Đánh giá kiến thức, thực hành về bệnh hen phế quản của bệnh nhân đang điều trị tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị - Pdf 25


ĐẶT VẤN ĐỀ

Hen phế quản (HPQ) là bệnh viêm mạn tính đường hô hấp, khá phổ
biến trong các bệnh đường hô hấp ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế
giới. Tỷ lệ lưu hành hen ngày càng gia tăng trong những năm gần đây.
Theo báo cáo của Chương trình khởi động toàn cầu phòng chống hen
(Global Intiniative for Asthma – GINA) (2006), hàng năm thế giới có khoảng
300 triệu người mắc hen và 25 vạn người chết vì hen. Tại Việt Nam, theo Hiệp
hội Hen, Dị ứng và Miễn dịch (2005) có khoảng hơn 5% dân số bị bệnh. Hen phế
quản ảnh hưởng quan trọng tới cuộc sống của người bệnh, hơn nữa cơn hen kịch
phát còn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của họ [1], [2]. Dự kiến đến năm
2025 số người bị HPQ có thể lên đến 400 triệu người, trong đó 6%-8% người
lớn, 10% -12% trẻ em < 15 tuổi, 16% - 18% ở người cao tuổi. Tại Việt Nam,
theo kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị Tuyết Lan thì tỉ lệ bệnh nhân hen >
60 tuổi chiếm tỉ lệ 17,6% [9]. Như vậy, HPQ có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Bệnh
hen diễn biến phức tạp ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ và có thể dẫn tới tử vong.
Tỉ lệ tử vong do HPQ ngày một tăng gây tổn thất lớn về kinh tế và xã hội, chỉ
đứng sau tử vong do ung thư, vượt lên trên tử vong do các bệnh tim mạch,
trung bình 40 – 60 người/1triệu dân

Mặc dù hen là bệnh viêm mạn tính đường thở nhưng đa số người bệnh
đều có thể chung sống thoải mái với bệnh hen. Vài năm trở lại đây đó có nhiều
tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị và kiểm soát hen, bệnh hen hoàn toàn có thể
kiểm soát được. Nhưng thực tế hiện nay vẫn còn một số lượng lớn bệnh hen
phế quản phải nhập viện, nguyên nhân là do sự thiếu hiểu biết của bệnh nhân
và phương pháp điều trị bệnh còn chưa đúng và chưa đầy đủ. Vì vậy việc cung
cấp kiến thức cho cộng đồng về bệnh hen phế quản về cách nhận biết các dấu
hiệu lên cơn hen, nhận biết các yếu tố làm bùng phát cơn hen, cách sử dụng
thuốc cắt cơn và dự phòng hen là rất quan trọng [6].
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

Hippocrates (460 – 370) đã đề xuất và giải thích từ “asthma” (thở vội vã
theo tiếng Hy Lạp) để mô tả một cơn khó thở có biểu hiện khò khè.
Đến thế kỷ thứ II sau công nguyên, hen phế quản được Aretaeus mô tả
chi tiết hơn. Ông cho rằng hen là bệnh mạn tính có chu kỳ, có ảnh hưởng của
thay đổi thời tiết và làm việc gắng sức.
Từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ XVII do ảnh hưởng của tôn giáo nên
việc nghiên cứu về hen không được quan tâm, các hiểu biết về hen gần như
không có tiến bộ mới.
Năm 1615, Van Helmont thông báo các trường hợp khó thở do phấn hoa.
Năm 1698, John Floyer giải thích nguyên nhân gây khó thở là do co thắt
phế quản, ông phân loại ra khó thở chu kỳ và khó thở liên tục nhưng chưa
phân biệt được hen và viêm phế quản mạn tính.
Năm 1803, F.D. Reisseissen nói đến sự co thắt của các cơ trơn đường hô
hấp mà sau này người ta lấy tên của ông đặt cho cơ trơn phế quản là cơ
Reisseissen.
Năm 1819, Laennec xác định cơn khó thở là do co thắt cơ Reisseissen.
Năm 1860, Samter chứng minh bệnh hen do tiếp xúc với lụng mốo.
Năm 1873, Blackley chứng minh phấn hoa và một số loại cỏ có thể là
nguyên nhân gây hen.
Năm 1902, việc C.Richer gây được shock phản vệ trên thực nghiệm
(giải thưởng Nobel 1913) đã đặt cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn về hen phế
quản và các bệnh dị ứng.
Năm 1910, Dale phát hiện ra Histamine. Năm 1936, Chakravarty tìm ra
Serotonin. Năm 1940, Ado lưu ý đến vai trò của Acetylcholin.
Sau đó, nhiều tác giả nghiên cứu và tìm ra vai trò của rất nhiều loại chất
trung gian hoá học (lymphokin, leucotrien, cytokin), các loại tế bào (tuyến ức,
lympho B, lympho T) và cả kháng thể (IgE) trong cơ chế bệnh sinh của hen.
Từ năm 1985 đến nay nhiều nghiên cứu chứng minh rằng, viêm đóng
vai trò quan trọng trong hen dẫn đến tình trạng co thắt phế quản, tăng tính
phản ứng phế quản và từ đó có nhiều bước cải tiến trong việc điều trị và phòng

+ Thuốc (aspirin và các thuốc chống viêm non-steroid, thuốc chẹn
β).
+ Gắng sức.
+ Phấn hoa.
+ Nhiễm khuẩn, nhiễm virus đường hô hấp.
+ Khói thuốc lá, khói than, mùi bếp dầu, bếp gas.
+ Cảm xúc mạnh.
- Đáp ứng tốt với thuốc giãn phế quản.
- Test da với dị nguyên dương tính hoặc định lượng kháng thể IgE đặc
hiệu tăng.
- Test kích thích methachollin (+).
1.2.2.2. Chẩn đoán phân biệt:
- Hội chứng trào ngược dạ dày thực quản.
- Bất thường hoặc tắc nghẽn đường hô hấp: nhũn sụn thanh âm, khí phế
quản, hẹp khí phế quản do chèn ép, xơ, ung thư, dị dạng quai động mạch chủ,
dị vật, dò thực quản, khí quản.
- Thoái hoá nhầy nhớt.
- Hen tim: suy tim trái do tăng huyết áp, hẹp hai lá.
- Viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính: tiền sử ho khạc đờm kéo dài, rối
loạn tắc nghẽn cố định.
- Hội chứng tăng thông khí: chóng mặt, miệng khô, thở dài, histeria…
- Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)

1.3. CƠ CHẾ BỆNH SINH HEN PHẾ QUẢN [5], [7], [15]
Hiện nay người ta biết rõ hơn cơ chế bệnh sinh của hen phế quản. Có 3
hiện tượng bệnh lý cơ bản: viêm, co thắt và gia tăng tính phản ứng phế quản.
1.3.1. Viêm là quá trình chủ yếu trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản
- Viêm mãn tính niêm mạc đường thở với nhiều bạch cầu ái toan là nét
đặc trưng phân biệt giữa viêm của hen với viêm của bất kỳ bệnh lý hô hấp nào
khác.

, LTC
4
, LTD
4
) có tác dụng làm tăng
tính thấm thành mạch, tăng tính phản ứng phế quản, tăng tiết nhầy…
- Yếu tố hoạt hoá tiểu cầu ( Platelet activating factor: PAF) gây co thắt,
viêm nhiễm phù nề phế quản.
- Các neuropeptid do các eosinophil tiết ra một số chất trung gian như
MBP ( Major basis protein), ECP ( Eosinophil cationic peptid) làm tróc biểu
mô giải phóng các meuropeptid gây viêm như chất P ( substance P), VIP,
CGERP, ET
1

- Các phân tử kết dính ( Adhension Molicule: AM) được phát hiện trong
những năm gần đây gồm nhiều họ khác nhau, có mối quan hệ gắn bó với các
cytokines trong quá trình viêm dị ứng.Có tác dụng gắn kết các tế bào với nhau
ở trong các mô, tổ chức, tạo điều kiện cho các tế bào di tản đến vị trí viêm dị
ứng, chủ yếu là phân tử kết dính liên bào 1 và 2.
1.3.2. Co thắt phế quản
- Hậu quả của hiện tượng viêm gây nên tình trạng co thắt phế quản. Ở
trẻ hen phế quản thụ thể β
2
bị suy giảm làm cho enzym Adenylcyclase kém
hoạt hoá, gây nhiều thiếu hụt AMPc ở cơ trơn phế quản. Tình trạng này làm
cho ion calci xâm nhập vào tế bào, đồng thời dưỡng bào bị thoái hoá hạt, giải
phóng các chất trung gian hoá học gây co thắt phế quản.
- Rối loạn hệ thần kinh tự động giao cảm làm tăng tiết cholin kích thích
hệ cholinergic làm giải phóng các chất trung gian hoá học và tăng GMPc nội
bào gây phản xạ co thắt phế quản.

+ Phù nề mô kẽ, thâm nhiễm bạch cầu ái toan.
+ Phá huỷ biểu mô phế quản và làm dày lớp màng đáy.
+ Tăng số lượng tế bào tiết nhầy và phì đại các tuyến dưới niêm mạc.
+ Phì đại và tăng sinh tế bào cơ trơn phế quản.
+ Giãn mạch.
+ Nút nhầy trong lòng phế quản.
Như vậy viêm là quá trình bệnh lý chủ yếu trong hen phế quản, nhất là
trẻ em dễ có quá trình viêm nhiễm đường hô hấp trên, có ý nghĩa quan trọng
trong việc xác định hướng điều trị các cơn khó thở.
1.4. YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA HEN PHẾ QUẢN [3], [9], [17]
1.4.1. Yếu tố chủ thể.
Các yếu tố này có thể là điều kiện phát sinh hoặc ngăn cản quá trình
phát triển hen phế quản, bao gồm:
- Cơ địa dị ứng (atopy).
- Tăng tính phản ứng đường thở.
- Béo phì
- Giới tính:
+ Trẻ dưới 5 tuổi: tỷ lệ trẻ nam bị hen phế quản nhiều hơn trẻ nữ.
+ Sau 10 tuổi gần như không có sự khác biệt giữa hai giới
1.4.2. Yếu tố môi trường
Ảnh hưởng tới tính cảm thụ của cá nhân có nguy cơ phát triển thành hen
phế quản, thúc đẩy làm nặng hen và/ hoặc làm duy trì triệu chứng, bao gồm
- Các loại dị nguyên:
+ Dị nguyên trong nhà: Bọ nhà, dị nguyên động vật nấm mốc.
+ Dị nguyên ngoài nhà: Phấn hoa và nấm.
- Yếu tố nghề nghiệp: Hen phế quản hay gặp ở các nước công nghiệp,
thường ở công nhân chế biến tôm cua, công nhân dệt, công nhân sản xuất nhựa,
- Khúi thuốc lá.
- Ô nhiễm không khí: Các loại khí thải sinh hoạt và công nghiệp.
- Nhiễm trùng hô hấp bao gồm:

* X quang: Lúc đầu chiếu hoặc chụp phổi có thể bình thường, nhưng sau
đó xuất hiện nhanh chóng hiện tượng khí phế thũng, dần dần lồng ngực như kéo
dài theo chiều thẳng đứng, vòm hoành hạ thấp xuống, xương đòn nâng lên,
khoảng liên sườn rộng ra, đường kính ngang của lồng ngực cũng rộng hơn bình
thường. Phổi quỏ sỏng tương phản với hình ảnh rốn phổi mờ đậm.
Khi có biến chứng tắc nghẽn, viêm nhiễm nặng, trên X quang có thể
thấy hình ảnh rối loạn thông khí, có thể xẹp phổi hoặc có biến chứng tràn khí
màng phổi .
* Thăm dò chức năng thông khí phổi: Có giá trị trong việc đánh giá mức
độ hen, mức độ rối loạn thông khí trong HPQ và hiệu quả điều trị.
- Đo chức năng hô hấp bằng phế dung kế :
+ Dung tích sống giảm.
+ VMES ( Thể tích khớ thở ra trung bình/giây) giảm.
+ Tỷ lệ Tiffeneau giảm.
+ Thể tích khí cặn tăng.
- Đo lưu lượng đỉnh (PEF) bằng dụng cụ lưu lượng đỉnh kế hoặc bằng
phế dung kế: PEF giảm.
1.6. DIỀU TRỊ HEN PHẾ QUẢN [3], [8], [14], [15]
Hiện nay có rất nhiều loại thuốc được sử dụng để điều trị HPQ, tuy
nhiên thường sử dụng các loại sau:
1.6.1. Thuốc kích thích chọn lọc beta 2 adrenergic
Thuốc có tác dụng làm giãn cơ trơn phế quản, thúc đẩy quá trình làm
sạch các chất nhầy trong phế quản, giảm tính thấm thành mạch, ức chế giải
phóng histamin và các chất trung gian hóa học khác. Thuốc có hai loại: loại tác
dụng ngắn - SABA (Short Acting Beta 2 Agonist) dùng để cắt cơn hen. Và loại
tác dụng dài - LABA (Long Acting Beta 2 Agonist) dùng để kiểm soát hen.
Thuốc có nhiều dạng dùng như dạng khí dung thường có thuốc salbutamol
(ventolin) hay terbutalin (bricanyl) tác dụng nhanh trong 1 - 5 phút và kéo dài
4 - 6 giờ. Dạng hít xịt hoặc phun mù: với loại tác dụng ngắn, hiệu quả nhanh
như thuốc dùng dạng khí dung, với loại tác dụng dài có formoterol hay

không có tác dụng cắt cơn hen cấp.
1.6.5. Ketotifen (zaditen)
Tác dụng ức chế chất trung gian hóa học gây viêm, có tác dụng chống dị
ứng nhưng không có tác dụng giãn phế quản do đó không dùng cắt cơn hen
cấp.
1.6.6. Corticosteroid
Thuốc có tác dụng chống viêm, làm giảm tính mẫn cảm của phế quản.
Tự bản thân thuốc này không có tác dụng giãn phế quản. Thuốc dùng ngừa
cơn tái phát về sau. Ưu tiên dùng đường khí dung hoặc phun mù. Chỉ khi bị
nặng mới dùng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Tuy nhiên, dùng khí dung
hoặc phun mù kéo dài có thể gây nhiễm nấm Candida ở miệng, họng như
thuốc becotide - pulmicort hay flixotide. Dùng đường uống hoặc tiêm kéo dài
có nhiều tác dụng phụ toàn thân như prednisolon - methylprednisolon hay
depersolon.
1.6.7. Thuốc kháng leukotrien
Là thuốc có tác dụng chống viêm do ức chế men 5 – lipooxynase không
cho men này hoạt động xúc tác để tạo ra leukotrien từ acid arachidonic hoặc ức
chế tổng hợp leukotrien D4 & E4, do đó thuốc có tác dụng ngăn ngừa cơn hen
do gắng sức hay phối hợp với các thuốc phòng hen khác. Đó là thuốc
montelukast (singulair), zilentron (zyflo).
1.6.8. Các thuốc phối hợp trong dự phòng HPQ
Phối hợp LABA với ICS (corticoid được sử dụng trong điều trị hen phế
quản) như seretid (salmeterol + fluticason) hoặc symbicort (formoterol +
budesonide). Tác dụng của loại thuốc phối hợp này là giảm được các triệu
chứng mạn tính ở đường hô hấp, tăng chức năng phổi, giảm cơn hen cấp và
tăng chất lượng cuộc sống của người HPQ. Hiệu quả của việc phối hợp này
tương đương với việc tăng gấp đôi liều corticoid đơn thuần.
1.6.9. Thuốc kháng IGE (omalizumab)
Là kháng thể đơn dòng có tác dụng ức chế việc giải phóng ra các chất
hóa học trung gian gây viêm như leukotrien, interlekin, histamin do đó không

+ Thuốc cắt cơn không có tác dụng.
+ Thức dậy lúc nửa đêm vì khó thở.
+ Nói năng khó nhọc.
+ Tớm tỏi: môi, móng tay, đầu ngón tay.
+ Co kéo cơ hô hấp.
+ Nhịp tim nhanh.
+ Đi lại khó khăn.
Năm 2004, Bộ Y tế Việt Nam triển khai dự án phòng chống hen phế
quản với 7 mục tiêu trong đó có các mục tiêu:
- Nâng cao kiến thức về phòng chống hen phế quản trong nhân dân
(tuyên truyền và giáo dục sức khỏe).
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về lĩnh vực kiểm soát dự
phòng và điều trị hen phế quản. Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
+ 45 trường hợp bệnh HPQ đến khám, điều trị tại Bệnh viện đa khoa

2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu kiến thức về bệnh hen phế quản của bệnh nhân điều trị tại
Bệnh viện đa khoa Quảng Trị
- Tìm hiểu thực hành về bệnh hen phế quản của bệnh nhân điều trị tại
Bệnh viện đa khoa Quảng Trị
2.3.1. Các biến số nghiên cứu.
* Thông tin chung:
- Tuổi: < 40 tuổi; 41-50 tuổi, 51-60 tuổi, > 60 tuổi
- Giới: nam, nữ.
- Trình độ học vấn :Tiểu học, THCS, THPT, CĐ-ĐH
- Nghề nghiệp: CBVC, Nông dân, già cả, khác
- Điều kiện kinh tế: Nghèo, Trung bình, Khá giàu
- Tiền sử gia đình.
* Tìm hiểu kiến thức về bệnh HPQ
- Có nghe nói đến bệnh hen phế quản
- Hiểu biết các dấu hiệu hay gặp ở bệnh hen phế quản
- Hiểu biết nguyên nhân gây bẹnh hen phế quản
- Hiểu biết hen phế quản có thể kiểm soát được.
- Hiểu biết những yếu tố nguy cơ gây ra bệnh hen phế quản
- Hiểu biết về biến chứng bệnh hen phế quản
* Thực hành phòng chống bệnh hen phế quản
- Phương pháp phòng chống hen phế quản
- Khi bị hen phế quản thường đến cơ sở nào ?
- Thực hành như thế nào?
Không hút, tránh tiếp xúc khói thuốc lá, thuốc là, khói bếp
Tránh tiếp xúc với lông chó, lông mèo, mùi thơm, phấn hoa
Thường xuyên giặt và phơi khô chăn ga gối đệm,
Nhà ở luôn khô thoáng, sạch sẽ, đủ ánh sáng, dùng thuốc diệt dán
Sử dụng thuốc xịt dự phòng theo hướng dẫn của BS


13
28,3
>60
22
47,8
Tổng
46
100,0
Tuổi TB (X±SD)
Tuổi TB = 62,26±18,87, Tuổi
MAX
= 90 và Tuổi
MIN
=16

Biểu đồ 3.1. Phân bố theo tuổi
Nhận xét: Đa số bệnh nhân HPQ ở nhóm > 60 tuổi chiếm 47,8%; chỉ
có 8,7% bệnh HPQ ở nhóm < 40 tuổi.
Bảng 3.2. Phân bố theo giới
Giới
n
Tỷ lệ %
Nam
25
54,3
Nữ
21
45,7
Tổng
46

3.1.3. Phân bố theo học vấn
Bảng 3.4. Phân bố theo trình độ học vấn
Học vấn
n
Tỷ lệ %
Tiểu học
7
15,2
THCS
14
30,8
THPT
16
34,8
CĐ-ĐH
9
19,6
Tổng
46
100,0

Biểu đồ 3.3. Phân bố theo trình độ học vấn

Nhận xét:
Phần lớn các đối tượng nghiên cứu là THPT chiếm 34,8%, tiểu học chỉ
chiếm 15,2%.



3.1.4. Phân bố theo điều kiện kinh tế

54,4
Tổng
46
100,0

Nhận xét:
Các bệnh nhân HPQ ở thành thị chiếm 54,5% cao hơn nông thôn
(45,6%).


3.2. KIẾN THỨC VỀ BỆNH HEN PHẾ QUẢN
3.2.1. Nghe biết về hen phế quản
Bảng 3.7. Nghe biết về hen phế quản
Nghe biết về hen phế quản
n
Tỷ lệ %

46
100,0
Không
0
0,0
Tổng
46
100,0

Nhận xét:
Phần lớn bệnh nhân HPQ đều có nghe đến bệnh HPQ

3.2.2. Hiểu biết về dấu hiệu hay gặp ở bệnh nhân bị HPQ

Các bệnh phổi có từ trước (như hen, giãn phế
quản
34
73,9
Tiếp xúc khói thuốc lá hoặc khói do củi đốt
41
89,1
Hít phải những chất gây dị ứng (dị nguyên) như
bụi nhà, lông súc vật
38
82,6
Thời tiết lạnh, khô
25
54,3
Không biết
14
30,4

Biểu đồ 3.6. Hiểu biết nguyên nhân gây bệnh HPQ

Nhận xét:
Tỷ lệ hiểu biết các nguyên nhân gây bệnh HPQ là tiếp xúc khói thuốc lá
hoặc khói do củi đốt chiếm cao nhất 89,1%; còn 30,4% không biết rõ nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status