ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
Trần Thị Khánh Hoa
ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC
NGĂN NGỪA, GIẢM THIỂU TÁC HẠI CỦA BẠO LỰC
GIA ĐÌNH (NGHIÊN CỨU TẠI XÃ HIỆP HÒA,
THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
Trần Thị Khánh Hoa
ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC
NGĂN NGỪA, GIẢM THIỂU TÁC HẠI CỦA BẠO LỰC
GIA ĐÌNH (NGHIÊN CỨU TẠI XÃ HIỆP HÒA,
THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Trung Hải
giảng dạy và giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành Luận văn Thạc sĩ
này. Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới
Thầy giáo TS. Nguyễn Trung Hải, người đã tận tình hướng dẫn tôi và cho tôi
những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập. Đồng thời, tôi cũng xin
được gửi lời cảm ơn tới những nạn nhân bạo lực gia đình, tập thể lãnh đạo và
nhân dân xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh đã nhiệt tình giúp
đỡ và phối hợp với tôi trong quá trình thực hiện Luận văn. Sau cùng, tôi xin
được gửi lời cảm ơn đặc biệt tới người thân trong gia đình và bạn bè đã động
viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, đặc biệt là báo cáo lại đi theo
hướng nghiên cứu ứng dụng nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn và
những người quan tâm tới báo cáo này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trần Thị Khánh Hoa
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC.........................................................................................................1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................3
DANH MỤC BẢNG BIỂU ..............................................................................4
MỞ ĐẦU ...........................................................................................................5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH ....................................................17
1.1. Các khái niệm công cụ ..............................................................................17
1.2. Các lý thuyết áp dụng ...............................................................................19
1.2.1. Lý thuyết xung đột xã hội ...................................................................19
NGĂN NGỪA, GIẢM THIỂU TÁC HẠI CỦA BẠO LỰC GIA ĐÌNH
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TẠI XÃ HIỆP HÕA, THỊ XÃ QUẢNG YÊN ...........55
3.1. Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại
của bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên,
tỉnh Quảng Ninh...............................................................................................55
3.1.1. Thông tin về nhóm .............................................................................55
3.1.2. Tiến trình công tác xã hội nhóm ........................................................55
3.2. Đánh giá những điểm mạnh thực hiện mô hình công tác xã hội nhóm
trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình đối với phụ nữ
tại xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên ..................................................................65
3.2.1. Lượng giá các kết quả đạt được ........................................................65
3.2.2. ánh giá sự tham gia của các thành viên trong nhóm .....................66
3.3. Đánh giá những hạn chế ...........................................................................66
3.4. Đề xuất giải pháp ......................................................................................67
3.4.1. Nhóm giải pháp với chính quyền địa phương ...................................67
3.4.2. Nhóm giải pháp với các thành viên trong nhóm ...............................67
3.4.3. Nhóm giải pháp với cộng đồng ..........................................................67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ...............................................................71
1. Kết luận ....................................................................................................71
2. Khuyến nghị.............................................................................................72
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................74
PHỤ LỤC
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐG
:
TX
:
Thị xã
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 2.1: Tỷ lệ phụ nữ kết hôn với người nước ngoài (năm 2017) ................38
Biểu 2.2: Số vụ bạo lực gia đình được phát hiện ............................................40
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, bạo lực gia đình đã và đang trở thành một vấn đề xã hội nhức
nhối gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng mà trước hết là vi phạm đến quyền
con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ
nữ. Bạo lực gia đình làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp, tác động
xấu đến môi trường giáo dục thế hệ trẻ, ảnh hưởng đến sự an toàn lành mạnh
của cộng đồng và trật tự xã hội.
Theo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt
Nam được Chính phủ Việt Nam và Liên hợp Quốc công bố ngày 25 tháng 11
năm 2010 cho thấy: Hơn một nửa phụ nữ tại Việt Nam đều có nguy cơ bị bạo
lực tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Báo cáo nêu rõ 32% phụ nữ từng
kết hôn cho biết đã trải qua bạo lực thể chất trong cuộc đời và 6% đã trải qua
Tại tỉnh Quảng Ninh, tình trạng bạo lực gia đình còn tồn tại rất nhiều từ
thành thị tới nông thôn, từ công sở tới gia đình, dưới nhiều hình thức khác
nhau. Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu về vấn đề liên quan đến
bạo lực gia đình, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện
đến bạo lực gia đình từ góc độ lý thuyết và thực tiễn, cũng như các phương
pháp can thiệp đặc thù như CTXH nhóm. Thực tế cho thấy, Công tác xã hội
nhóm có vai trò rất quan trọng trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của
bạo lực gia đình.
Với những lý do khách quan như trên, việc lựa chọn đề tài "Ứng dụng
Công tác xã hội nhóm trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực
gia đình (nghiên cứu tại xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh) "
là cần thiết và có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn. Kết quả nghiên cứu sẽ
đóng góp cho hệ thống lý luận về ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực
gia đình, là cơ sở đề xuất các biện pháp giảm thiểu định kiến giới, đồng thời
nhận thức của phụ nữ về xã hội được nâng lên, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới.
6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Bạo lực gia đình là hiện tượng xảy ra ở mọi quốc gia trên thế giới, là
một vấn đề sức khỏe cộng đồng và nhân quyền cơ bản. Từ những thập niên 80
của thế kỷ XX, các nghiên cứu về bạo lực gia đình tăng nhanh ở cả những
nước có thu nhập cao và thu nhập thấp cho thấy tính nghiêm trọng và quy mô
của vấn đề này. Số liệu báo cáo từ nhiều quốc gia cho thấy, bạo lực gia đình
đối với phụ nữ chiếm một tỷ lệ tương đối cao. Theo báo cáo của tổ chức Y tế
thế giới (WHO), ở hầu hết các nước phương Tây, ¼ phụ nữ có nguy cơ bị bạo
lực gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau. Dạng bạo lực được nghiên cứu
phổ biến nhất là bạo lực thể chất. Cụ thể trong báo cáo của Hesei (1994) về
nhập cư Châu Á. Tuy nhiên, còn ít thông tin về phạm vi, tính chất và các yếu
tố văn hóa - xã hội liên quan đến bạo lực gia đình. Tác giả xem xét kỹ lưỡng
một số lĩnh vực: bối cảnh gia đình; tỷ lệ bạo lực gia đình; nguy cơ mắc bệnh
lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS; những hậu quả sức khỏe tâm
thần và thể chất; hỗ trợ xã hội và giúp đỡ những hành vi tìm kiếm; rào cản đối
với việc sử dụng dịch vụ. Nghiên cứu đã làm rõ khá nhiều khía cạnh liên quan
đến khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình xét về
khía cạnh cá nhân và xã hội [20].
Tác phẩm „„Sự thống trị của nam giới” (2010), của tác giả Pierre
Bourdieu có một bài viết với tựa đề „„Cách nhìn của phụ nữ về cách nhìn của
nam giới” khẳng định rằng phụ nữ có một lòng tin đơn thuần về việc cần tuân
thủ một cách vô điều kiện chồng mình. Họ lệ thuộc và suy nghĩ của nguwofi
chồng, điều đó mang lại cho họ cảm giác an toàn hơn. Vì thế, họ có khuynh
hướng ước lượng thành công của mình dựa theo thành công của chồng. Họ tin
vào tình yêu số phận - tình yêu đối với kẻ thống trị và sự thống trị của kẻ đó,
vì thế mà từ bỏ ham muốn thống trị của bản thân [21].
8
Jan E. Saets và Murray a.Straus trong Gender Differences in Reporting
Marital Violence and its Medical and psychological Consequences cho thấy
những tổn thương về mặt tinh thần thường thể hiện ở sự buồn phiền, căng
thẳng và các triệu chứng thần kinh như: sự chán nản, cảm giác tồi tệ, mất hết
giá trị, không còn cảm thấy điều gì thú vị, hoàn toàn mất hy vọng về mọi thứ,
nghĩ đến cái chết và tìm đến cái chết, lo lắng, thấy không có khả năng vượt
qua những khó khăn ngày càng lớn, thấy bản thân không thể đương đầu với
những gì mình phải làm [22].
Năm 1994 với tác phẩm „„Loving to Survice - Sexual Terror Men‟s
Vionlence and Women‟s Live” (Tình yêu đến sự sống - Sự khủng bố tình dục
của người đàn ông và cuộc sống của người phụ nữ), các tác giả
phương Tây đến xã hội phương Đông, từ thành thị đến nông thôn, từ nhóm có
trình độ văn hóa thấp đến nhóm có trình độ văn hóa cao, từ nhóm không có
việc làm đến nhóm có việc làm ổn định. Có thể nói BLGĐ đã trở thành một
vấn đề xã hội nghiêm trọng, phổ biến và có tính toàn cầu [3].
Sau Hội nghị quốc tế về bạo lực trên cơ sở giới tổ chức ở Bali năm
1993 và Hội nghị quốc tế về phụ nữ lần thứ 4 tổ chức tại Bắc Kinh năm 1995,
„„Bạo lực trong gia đình” đã được khẳng định là một chủ đề quan trọng trong
nghiên cứu xã hội phục vụ cho công cuộc phát triển. Trên cơ sở định nghĩa
của Liên hợp quốc về bạo lực đối với phụ nữ, các nghiên cứu về bạo lực gia
đình của Việt Nam đã đưa ra nhiều phân loại khác nhau về các hành vi bạo
lực trong gia đình. Trong đó hầu hết các hành vi đề cập đến bạo lực thể chất
với các tên gọi khác nhau như: ngược đãi thân thể (Vũ Mạnh Lợi và cộng sự,
1999), hay bạo hành thể xác (Lê Phương Mai, 2000; Nguyễn Thị Hoài Đức,
2001), hay cưỡng bức thân thể (Bùi Thu Hằng, 2001). Ngoài ra nghiên cứu
của Lê Thị Quý (2000) và Lê Ngọc Văn (2004) phân loại bạo lực thành hai
loại đó là bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được... Nhìn
chung, các nghiên cứu đều đưa ra kết luận rằng gốc rễ của bạo lực trên cơ sở
giới là sự bất bình đẳng và quan hệ giới [4].
10
Theo báo cáo của Viện khoa học xét xử (Toà án nhân dân tối cao) tại
42 tỉnh trong 5 năm (2000- 2005), các tỉnh đã xét xử 10.608 vụ án hôn nhân
và gia đình, trong đó 42% vụ án ly hôn có nguyên nhân từ bạo lực gia đình.
Các dữ liệu mới công bố của Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình
đối với phụ nữ tại Việt Nam cho thấy hơn một nửa phụ nữ tại Việt Nam đều
có nguy cơ bị lạm dụng tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Nghiên cứu
này do Tổng cục Thống kê thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO). Nghiên cứu khẳng định rằng bạo lực gia đình đối với phụ
nữ ở Việt Nam là một vấn đề nghiêm trọng. Đây là nghiên cứu đầu tiên thu
nhận bạo lực đã xảy ra, coi bạo lực xảy ra là trách nhiệm của mình, sử dụng
rượu hoặc ma túy để trốn tránh hoàn cảnh, vẫn duy trì mối quan hệ với người
gây bạo lực để tránh bạo lực leo thang, châm ngòi bạo lực để tìm cách kiểm
soát tình hình, không trình báo việc bị bạo lực mà chịu đựng trong im lặng,...
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng bạo lực gia
đình cũng như nhu cầu được can thiệp về CTXH nhóm tại xã Hiệp Hòa, thị xã
Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, triển khai ứng dụng hoạt động công tác xã hội
nhóm và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc ứng dụng Công
tác xã hội nhóm nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình đối
với phụ nữ tại địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tác hại của bạo lực gia đình.
-
Khảo sát, đánh giá thực trạng tác hại của bạo lực gia đình đối với phụ
nữ tại địa bàn xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
-
Ứng dụng Công tác xã hội nhóm trong việc ngăn ngừa và giảm thiểu
tác hại của bạo lực gia đình tại địa phương nghiên cứu.
-
Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả can thiệp Công tác xã hội nhóm
ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại xã Hiệp
Hòa, thị xã Quảng Yên?
13
Câu hỏi 3: Làm thế nào để vận dụng Công tác xã hội nhóm một cách
hiệu quả nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình đối với phụ
nữ ở xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Hiện nay, tình trạng bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực
đối với phụ nữ đang diễn ra khá phổ biến, gây bất lợi cho các gia đình tại xã
Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên. Phụ nữ mong muốn được trợ giúp bằng nhiều
hình thức, nhiều hoạt động để bảo vệ quyền lợi của họ.
Giả thuyết 2: Công tác xã hội nhóm đóng vai trò quan trọng trong việc
hỗ trợ, đáp ứng nhu cầu được bình đẳng, được bảo vệ của phụ nữ tại xã Hiệp
Hòa, thị xã Quảng Yên.
Giả thuyết 3: Nâng cao năng lực nhân viên CTXH và nhận thức của
các thành viên nhóm sẽ giúp ứng dụng mô hình CTXH nhóm một cách hiệu
quả nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình trên địa bàn xã
Hiệp Hòa, thị xã Quảng yên.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng trong luận văn nhằm phân
tích, khai thác những tài liệu có sẵn dưới dạng tài liệu viết và tài liệu thống kê.
Phương pháp phân tích tài liệu là một phương pháp quan trọng trong
nghiên cứu của đề tài. Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để đọc, phân
tích và tổng hợp một số tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn
đề bạo lực giới nhằm xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài nghiên
cứu. Các thông tin thu thập được góp phần giải quyết các vấn đề đã đặt ra
trong phần giả thuyết.
phó với các vấn đề của cá nhân, có nghĩa là:
- Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc
năng động nhóm).
- Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến
vấn đề.
15
- Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế
hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ,
niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội
thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề
của mình và thỏa mãn nhu cầu.
Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm để nghiên cứu, phân tích,
xây dựng một số hoạt động công tác xã hội có thể vận dụng với nhóm phụ nữ
bị bạo lực tại xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm các phần: mở đầu, ba chương, kết luận và khuyến nghị
-
Chương I: Cơ sở lý luận về công tác xã hội nhóm với phụ nữ bị bạo lực
gia đình.
-
Chương II: Thực trạng công tác xã hội nhóm trong việc ngăn ngừa,
giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở xã Hiệp Hòa,
thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
-
chế nhất định.
Khái niệm “Công tác xã hội nhóm”
Khái niệm Công tác xã hội nhóm: Là một phương pháp Công tác xã
hội nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua
17
các hoạt động tương tác giữa các thành viên trong nhóm. Các cá nhân sẽ
được đáp ứng nhu cầu và giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động chung
của nhóm [11].
Khái niệm “ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình” là
việc trang bị các kiến thức, kỹ năng cho nạn nhân của bạo lực gia đình để họ
có thể tự nhân diện nguy cơ, dấu hiệu, biểu hiện của người bạo lực, từ đó
giảm hậu quả do người bạo lực gây ra và có các kỹ năng để tự mình thoát
khỏi nguy cơ bị bạo lực.
Khái niệm “Công tác xã hội nhóm trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu
tác hại của bạo lực gia đình” là việc nhân viên CTXH thông qua việc khích
lệ các thành viên trong nhóm, là những người bị bạo lực gia đình, tương tác,
chia sẻ, thực hiện các hoạt động chung của nhóm để từ đó tìm kiếm những
giải pháp trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình đối
với bản thân họ.
Khái niệm “Bạo lực”
Bạo lực được hiểu là “dùng sức mạnh để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật
đổ”. Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị,
nhưng trên thực tế, bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các
quan hệ xã hội nói chung.
Khái niệm “Bạo lực gia đình”
Ở Việt Nam, Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 định nghĩa
“Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có
khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên
điểm của thuyết chức năng - cấu trúc.
+ Xung đột xã hội được xác định là giai đoạn phát triển cao nhất của
các mâu thuẫn trong hệ thống các quan hệ giữa con người với con người, các
tập đoàn xã hội, các thiết chế xã hội và xã hội nói chung, được đặc trưng bằng
19
sự đối lập các lợi ích và quan điểm, được biểu hiện bằng các hành vi đụng độ,
xô xát hữu hình trên thực tế.
- Các dạng xung đột xã hội:
+ Xung đột giữa các quốc gia, các dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, giai
cấp, các nền văn hóa, văn minh,...
+ Xung đột giữa các thành viên trong lãnh đạo,
+ Xung đột giữa các bộ phận trong tổ chức,
+ Xung đột giữa các giới (nam và nữ),
+ Xung đột giữa các thế hệ trong gia đình,
+ Xung đột giữa các thành viên với nhau.
- Nguyên nhân dẫn đến xung đột:
+ Cá nhân: do kỳ vọng khác nhau, sự khác biệt cá nhân, hiểu thiếu
thông tin, vai trò, phạm vi không phù hợp, môi trường, cạnh tranh căng thẳng.
Do sự bất bình đẳng xã hội trong việc phân phối tài sản, quyền lực, danh vọng
và sự phân biệt kỳ thị về chủng tộc.
+ Trong nhóm: Do cạnh tranh nguồn lực, không thống nhất được mục
tiêu, bị lệ thuộc công việc, tranh giành vị trí, khác biệt về nhận thức; sự chênh
lệch về các nguồn lực; do sự mâu thuẫn về lợi ích, quan điểm, gia trị, niềm
tin, văn hóa giữa các thành viên trong nhóm trong quá trình hoạt động; do sự
căng thẳng, áp lực tâm lý từ người khác; do sự phân chia về quyền lợi, cũng
như chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quyền hạn về các nhu cầu hoặc vấn đề
ưu tiên luôn xảy ra giữa các thành viên trong nhóm với nhau; do sự gián tiếp
bị sai lệch thông tin dẫn đến hiểu sai nội dung và dẫn đến hành động sai.
người tư duy duy lí và sự bình đẳng giữa người với người đều được xem xét
theo tinh thần thuật ngữ duy lí; mọi người được quản lí chỉ với sự đồng ý của
chính họ và trong phạm vi giới hạn nhất định, trong đó chính phủ chỉ được
điều tiết lĩnh vực công cộng và không thể hoặc chỉ được phép điều tiết lĩnh
vực riêng tư một cách hạn chế. Những người khởi xướng cho thuyết này là
những người phụ nữ da trắng thuộc tầng lớp trung, thượng lưu trong xã hội,
họ có điều kiện tiếp xúc với tư tưởng tự do.
21