dựng đội ngũ công chức của các cơ quan hành
chính nhà nước .......................................................................................................... 28
1.6. Xu hướng đổi mới quản lý nhà nước về tuyển dụng công chức ở Việt Nam và
kinh nghiệm tuyển dụng công chức của một số nước trên thế giới .......................... 30
3.1.1. Tuyển dụng công chức tỉnh Đắk Lắk phải gắn vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí
việc làm và chỉ tiêu biên chế ..................................................................................... 59
3.1.2. Tuyển dụng công chức cần gắn với mục tiêu của công cuộc cải cách hành
chính nhà nước .......................................................................................................... 60
3.1.3. Phát triển hiệu quả bộ máy hành chính nhà nước tỉnh Đắk Lắk ..................... 60
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về tuyển dụng công chức
từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk .......................................................................................... 61
3.2.1. Nhận thức đúng đắn về tuyển dụng công chức ............................................... 61
3.2.2. Nâng cao chất lượng và trách nhiệm của Hội đồng tuyển dụng công chức.... 62
3.2.3. Nhóm giải pháp về tuyển dụng theo vị trí việc làm ........................................ 63
3.2.4. Nhóm giải pháp về đổi mới nội dung và phương pháp thi tuyển công chức .. 67
3.2.5. Nhóm giải pháp về công tác thanh tra............................................................. 71
3.2.6. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá công chức tập sự để làm cơ sở cho
việc tổ chức thi tuyển công chức tiếp theo ................................................................ 73
3.2.7. Đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ cho việc thi tuyển công chức ...................... 75
3.2.8. Quan tâm tuyển dụng công chức người dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk .............. 75
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
CBCC
Cán bộ, công chức
HĐTD
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hoạt động của các cơ quan nhà nước hiện nay, đội ngũ công chức là
lực lượng nòng cốt, đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực thi chính sách của
Nhà nước; là người đại diện cho quyền lợi của Nhân dân. Vì vậy, vấn đề xây dựng
đội ngũ công chức nhằm phục vụ hiệu quả cho hoạt động của các cơ quan nhà nước,
luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân.
Đứng trước yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và công cuộc cải
cách nền hành chính quốc gia, đòi hỏi đội ngũ công chức trong cơ quan nhà nước,
không chỉ ở cấp Trung ương mà cả cấp địa phương phải có đủ năng lực, giỏi về
chuyên môn và tốt về phẩm chất chính trị mới có thể đưa nước ta vượt qua những
thách thức và khó khăn, đồng thời góp phần xây dựng một nền hành chính trong
sạch, vững mạnh. Để thực hiện điều này, các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung
ương và địa phương đã thực hiện đổi mới chế độ tuyển dụng và quản lý công chức.
Thông qua việc thi tuyển, sát hạch, kiểm tra để tuyển dụng công chức đủ phẩm chất
và năng lực vào làm việc trong bộ máy đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ công
chức đủ số lượng, đủ trình độ, kỹ năng thực thi công vụ, phục vụ nhân dân và phục
vụ sự nghiệp phát triển của đất nước. Vì vậy, việc tuyển dụng công chức đang là
vấn đề bức thiết của các bộ, ngành, địa phương trong giai đoạn hiện nay.
Đắk Lắk là một trong 5 tỉnh miền núi thuộc địa bàn Tây Nguyên, có vị trí
quan trọng chiến lược phát triển kinh tế, chính trị và xã hội; quốc phòng và an ninh.
Tây Nguyên là địa bàn có 13.125km2 diện tích tự nhiên; có đường biên giới với
nước Campuchia là 73,4 km; có 47 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó, dân
tộc thiểu số chiếm 33% dân số toàn tỉnh (riêng dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm 22%);
Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa, phía
Nam giáp tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông, phía Tây giáp Campuchia, địa hình tương
đối phức tạp. Trong những năm qua việc thực hiện quản lý nhà nước về tuyển dụng
công chức ở Đắk Lắk đã đạt được những thành tựu khả quan. Tuy nhiên, công tác
quản lý nhà nước về tuyển dụng công chức chưa thực sự đạt hiệu quả cao nhất, còn,
tuyển dụng công chức:
+ Đề tài khoa học cấp Nhà nước Bộ Nội vụ (2006), “Nghiên cứu cơ sở khoa
học hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam”. Trong đề tài này đã đưa ra được lý
2
luận của công vụ và chế độ công vụ; đồng thời đánh giá tình hình thực trạng chế độ
công vụ ở nước ta từ năm 1945 đến năm 2006 và đề ra quan điểm, phương hướng
và các giải pháp hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam.
+ Luận văn thạc sĩ của Trương Hải Long (2010), “Pháp luật về tuyển dụng
công chức trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay”,.
Trong đó luận văn đã đưa ra lí luận khái niệm tuyển dụng công chức, đánh giá thực
trạng tuyển dụng công chức hiện nay và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật tuyển dụng công chức trong bối cảnh cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam
hiện nay.
Tác phẩm “Pháp luật về công vụ, công chức của Việt Nam và một số nước
trên thế giới” của TS. Trần Anh Tuấn (2012). Nội dung của tác phẩm đã cung cấp
cho độc giả một cách hệ thống và toàn diện về pháp luật công vụ, công chức. Trong đó
tác phẩm có 2 phần:
Phần thứ nhất: Tác giả đã giới thiệu những vấn đề cơ bản về công vụ, công
chức, trong đó tác giả đã nêu những vấn đề nổi bật xã hội quan tâm hiện nay đó là:
vị trí việc làm và phương pháp xác định vị trí việc làm, tiêu chuẩn công chức và vấn
đề năng lực trong hoạt động công vụ; rồi vấn đề đổi mới thi nâng ngạch công chức
theo nguyên tắc cạnh tranh; chính sách phát hiện, thu hút và trọng dụng, đãi ngộ người
có tài trong nền công vụ…; những định hướng cải cách chế độ công vụ, công chức ở
Việt Nam đến năm 2020.
Phần thứ hai, tác giả đã cung cấp cho độc giả một cách hệ thống các văn bản pháp
luật về công vụ, công chức ở Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay, mặt khác tác giả đã đi
sâu giới thiệu những nét chung về hệ thống chính trị và pháp luật về công vụ, công chức
+ Bài viết “Một số vấn đề đặt ra trong thí điểm thi tuyển công chức lãnh
đạo, quản lý ở các bộ, ngành, địa phương” của ThS. Trần Văn Ngợi (2014), trong
đó, bài viết đã đề cập đến các vấn đề trong thi tuyển các chức danh cán bộ lãnh đạo
quản lý (Như: chủ trương của Đảng ta về đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý
cấp vụ, cấp sở, cấp phòng và tương đương; các đối tượng thuộc diện ứng cử hoặc
đăng ký dự tuyển; về cách thức thi tuyển; xem xét, đánh giá người đăng ký dự
tuyển…) của một số bộ ngành và một số địa phương trong nước
Song, qua nghiên cứu thấy rằng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên
sâu về quản lý Nhà nước về tuyển dụng công chức từ thực tiễn của các tỉnh Tây
4
Nguyên, đặc biệt là trên địa bàn của tỉnh Đắk Lắk.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận về quản lý nhà nước về tuyển dụng công chức; phân tích, đánh giá thực trạng
quản lý nhà nước về tuyển dụng công chức của tỉnh Đắk Lắk ; để từ đó đề xuất các
phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về tuyển
dụng công chức vào làm việc tại tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn tập trung vào các nhiệm
vụ cụ thể như sau:
- Nghiên cứu, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về
tuyển dụng công chức;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tuyển dụng công chức
của tỉnh Đắk Lắk ;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà
nước về tuyển dụng công chức vào làm việc tại tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
- Ý nghĩa lý luận: hệ thống hóa những lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về
tuyển dụng công chức; qua đó góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận quản lý
nhà nước về tuyển dụng công chức ở nước ta hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn: Ứng dụng, triển khai các giải pháp trong công tác tuyển
dụng góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về tuyển dụng công chức của
tỉnh Đắk Lắk.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài luận văn còn được thể hiện
gồm 3 Chương, như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận quản lý Nhà nước về tuyển dụng công chức
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về tuyển dụng công chức tại tỉnh
Đắk Lắk
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà
nước về tuyển dụng công chức tại tỉnh Đắk Lắk.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC
1.1. Khái niệm, đặc điểm
1.1.1. Khái niệm công chức
Ở một số nước trên thế giới, thuật ngữ công chức xuất hiện sớm hơn so với ở
Việt Nam như tại Anh năm 1931 từ “công chức” đã được ghi vào Từ điển Tomlin
Commisson và là từ bắt buộc trong ngôn ngữ hành chính của nhà nước. Công chức
được hiểu gồm những người làm việc trong Hoàng gia, thực hiện việc đề ra các
chính sách của Hoàng gia để phục vụ công việc quản lý và những người tổ chức
thực thi những chính sách ấy, đưa các chính sách ấy vào cuộc sống phục vụ các nhu
cầu hành chính của dân chúng.
Chế độ công chức được kết cấu theo kiểu “tài chuyên” của Hoa Kỳ tuyển
chọn và sử dụng các chuyên gia chuyên sâu từng lĩnh vực, chú trọng đến chuyên
môn cần thiết cho công việc, không hạn chế học vấn và tuổi tác; thực hiện chế độ
xét công trạng làm cơ sở để bổ nhiệm, thăng chức, thôi việc, trả lương, trừng phạt,
đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức, căn cứ năng lực và kết quả công tác để xếp
loại công chức. Hệ thống công vụ Hoa Kỳ là một hệ thống mở, có sự liên thông về
mặt nhân sự giữa khu vực công và khu vực tư. Đội ngũ công chức Hoa Kỳ không
mang tính thường xuyên, liên tục mà tồn tại hệ thống thải loại trong chế độ sử dụng.
Công chức ở Hoa Kỳ bao gồm: Những người làm việc trong ngành hành chính của
Chính phủ Hoa Kỳ được bổ nhiệm về chính trị như: Bộ trưởng, Thứ trưởng, Trợ lý
Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan độc lập và những người liên quan chức nghiệp
làm việc trong bộ máy hành pháp; Các công chức được bổ nhiệm về chính trị không
thuộc điều chỉnh của Luật Công chức, chỉ các công chức chức nghiệp mới do Luật
Công chức điều chỉnh. Ở Hoa Kỳ, quan hệ giữa Chính phủ với công chức được điều
chỉnh không chỉ bởi quy phạm pháp luật hành chính mà còn được điều chỉnh bởi
hợp đồng dân sự. [29, tr.16].
Trong nền công vụ truyền thống ở Pháp, công chức được quy định đó là:
"Công chức là người được bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên với thời gian
8
làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trong thứ bậc của các cơ quan
hành chính Nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc các công sở Nhà nước". trong
những năm gần đây, một khái niệm khác về công chức cũng được thừa nhận là:
"Công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh
thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở
hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền
hành chính công". Theo cách hiểu này, công chức Pháp gồm 3 loại: Công chức
hành chính Nhà nước, công chức trực thuộc cộng đồng lãnh thổ và công chức trực
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998.
Luật cán bộ công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008, Luật có hiệu lực
kể từ ngày 01/01/2010, quy định công chức hiện nay như sau:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị
thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của
đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, khái niệm công chức theo Luật Cán bộ, công chức 2008 bao gồm:
+ Công chức khối Đảng
+ Công chức trong các cơ quan nhà nước
+ Công chức trong các tổ chức chính trị - xã hội
+ Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng
+ Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải
là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
+ Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập.
Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ giới hạn công chức trong
10
các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bản tỉnh Đắk Lắk.
1.1.2. Khái niệm tuyển dụng công chức
thống công vụ để bổ nhiệm vào một ngạch công chức nào đó theo tiêu chuẩn
chuyên môn nhất định của vị trí công việc cần tuyển.
Theo Điều 34, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định:
- Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân làm 04 loại như sau:
+ Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp
hoặc tương đương;
+ Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính
hoặc tương đương;
+ Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc
tương đương;
+ Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương
đương và ngạch nhân viên.
- Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau:
+ Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
+ Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Nhằm cụ thể hóa Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010
của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Điều 4
Thông tư 13/2010/TT-BNV ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,
ban hành Quy định chi tiết một số điều về tuyển dụng và nâng ngạch công chức của
việc tuyển dụng công chức vào vị trí việc làm tương ứng với từng loại công chức
được thực hiện như sau:
+ Công chức loại D (ngạch nhân viên, cán sự hoặc tương đương) thực hiện
theo phương thức thi tuyển hoặc xét tuyển;
+ Công chức loại C (ngạch chuyên viên hoặc tương đương) thực hiện theo
phương thức thi tuyển, xét tuyển hoặc theo quy trình tiếp nhận không qua thi tuyển;
+ Công chức loại B (ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương) và công
chức loại A (ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương) thực hiện theo quy trình
tiếp nhận không qua thi tuyển.
Trường hợp đối tượng dự tuyển vào vị trí việc làm của công chức loại B và
quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục.
- Điều kiện về quốc tịch
13
Điểm khác biệt cơ bản giữa hệ thống công chức của nước ta so với các nước
phương tây là tính phụ thuộc chính trị. Ở các nước phương tây, công chức hoạt
động mang tính trung lập không phụ thuộc chính trị. Còn ở nước ta, toàn bộ hệ
thống công chức chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nên nguyên tắc đầu tiên phải
trung thành với Đảng, với nhân dân.
Vì công chức chịu sự ràng buộc về chính trị để phục vụ cho hoạt động chính
trị, có trách nhiệm với sự nghiệp của quốc gia nên họ phải là người Việt Nam, mang
quốc tịch Việt Nam.
- Điều kiện về đô tuổi:
Nói chung, tuổi gia nhập công vụ được quy định từ 18 tuổi trở lên. Điều đó
thể hiện sự ràng buộc pháp lý đối với công chức. Nếu một người dưới 18 tuổi, tức là
chưa đủ tư cách công dân thì không thể chịu trách nhiệm pháp lý trước nền công vụ.
Mặt khác, đối với tuyển dụng thông qua thi tuyển thì Nhà nước cũng không thể
tuyển người có tuổi sắp về hưu vì nếu làm như vậy thì thời gian phục vụ công vụ sẽ
ngắn, gây ra tình trạng không ổn định trong hệ thống nhân sự nhà nước. Vì vậy,
hoạt động của bộ máy khó có hiệu quả. Còn đối với tuyển dụng thông qua bầu cử
hoặc bổ nhiệm vào những công chức lãnh đạo thì đòi hỏi người có trình độ chuyên
môn cao và có nhiều kinh nghiệm nên không hạn chế về tuổi. Theo tinh thần đó,
Luật cán bộ công chức năm 2008 và Nghị định số 24/20110/NĐ-CP ngày 15/3/2010
quy định tuổi đời dự tuyển của người dự tuyển phải đủ từ 18 tuổi trở lên.
- Điều kiện về hạnh kiểm
Công chức là người đại diện cho nhà nước thực hiện công vụ. Do vậy, hạnh
kiểm được coi là một điều kiện không thể thiếu đối với người công chức. Công
1.2.1. Bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật
- Công khai, minh bạch:
Nguyên tắc này đỏi hỏi những thông tin liên quan đến việc thi tuyển phải
được thông báo công khai để những người tham gia thi tuyển được biết. Các nội
dung cần công khai như: tiêu chuẩn dự tuyển, số lượng cần tuyển, kết quả thi tuyển,
các chế độ ưu tiên, công khai những nội dung thay đổi có liên quan đến quyền và
nghĩa vụ của người dự tuyển. Thực hiện nguyên tắc này sẽ góp phần bảo đảm thực
hiện nguyên tắc khách quan, công bằng, đồng thời, nó có giá trị kiểm soát những cơ
quan, những người có trách nhiệm làm công tác thi tuyển công chức.
15
- Khách quan:
Thi tuyển công chức là một vấn đề rất nhạy cảm, rất dễ nảy sinh tiêu cực nên
phải luôn tuân thủ nguyên tắc khách quan. Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan tổ chức
thi tuyển phải căn cứ vào yêu cầu khách quan để thi tuyển và lựa chọn: đó chính là
nhu cầu thực tế của công việc, là những quy định pháp luật do nhà nước ban hành
và kết quả thi tuyển để tuyển chọn công chức. Thi tuyển phải công bằng, không có
yếu tố tư lợi, mọi người đều bình đẳng trước tiêu chuẩn đề ra.
- Đúng pháp luật:
Đây là nguyên tắc rất quan trọng góp phần đảm bảo tính nghiêm minh, chặt
chẽ, hạn chế được sự tuỳ tiện, tiêu cực. Nguyên tắc này đặc biệt nhấn mạnh trong
điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, nó
đòi hỏi các nội dung của thi tuyển công chức phải được thể chế hoá bằng các quy
định của pháp luật và việc tổ chức thi tuyển phải tuân thủ đầy đủ các quy định này.
Đồng thời phải có một cơ chế kiểm tra, giám sát hữu hiệu việc tổ chức thi tuyển của
các cơ quan, tổ chức; xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật
về thi tuyển công chức.
1.2.2. Dân chủ, công bằng
mà vẫn thiếu người làm việc.
1.2.5. Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân
tộc thiểu số
Trong việc tuyển dụng công chức vào bộ máy hành chính Nhà nước cũng
phải thực hiện những ưu tiên đối với các đối tượng như những người thuộc diện
chính sách như thương binh, gia đình liệt sĩ và có công với cách mạng; những người
thuộc dân tộc ít người, đặc biệt đối với những vùng rẻo cao, biên giới, vùng sâu,
vùng xa; những người tàn tật bẩm sinh nhưng không ảnh hưởng tới công vụ; ưu tiên
trong phân bổ theo cơ cấu giữa các vùng, các địa phương để bảo đảm sự tham gia
đồng đều trong công vụ; ưu tiên phụ nữ tham gia vào công vụ. Việc ưu tiên trên cho
các đối tượng trên nên xem đó là điều bắt buộc các công sở phải thực hiện. Nguyên
tắc này bảo đảm thí sinh nào bộc lộ tài năng hơn sẽ được tham gia công vụ. Do
nhiều người có nhu cầu gia nhập công vụ mà số chỗ làm việc thì có hạn mặt khác
đối với một ngạch công chức có những yêu cầu nhất định về chuyên môn, nên việc
tuyển dụng công chức có thể tuyển lựa đúng những người có thực tài.
17