Thực trạng và các yếu tố liên quan đến stress của bác sỹ và điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi năm 2018 (FULL TEXT) - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

VÕ VĂN VĂN

THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN STRESS CỦA BÁC SĨ
VÀ ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH QUẢNG NGÃI NĂM 2018

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II

HUẾ - 2019

MỤC LỤC



DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


5

ĐẶT VẤN ĐỀ

6
nhận stress nặng dao động trong khoảng 42-54% [20]; nghiên cứu Dương Thành
Hiệp (2014) ở Bến Tre cũng cho thấy tỷ lệ tương tự (56,9%) [10]; Nguyễn Thu Hà
(2016) nghiên cứu ở nhân viên y tế ngành tâm thần cho thấy tỷ lệ strees nặng chiếm
khoảng (66,7%) trong đó đa số nhân viên y tế có thể kiểm soát được stress (61,7%)
và chỉ có 5% cán bộ y tế bị stress cần sự can thiệp sớm. Tuy vậy, các nghiên cứu về
stress ở cán bộ y tế chủ yếu được thực hiện ở đối tượng là điều dưỡng tại các bệnh
viện ở miền Nam và miền Bắc trong khi có rất ít nghiên cứu về stress và các yếu tố
ảnh hưởng ở nhân viên y tế tại khu vực các tỉnh Miền Trung. Quảng Ngãi là một
tỉnh nghèo của Miền Trung, hệ thống y tế còn gặp nhiều khó khăn như thiếu trầm
trọng nguồn nhân lực cộng với áp lực về y đức, sự quá tải người bệnh, tình trạng
thiếu máy móc, trang thiết bị, môi trường làm việc chưa đảm bảo là gánh nặng đối
với nhân viên y tế. Để cung cấp bằng chứng khoa học và thực tiễn cho Lãnh đạo
Bệnh viện cũng như ngành Y tế xác định giải pháp nâng cải thiện chất lượng cuộc
sống và hiệu quả công việc cho cán bộ y tế tại tỉnh Quảng Ngãi, chúng tôi tiến hành
đề tài: “Thực trạng và các yếu tố liên quan đến stress của bác sỹ và điều dưỡng
tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi năm 2018.” nhằm 02 mục tiêu sau đây:
1. Đánh giá mức độ stress của bác sĩ và điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa
tỉnh Quảng Ngãi.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến stress ở đối tượng nghiên cứu.


7

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm về stress
Stress là một thuật ngữ tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”, có nghĩa là
“bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu
đựng. Đến thế kỷ thứ XIX xuất phát từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu, thuật ngữ stress

về phản ứng sinh lý học của stress và chủ yếu dựa trên học thuyết ổn định nội môi
của 2 nhà sinh lý học người Pháp và ngưỡi Mỹ là Claude Bernard (1813-1878) và
Walter Cannon (1871-1945) [7].
Tuy vậy, các nghiên cứu sau đó cũng chứng minh rằng, phản ứng stress không
chỉ đơn thuần là phản ứng về mặt sinh lý và nó còn bao gồm cả các phản ứng về
mặt xã hội. Richard S.Lazarus và Susan Folkman (1984) đã bổ sung cơ chế trong
phản ứng stress về mặt xã hội. Theo đó, bản chất của stress là tổng hợp các phản
ứng của chủ thể đối với các kích thích từ môi trường bên trong hoặc bên ngoài cơ
thể, là sự tương tác giữa chủ thể với với yếu tố môi trường [47]. Khác với Hans
Selye, Lazarus và Folkman lại quan tâm đến các cơ chế phản ứng về mặt xã hội,
trong đó chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa và thích nghi đối với
các tác nhân gây stress. Cùng một tác nhân như nhau nhưng các cá nhân khác
nhau có ngưỡng chịu đựng khác nhau, nhìn nhận và đánh giá về stress khác nhau,
và thực hiện các cách khác nhau để đối phó với stress. Xuất phát từ quan điểm
này, Lazarus và Folkman đề xuất học thuyết về chiến lược đối phó với stress
(Coping strategy) là cơ cở để nghiên cứu và đánh giá bản chất của stress nói chung
[47].
1.2. Các biểu hiện của stress
Có thể nói stress là một quá trình diễn biến phức tạp trong cuộc sống hàng
ngày bao gồm các phản ứng sinh lý, tâm lý và cách ứng xử; trong đó yếu tố tâm lý
có vai trò khá quan trọng. Đây là tất cả các sự việc, hoàn cảnh, điều kiện sinh hoạt
xã hội, những tác động của môi trường tự nhiên... có khả năng ảnh hưởng đến hoạt
động của con người, đến trạng thái tâm thần.
Stress thường gây nên tình trạng cảm xúc mạnh, chủ yếu là hiện tượng tiêu
cực như: sợ hãi, lo âu, buồn bã, tức giận... làm cho con người bị tác động cả về thể
chất lẫn tinh thần. Nhịp sống của xã hội hiện đại rất dồn dập và nhiều thách thức.
Trong quá trình đối phó với nó, stress trong môi trường làm việc có thể nảy sinh.


9



10
sống và hiệu quả đến công việc hoặc học tập. Triệu chứng sớm của stress do công
việc thường là nhức đầu, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, khó tập trung, dễ cáu kỉnh, khó
chịu ở dạ dày, không hài lòng về công việc, sa sút tinh thần. Stress dễ gây ra lo âu,
mất tập trung chú ý, mất tự tin, mất động cơ làm việc, cảm giác thất vọng, dễ bị
kích thích, dễ giận dữ, lạm dụng rượu hay chất gây nghiện, trầm cảm nặng có thẻ
dẫn đến tự tử. Đặc biệt, stress gây ảnh hưởng đến hiệu quả công việc hoặc làm tăng
nguy cơ mắc sai sót, nhất là trong môi trường làm việc nguy hiểm hay cần duy trì sự
chú ý cao độ như y tế. Stress trong công việc cũng làm ảnh hưởng đến các mối quan
hệ với đồng nghiệp [13]. Nếu stress tại nơi làm việc không được giải quyết, dễ dẫn
đến tình trạng kiệt sức liên tục về mặt thể chất và tâm thần, xuất hiện những cảm xúc
tiêu cực như tự đánh giá thấp bản thân, cảm giác không ai có thể giúp mình được và
tuyệt vọng. Những biểu hiện này sẽ dẫn đến các rối loạn mãn tính về sức khỏe, suy
giảm trầm trọng chất lượng cuộc sống. Những người bị stress trong công việc cũng
thường để stress tác động tới đời sống gia đình do họ dễ bị kích thích, dễ giận, mất
kiên nhẫn, buồn, kiệt sức, mất thích thú, quá mệt mỏi, giảm tình dục, ảnh hưởng đến
sự chăm sóc con cái và đến quan hệ với các thành viên khác trong gia đình [13].
Nhân viên y tế là những người làm công việc đặc biệt trực tiếp chăm sóc cho
người bệnh, biểu hiện stress của NVYT được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau.
- Biểu hiện stress về mặt cơ thể
Nhân viên y tế thường phải trực đêm nhiều, chế độ làm việc theo ca kíp nên
thường có những biểu hiện như rối loạn giấc ngủ, khi giấc ngủ không được đảm bảo
hoặc giấc ngủ không đủ thì kéo theo những biểu hiện như mặt mày ủ rủ, cảm giác
mệt mỏi. Nguy cơ rối loạn giấc ngủ sẽ tăng lên khi mà tình trạng thiếu nhân lực
trong các bệnh viện hiện nay sẽ khiến cho NVYT phải tăng cường trực đêm nhằm
đáp ứng nhu cầu chăm sóc bệnh nhân làm cho NVYT không có thời gian để nghĩ
ngơi lấy lại sức khỏe để tiếp tục công việc. Điều này kéo dài sẽ gây căng thẳng, mệt
mỏi cho NVYT. Bên cạnh đó khi là việc với áp lực công việc nhiều, bệnh nhân luôn

mất khả năng hài hước và khả năng tập trung vào công việc thường nhật thường đơn
giản nhất.
- Biểu hiện về hành vi
Những rối loạn tâm lý biểu hiện về mặt hành vi do công việc gây stress cho
nhân viên y tế như: không thể duy trì được những hoạt động kéo dài và không quản
lý được thời gian của mình. Những người bị stress thường có xu hướng rối loạn


12
hành vi, lối sống ví dụ: rối loạn ăn uống, tăng nguy cơ các hành vi có hại như hút
thuốc, uống rượu, lạm dụng chất kích thích …. Stress có thể biến người ít hút thuốc
thành người hút thuốc lá liên tục, và biến một người chỉ uống rượu xã giao thành
một người nghiện rượu thực sự. Ngoài ra, những người bị stress nặng hoặc kéo dài
cũng có xu hướng né tránh, tự tách mình khỏi gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và xã
hội.
1.3. Các ảnh hưởng của stress
Theo Lazarus và Folkman (1984), stress nhẹ có thể có lợi là do vùng dưới đồi của
não bộ sẽ phát tín hiệu tới tuyến thượng thận để kích thích tăng tiết adrenalin,
noreadrenalin và cortisol. Những chất này sẽ làm tăng tuần hoàn và tăng chuyển hóa
trong cơ thể, chúng ta sẽ cảm thấy có nhiều năng lượng và tỉnh táo. Tuy vậy, nếu stress
vừa và nặng đặc biệt là stress kéo dài hoặc cấp có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm
trọng đối với sức khỏe thể chất, tâm thần, xã hội và hiệu quả học tập, làm việc [47].
- Ảnh hưởng của Stress đến sức khỏe
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng stress có ảnh hưởng đến nhiều vấn đề sức
khỏe. Stress là nguyên nhân hoặc là yếu tố nguy cơ đối với nhiều bệnh tật.
+ Bệnh lý tiêu hóa: Susane (2000) đã mô tả rất chi tiết cơ chế gây bệnh của
stress đối với bệnh lý viêm loét dạ dày – tá tràng qua cả 2 cơ chế: Thay đổi hành vi
và thay đổi sinh lý. Các thay đổi hành vi khi bị stress bao gồm: Tăng các hành vi có
hại cho sức khỏe như hút thuốc, uống rượu, hoặc sử dụng các thuốc kháng viêm
non-steroid; giảm chất lượng bữa sáng và hạn chế chất lượng giấc ngủ. Những yếu

cho thấy stress nặng có thể làm giảm sự hài lòng công việc, ảnh hưởng xấu đến mối
quan hệ đồng nghiệp và quan hệ lãnh đạo trong công việc, hạn chế sáng tạo trong
công việc, suy giảm sự cố gắng, và làm giảm hiệu quả, năng suất lao động [7]
- Ảnh hưởng đến tâm thần, cảm xúc: Các nghiên cứu đã chứng minh rằng,
stress là nguyên nhân của nhiều rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu, rối loạn hành
vi, rối loạn cảm xúc, và tâm thần phân liệt…
- Ảnh hưởng đến hành vi, lối sống: Stress ảnh hưởng đến việc giao tiếp và sự
tác động qua lại về mặt xã hội giữa người với người: stress có thể làm khả năng
giao tiếp giảm sút (e dè, ngại giao tiếp, khó khăn trong việc hỗ trợ, chia sẻ cảm xúc
với người khác), thay đổi tiêu cực trong cung cách ứng xử làm cho các mối quan hệ
có chiều hướng xấu đi làm phá vỡ mối liên hệ giữa cá nhân với người khác hoặc tập
thể, nhóm. Stress còn làm thay đổi khẩu vị như chán ăn hoặc ăn quá nhiều, trì hoãn
mọi thứ và trốn tránh trách nhiệm của bản thân trong công việc chung, tăng cường
sử dụng rượu, ma túy hoặc thuốc lá…


14
Biểu hiện về mặt tâm lý của stress cũng chính là những sự thay đổi các hoạt
động tâm lý, thay đổi cảm xúc, thay đổi hành vi, hành động ứng xử, hoạt động và
nhận thức của cá nhân đã nêu trên. Những thay đổi này ở các mức độ khác nhau và
dấu hiệu khác nhau ở mỗi cá nhân tùy theo cường độ, độ lâu dài của tác nhân gây
stress và sự đánh giá chủ quan của cá nhân về tác nhân đó.
1.4. Nguyên nhân gây stress
Theo Trung tâm nghiên cứu về stress ở người thì các yếu tố gây stress
(stressors) là những yếu tố có thể tác động lên cá nhân làm giải phóng hormone
stress, bao gồm 2 nhóm yếu tố chính:
-

Các yếu tố môi trường bên trong. Đó là các yếu tố xuất phát từ môi trường bên
trong cơ thể (physiological or physical stressors). Bao gồm các yếu tố về bệnh tật,

Stress do những mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau trong xã hội, con
người sống trong xã hội luôn phải gắn kết với những quan hệ xã hội nhất định, và
những mối quan hệ này có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của mỗi
người, do đó những vấn đề bất lợi từ những mối quan hệ xã hội như quan hệ bạn bè,
đồng nghiệp, gia đình, tình yêu sẽ là một tác nhân gây stress đáng kể cho con người
[9]. Ngoài ra, việc thiếu những quan hệ gần gũi, thiếu bạn bè, thiếu giao tiếp, sống
một mình và cô độc hoặc phải ở một mình khi bản thân không muốn sẽ làm con
người có cảm giác cô đơn hay những người thiếu mạng lưới hỗ trợ xã hội cũng có
nguy cơ và gia tăng mức stress.
Những yếu tố liên quan đến nghề nghiệp có thể gây stress bao gồm: những
thay đổi, biến động trong công việc; đảm trách nhiều vai trò, trách nhiệm; bên cạnh
đó điều kiện, môi trường, thời gian lao động; tính chất, yêu cầu của công việc; vấn
đề thu nhập trong công việc; quan hệ trong lao động, công việc; sự phát triển nghề
nghiệp; về phương diện cơ cấu tổ chức quản lý không phù hợp với cá nhân đều có
thể trở thành tác nhân gây stress cho cá nhân đó.
Sự thiếu ý thức về khả năng kiểm soát sự kiện sẽ làm tăng thêm stress khi khi
cá nhân cảm thấy hành vi của họ chẳng có hiệu quả gì hoặc các sự kiện là không thể
kiểm soát được. Điều này được đặc trưng bởi tính thụ động trong hành vi, cảm xúc
ức chế và tư tưởng tập trung vào sự thất vọng. Sự không chắc chắn như không chắc
chắn về tương lai, không dự đoán trước được những sự kiện quan trọng, không dự đoán
trước được những thay đổi cũng gây ra stress. Khi cá nhân cảm thấy không có quyền
hoặc ít có quyền quyết định những việc của bản thân hoặc việc quan trọng thì sẽ
chịu đựng một ít stress bất lợi. Cảm giác hẫng hụt khi các nhu cầu bị cản trở trong
việc làm thỏa mãn chúng cũng là một nguồn gốc gây stress, việc cản trở có thể là do


16
chậm trễ hay trì hoãn, hoặc cũng có thể bắt nguồn từ thất bại mặc dù đã cố gắng tìm
sự thỏa mãn nhưng không được, hoặc do mất đi nguồn gây thỏa mãn, mâu thuẫn nội
tâm trong mỗi người những chấn thương tâm lý cũng là nguồn gốc cơ bản gây stress



17
đòi hỏi những yêu cầu bất hợp lý, ít nhận được sự quan tâm động viên từ cấp trên.
Mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp; không có cơ hội để nói chuyện cởi mở với
đồng nghiệp trong công việc; bất đồng với đồng nghiệp liên quan đến công việc;
thiếu sự hỗ trơ từ đồng nghiệp; gặp khó khăn khi làm việc chung với đồng nghiệp;
không có cơ hội để chia sẽ kinh nghiệm và cảm xúc với đồng nghiệp. Chứng kiến
cái chết của một bệnh nhân; phải đối phó với những bệnh nhân kích động; người
nhà bệnh nhân thường xuyên chửi mắng, đe dọa; tình trạng bệnh nhân không được
cải thiện; gia đình bệnh nhân đòi hỏi những yêu cầu bất hợp lý; khi bệnh nhân hoặc
người nhà bệnh nhân hỏi mà chưa có câu trả lời thỏa đáng; không đủ thời gian để hỗ
trợ tinh thần cho bệnh nhân; không đủ thời gian để đáp ứng yêu cầu của gia đình
bệnh nhân; chưa chuẩn bị đầy đủ để giúp đỡ cho gia đình của bệnh nhân [22]
1.5. Thang đo lường trầm cảm, lo âu, stress DASS
Stress là một khái niệm đa khía cạnh và là một trạng thái thường xuyên thay
đổi phụ thuộc vào sự tồn tại của yếu tố kích thích, môi trường và khả năng thích
nghi của mỗi cá nhân. Do đó, các công cụ chủ yếu để đánh giá stress hiện nay là sử
dụng các thang đo đa khía cạnh.
Hiện nay có nhiều thang đo stress được phát triển, chuẩn hóa và sử dụng
rộng rãi như Thang đo sức khỏe tổng quát GHQ (General Health Questionnaire),
Thang đo stress nghề nghiệp (Job Stress Questionnaire), Thang đo trầm cảm, lo âu
và stress DASS (Depression Anxiety and Stress Scales)…Trong số các thang đo này
thì thang đo Trầm cảm, Lo âu và Căng thẳng 21 câu hỏi (Depression Anxiety and
Stress Scales 21 items (DASS-21) được phát triển bởi Lovibond S.H và Lovibond
P.F (1995) là thang đo đã được dịch và chuẩn hóa để đo lường mức độ stress ở
người trưởng thành tại Việt Nam [48].
Thang đo DASS được phát triển bởi Lovibond S.H và Lovibond P.F vào năm
1995 để sàng lọc mức độ trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở cộng đồng ở người
trưởng thành (Lovibond, 1995)[48]. Nguyên bản, thang đo DASS có 42 câu hỏi,

Trầm cảm
0-9
10-13
14-20
21-27
>28

Lo âu
0-7
8-9
10-14
15-19
>20

Stress
0-14
15-18
19-25
26-33
>34

Sau khi đối chiếu số điểm thu được với bảng trên kết quả sẽ cho biết trạng stress,
lo âu, trầm cảm đang ở mức độ nào: bình thường, nhẹ, vừa, nặng hoặc rất nặng.
Thang đo DASS 21 đã được Nguyễn Văn Hùng và cộng sự dịch sang Tiếng
Việt năm 2013, kết quả cho thấy, DASS 21 có thể áp dụng tốt ở Việt Nam vì trong
quá trình sử dụng thang đo, thông tin được phỏng vấn trực tiếp từ đối tượng nghiên
cứu, thang đo đảm bảo tính khách quan, chuẩn hóa, dễ hiểu, sử dụng nhanh. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ của nghiên cứu này chúng tôi chỉ mô tả các mức độ của stress
trong các đối tượng nghiên cứu là bác sĩ, điều dưỡng và áp dụng công cụ của DASS


các yếu tố cá nhân như mối quan hệ với gia đình, bạn bè, xã hội [33].
Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah (2011) sử dụng thang đo DASS để đánh giá
tình trạng stress trên 110 điều dưỡng tại một bệnh viện Kuala Lumpur. Kết quả thu


20
được tỷ lệ stress là 23,6%, trong đó mức độ nhẹ là 13,6%, vừa là 5,5%, nặng là
0,9%, rất nặng là 3,6%. Hạn chế của nghiên cứu là loại trừ tất cả các điều dưỡng
mang thai và nam điều dưỡng. Trong khi phụ nữ đang mang thai có thể là người khá
nhạy cảm với stress, hay nam điều dưỡng trong một số nghiên cứu lại bị stress
nhiều hơn nữ điều dưỡng [56].
Nghiên cứu định tính của Oliveira và cộng sự (2013), chỉ ra rằng tình trạng quá tải
công việc là một yếu tố quan trọng cho sự căng thẳng trong phòng cấp cứu. Làm việc
trong phòng cấp cứu là một công việc cực kỳ khó tính, xử lý các thủ tục phức tạp phải
được thực hiện trong cách đơn giản, đây là một tình huống gây stress nhiều nhất. Điều
kiện làm việc có ảnh hưởng đối với sự căng thẳng, đây là cảm nhận của tất cả các nhân
viên tại nơi làm việc, từ điều dưỡng cho đến các nhân viên làm sạch, số lượng lớn các
trường hợp người bệnh cần điều trị ngoại trú, công việc tổ chức và môi trường gây ra rất
nhiều áp lực, quá tải về thể chất và cảm xúc trong các hoạt động hàng ngày của họ.
Trong phòng cấp cứu, điều dưỡng phải làm việc gấp đôi để vượt qua những hạn chế; dẫn
đến tình trạng sức khỏe dễ xấu đi và có nguy cơ tâm thần. Mối quan hệ giữa các cá nhân,
đối phó với cơn đau và cái chết; đối phó với điều kiện làm việc không lành mạnh, cấu
trúc quản lý cứng nhắc, thiếu trách nhiệm trong ra quyết định; làm việc theo ca; làm việc
dưới áp lực thời gian và quá tải. Tất cả đã gây ra sự căng thẳng khủng khiếp cho NVYT
tại phòng cấp cứu, đặc biệt là đối với điều dưỡng. Cuối cùng, thiếu động lực điều dưỡng
hiển nhiên là biểu tượng của tình hình căng thẳng và gây ra những thay đổi đáng kể trong
sự năng động công việc của điều dưỡng [62].
1.7.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thúy (2011) Đánh giá trạng thái stress của
cán bộ y tế khối lâm sàng bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2011, có 120 NVYT

những điều dưỡng có kiêm nhiệm cả công tác quản lý có nguy cơ bị stress cao gấp
5,2 lần, mối quan hệ với đồng nghiệp ở mức bình thường/ không tốt có nguy cơ
stress cao gấp 2,3 lần; từng có mâu thuẫn với cấp trên có nguy cơ stress cao gấp 4,3
lần so với nhóm so sánh [28].
1.8. Sơ lược về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi được xếp hạng II, trực thuộc Sở Y tế tỉnh
Quảng Ngãi quản lý, đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt đề án lên
hạng I giai đoạn 2016-2020, là tuyến cuối về chuyên môn kỹ thuật của tỉnh; nằm
trên đường Lê Hữu Trác, phường Nghĩa Lộ, thành phố Quảng Ngãi; được xây mới
và đưa vào hoạt động vào cuối năm 2009; thiết kế ban đầu cho 600 giường bệnh;
tổng diện tích sàn là 35.753m2 trên diện tích đất gần 5 hecta; được giao kế hoạch


22
800 giường bệnh nhưng thực kê đến 1.222 gường bệnh; công suất sử dụng gường
bệnh năm 2017 là 138,4% [1].
Bệnh viện hiện có 08 phòng chức năng, 20 khoa lâm sàng, 08 khoa cận lâm
sàng và 01 phòng Giám định pháp y; là nơi tập trung phần lớn thiết bị y tế hiện đại
và nhân lực chất lượng cao của tỉnh. Ban Giám đốc gồm 01 Giám đốc và 03 Phó
Giám đốc. Tổng số công chức, viên chức, người lao động là 839 người (635 biên
chế, 22 hợp đồng theo Nghị định 68 và 182 hợp đồng theo chức danh) gồm 155 bác
sĩ (02 tiến sĩ, 13 CKII, 32 thạc sĩ, 45 CKI, 63 bác sĩ đa khoa), 52 dược sĩ (02 thạc sĩ,
02 CKI, 06 đại học, 03 cao đẳng, 39 trung học); 337 điều dưỡng (17 đại học, 48 cao
đẳng, 272 trung học), 10 hộ sinh viên (01 đại học, 09 trung học), 77 kỹ thuật viên y
(23 đại học, 15 cao đẳng, 39 trung học), 166 nhân viên khác (04 thạc sĩ, 36 đại học,
12 cao đẳng). Trong đó, hệ điều trị có 558 bác sĩ và điều dưỡng (66,51%), bao gồm
134 bác sĩ (15,97%) và 424 điều dưỡng (50,54%) [1].
Bệnh viện có nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh, người
nước ngoài sinh sống và làm việc trên địa bàn tỉnh và nhân dân các tỉnh lân cận;
thực hiện 07 chức năng, nhiệm vụ: (1) Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh (2) Đào tạo

Các yếu tố môi trường làm việc
Diện tích, nhiệt độ và tiếng ồn nơi
làm việc, cơ sở vật chất, mối quan hệ
với cấp trên, sự hỗ trợ của cấp trên,
mối quan hệ với đồng nghiệp, sự phối
hợp và hỗ trợ của đồng nghiệp, tính
chất và mức độ công việc được phân
công, sự ổn định trong công việc, mối
quan hệ với người bệnh, cơ hội học
tập, thang tiến…

Sơ đồ 1.2. Khung lý thuyết nghiên cứu


24
Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Bác sĩ và điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bác sĩ và điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng đã có chứng chỉ hành nghề.
- Có thời gian làm việc liên tục tại Bệnh viện tính đến thời điểm nghiên cứu.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ
- Bác sĩ, điều dưỡng mới về công tác tại bệnh viện nhưng chưa hết thời gian
tập sự, chưa có chứng chỉ hành nghề.
- Bác sĩ, điều dưỡng chỉ làm công việc quản lý hành chính tại các phòng/đơn
vị chức năng.
- Không đồng ý điền đầy đủ thông tin trong Phiếu điều tra.

Chọn 08 - 10 đối tượng tham gia phỏng vấn sâu
Chọn 04 nhóm thảo luận nhóm có trọng tâm
Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định tính: chọn mẫu chủ đích
Phỏng vấn sâu: Chọn cỡ mẫu 8-10 đối tượng. Cụ thể:
Nhóm 1: chọn 02 đối tượng bác sĩ có stress sau khi có kết quả định lượng.
Nhóm 2: chọn 02 đối tượng bác sĩ không có stress sau khi có kết quả định lượng.
Nhóm 3: Chọn 02 đối tượng Điều dưỡng có stress, sau khi có kết quả định lượng).
Nhóm 4: Chọn 02 đối tượng Điều dưỡng không có stress, sau khi có kết quả định

-

lượng.
Thảo luận nhóm có trọng tâm: Chọn 04 thảo luận nhóm có trọng tâm, mỗi TLN có
08-10 người. Chọn mẫu TLN có trọng tâm được thực hiện sau khi có kết quả nghiên
cứu định lượng. Mỗi TLN có trọng tâm chọn 2 nhân viên/mỗi khoa (trong đó có 01

stress nặng và 01 stress nhẹ), cụ thể:
+ TLN1 (nhóm bác sĩ có stress nặng): gồm 8-10 người đại diện các khoa khoa Khám
và Cấp cứu, khoa Nội tổng hợp, và khoa Hồi sức tích cực - Chống độc và Khoa Nội
tim mạch, Lão khoa và Cán bộ trung cao. Mỗi khoa chúng tôi chọn 2 nhân viên để
+

tham gia thảo luận nhóm có trọng tâm.
TLN2 (nhóm bác sĩ có stress nhẹ): gồm 8-10 người đại diện các khoa khoa Khám
và Cấp cứu, khoa Nội tổng hợp, và khoa Hồi sức tích cực - Chống độc và Khoa Nội
tim mạch, Lão khoa và Cán bộ trung cao. Mỗi khoa chúng tôi chọn 2 nhân viên để

tham gia thảo luận nhóm có trọng tâm.
+ TLN3 (nhóm điều dưỡng có stress nặng): gồm 8-10 người đại diện các khoa
Ngoại Tổng hợp, khoa Ngoại Thần kinh, Ngoại Chấn thương chỉnh hình - Bỏng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status